Chuyển đến nội dung chính

Chuyến 'Bắc tuần' đầu tiên của vua Gia Long

Năm 1803, vua Gia Long có cuộc "Ngự giá Bắc tuần" để nhận tuyên phong của nhà Thanh với quốc hiệu Việt Nam.

Chuyến đi kéo dài từ tháng 8/1803 đến tháng 2/1804 (tính theo âm lịch). Kế hoạch là khi nhà Thanh đưa thư nói sứ thần nhà Nguyễn là Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đã đến Yên Kinh, vua Thanh sai án sát sứ Quảng Tây là Tế Bố Sâm sang tuyên phong. Lễ tuyên phong được quy định tại cố đô Thăng Long.
Trước đó, đánh xong quân Tây Sơn, vua Gia Long đã cho Trịnh Hoài Đức vượt biển đem ấn tín nhà Thanh phong cho nhà Tây Sơn sang nộp để báo cáo. Hè 1803, vua lại sai sứ đoàn Lê Quang Định sang xin sắc phong, với ý định xin đặt quốc hiệu là Nam Việt.
Vua Càn Long không đồng ý, do sợ gây nhầm lẫn với nước Nam Việt của Triệu Đà xưa. Vua Gia Long nhiều lần gửi thư biện giải, tỏ ý nếu không chấp nhận quốc hiệu thì không xin thụ phong nữa. Vua Càn Long mới đồng ý, đổi tên thành nước Việt Nam. 
Đại nam thực lục Chính biên, Đệ nhất kỷ viết, vua sai các tướng Nguyễn Văn Trương, Lê Chất, Nguyễn Đức Xuyên đem quân sở bộ và các quân Thị trung, Thị nội, Túc trực, Thần sách đi theo hầu. 
Ngày 4/8/1803, vua bắt đầu khởi hành, ngày 8/8 mới đến Quảng Bình. Ngày 11/8, vua đến Nghệ An, đóng tại Hành cung Hà Trung. Vua dụ rằng dân sở tại sửa đắp đường quan cứ mỗi 15.000 trượng thì cấp cho 10.000 phương gạo, người cung ứng cỏ rơm cho voi ngựa thì mỗi ngày cấp 15 phương gạo. Cầu cống có gãy nát thì dùng quân lính mà sửa chữa, không được huy động sức dân.
Trong dịp này, vua Gia Long sắc cho các xã dân từ Nghệ An ra Bắc, ai có việc đau khổ oan khuất thì cho đến tâu bày. Vì vậy, sử đã chép "Lòng dân vui mừng".
Tới ngày 24/8, vua mới đến hành cung Nghệ An. Lúc này, một người huyện Nghi Xuân là Nguyễn Công Trứ điều trần mười việc, vua sai Bộ Lại duyệt kỹ để tâu. Nguyễn Công Trứ sau này là vị quan nổi tiếng của triều Nguyễn.
Ngày 9/9, vua Gia Long rời Nghệ An, đến ngày 13/9 dừng tại hành cung Thanh Hóa. Vua sai Đặng Đức Siêu đến Nguyên miếu (miếu thờ Trừng Quốc công thân phụ Nguyễn Kim) làm lễ yết cáo sau đó hạ chiếu lấy Gia Miêu ngoại trang, quê tổ phát tích của nhà Nguyễn làm Quý hương, huyện Tống Sơn làm Quý huyện, cho hậu duệ tổ tiên nhà Nguyễn là Nguyễn Hữu Triêm làm Cai đội, Nguyễn Hữu Kỷ làm Đội trưởng coi dân lệ thuộc để phụng giữ việc thờ cúng ở Nguyên miếu.
chuyen-bac-tuan-dau-tien-cua-vua-gia-long
Vua Gia Long. Ảnh tư liệu.
Ngày 9/10, thuyền ngự xuất phát từ sông Chu, vua sai Đốc trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Chương theo hầu, sai Nguyễn Đức Xuyên đem quân bộ đi trước đến Bắc Thành. Thấy binh lính đi hộ vệ từ Phú Xuân ra mệt nhọc, nhà vua cho các binh ốm quê ở Thanh Hoa và Nghệ An về quê an dưỡng; những người quê ở Quảng Bình về Nam thì lưu ở Thanh Hoa điều trị.
Ngày 12/10, vua ra Ninh Bình, thăm núi Dục Thúy. Ngày 16/10, xa giá đến thành Thăng Long. Trong thời gian chờ phái đoàn nhà Thanh đến, vua sai diễn trận pháp của các quân, hoặc đi thăm đê ở Thanh Trì, bàn chuyện giữ đê hay bỏ đê, định lương bổng cho các quan Bắc thành.
Tháng 12/1803 sứ đoàn Lê Quang Định trở về. Tết Giáp Tý, vua Gia Long và phái đoàn tùy tùng ăn Tết tại thành Thăng Long. 
