Chuyển đến nội dung chính

Chuyện xưa ở Đại Điền

Nếu ở huyện Giồng Trôm có "Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc" thì ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, có "Bánh dừa Giồng Luông". Loại bánh này được làm bằng gạo nếp, nước cốt dừa, nhân đậu, có khi là nhân chuối. Bánh được gói từ lá đọt dừa nước non, bà con ta gọi là cà bắp, bởi rừng dừa nước ở Thạnh Phú chiếm 50% diện tích dừa nước toàn tỉnh Bến Tre. Không chỉ có chiếc bánh lá dừa được khắp nơi ưa chuộng, xã Đại Điền còn nổi tiếng với nhiều câu chuyện truyền kỳ đến nay còn lưu dấu tích.
Đại Điền từng là nơi diễn ra lễ xuất quân của Tiểu đoàn Anh hùng 307 vang lừng "đánh đâu được đấy, oai hùng biết mấy". Hiện nay, tại trung tâm xã Đại Điền, có bia lưu niệm về ngày lễ xuất quân của Tiểu đoàn 307. Lịch sử của Tiểu đoàn ghi lại rằng Tiểu đoàn 307 là đơn vị chủ lực đầu tiên của Khu 8, cũng là đơn vị cơ động đầu tiên của Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp. Tiểu đoàn được thành lập ngày 1-5-1948 gồm lực lượng của Khu 8 và một bộ phận quan trọng của Trung đoàn 99 Bến Tre hợp thành. Một số cán bộ của Trung đoàn 99 được bổ nhiệm vào Ban chỉ huy Tiểu đoàn 307 như Đỗ Huy Rừa- Trung đoàn phó làm Tiểu đoàn trưởng; Nguyễn Văn Sĩ làm Tiểu đoàn phó; và Hồng Long- Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 99 làm Chính trị viên Tiểu đoàn. Sau 2 tháng tập trung huấn luyện ở Bến Tre, ngày 5-7-1948 Tiểu đoàn 307 đã làm lễ xuất quân tại Giồng Luông (xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú). Sau đó Tiểu đoàn liên tiếp lập nhiều chiến công vang dội ở Long An, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Kiên Giang, Bạc Liêu, Long Châu Hà. Ngày 5-7 hằng năm trở thành ngày truyền thống của Tiểu đoàn 307.
Không chỉ là đất lịch sử, Đại Điền còn là đất của trí thức. Xứ sở này vì ngày xưa đất đai rộng lớn (mới có tên Đại Điền), nhiều người giàu có, nên đầu thế kỷ 20 không ít người cho con đi du học bên Pháp. Trong đó có ông Dương Văn Giáo, đạt bằng Tiến sĩ Luật năm 1926, về nước tham gia hoạt động yêu nước cùng ông Nguyễn An Ninh, viết báo đấu tranh chống đối chính sách cai trị của Pháp ở Đông Dương. Dương Văn Giáo từng là bạn đồng học với nguyên Thủ tướng Ấn Độ Nehru và Hoàng thân Thái Lan Luang Pradit, làm Bộ trưởng trong nội các Thái Lan.
   Nhà cổ họ Huỳnh. Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam
Theo quan niệm xưa, do đất Đại Điền phong thủy tốt, nên có nhiều người giàu có, để lại cho đời những câu chuyện về thời mở đất và công trình kiến trúc nghệ thuật vô giá. Tiêu biểu là ông Hương Liêm, tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843-1927). Ông là người miền Trung di cư vào đây lập nghiệp. Nhờ siêng năng, chuyên cần, lại tiết kiệm, sống giản dị nên dần giàu lên. Tuy giàu có, quyền uy nhưng Hương Liêm có lòng nhân đức. Ông góp tiền của, đất đai để xây dựng nhiều đình chùa ở vùng này. Hiện trong sổ sách nhiều đình, chùa ở đây còn ghi công đức của ông là người sáng lập. Đặc biệt hơn, nhà và khu mộ cổ Huỳnh phủ ở Phú Khánh (xã giáp ranh với Đại Điền) của họ tộc cụ Hương Liêm được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 2011. Công trình được giới chuyên môn đánh giá tiêu biểu cho kiến trúc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Vật liệu làm nhà như cột, kèo, đòn tay… được mua từ Campuchia chở về bằng đường thủy. Qua thời gian có ít nhiều chỗ xuống cấp, nên gần đây được ngành chức năng tỉnh Bến Tre chỉ đạo trùng tu lại.
Trong các địa chủ giàu có ở Đại Điền xưa, Phủ Kiểng (Nguyễn Duy Hinh, 1874-1945) quyền hành cao nhất và đất đai cũng nhiều nhất. Theo tài liệu của Phủ Toàn quyền Đông Dương, ông nhậm chức Đốc Phủ sứ năm 1939 (không viết ở phủ nào). Từng được Pháp trao nhiều huy chương, trong đó có huy chương cao nhất Bắc đẩu Bội tinh. Theo tài liệu thống kê năm 1956, thời Ngô Đình Diệm, đất đai ông và dòng họ có 3.906 mẫu Tây. Giàu có là vậy, ít ai biết hồi nhỏ nhà nghèo, Phủ Kiểng đi ở đợ nhiều nơi. Khi giàu có quyền chức, ông có mười người con đều cho ăn học đến nơi đến chốn. Trong đó có ông Nguyễn Duy Quang du học ở Pháp, Trường Cao đẳng Thương mại. Năm 1935, khi về nước Nguyễn Duy Quang từng làm bí thư, Chánh Văn phòng cho ông hoàng Bảo Đại và từng giữ chức Bố chánh tỉnh Thanh Hóa. Phủ Kiểng để lại ngôi nhà xây dựng năm 1923, theo lối kiến trúc Châu Âu. Vì quá đồ sộ đến ba tầng lầu, nên người dân ở đây đến cuối của những năm 1980 vẫn quen gọi là Thành Phủ Kiểng. Dinh