Tháng 1/1804, vua Càn Long nhà Thanh sai Án sát sứ tỉnh Quảng Tây là Tề Bố Sâm đem cáo sắc và quốc ấn đến phong, lại ban cho vua Gia Long gấm đoạn mãng, tức gấm thêu rồng bốn móng, là phẩm phục nhà Thanh ban cho cấp hoàng tử. 
Để đón tiếp sứ đoàn, vua Gia Long phái 3.500 biền binh và 30 thớt voi theo hậu mệnh sứ ở cửa quan để nghênh tiếp, 1.000 biền binh theo hậu tiếp sứ đến địa đầu Kinh Bắc đứng chờ. 
Ngày 13/1/1804, vua làm đại lễ tuyên phong. Hôm ấy sáng sớm, vua sai đặt lễ bộ đại giá ở sân điện Kính Thiên đến cửa Chu tước, bến sông Nhị Hà thì bày nghi vệ binh tượng; sai thân thần Tôn Thất Chương đến công quán Gia Quất, Đô thống chế Phan Văn Triệu, Hộ bộ Nguyễn Văn Khiêm, Tham tri Hộ bộ Nguyễn Đình Đức đến nhà tiếp sứ ở bến sông để nghênh tiếp sứ giả.
Vua ngự ở cửa Chu tước, hoàng thân và trăm quan theo hầu. Sứ giả nhà Thanh là Bố Sâm đến, vào điện Kính Thiên làm lễ tuyên phong. Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành sung việc thụ sắc, chưởng Thần võ quân Phạm Văn Nhân sung việc thụ ấn.
Lễ xong, vua mời Bố Sâm đến điện Cần Chánh, thong thả mời trà rồi lui. Vua Gia Long đặt yến ở công quán Gia Quất, tặng biếu phẩm vật. Bố Sâm nhận lấy the, lụa, vải, sừng tê, kỳ nam, còn dư đều trả lại. Vua sai thu nhận một vài thứ để yên lòng. Bố Sâm tạ từ ra về, vua sai Tôn Thất Chương đưa đi một trạm và quan hậu mệnh hộ tống ra cửa ải.
Ngay sau lễ tuyên phong, vua Gia Long lấy Lê Bá Phẩm làm Tham tri Hình bộ sung chánh sứ sang Thanh, Trần Minh Nghĩa và Nguyễn Đăng Đệ sung Giáp ất phó sứ, đem phẩm vật sang tạ. 
Ngày 21/1, vua rời Thăng Long trở về và ngày 25 tới Thanh Hóa, yết Nguyên miếu, giảm tô thuế 1 phần 10 cho nhân dân từ Nghệ An ra Bắc.
Ngày 8/2/1804, vua về đến kinh sư. Từ lúc này, vua Gia Long công bố quốc hiệu là Việt Nam. Quốc hiệu này được sử dụng suốt thời vua Gia Long và đầu thời vua Minh Mạng. Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838), nhà vua mới xuống chiếu đổi quốc hiệu thành Đại Nam.
Theo sử sách, tên gọi Việt Nam có thể xuất hiện trước thời Nguyễn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của Nguyễn Trãi nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền".
Hai chữ "Việt Nam" còn được tìm thấy trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17. Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). 
Lê Tiên Long
:

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

    Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
    Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
    đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
    thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
    eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
    (bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
    phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

    CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

    Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

    Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

    Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

    Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …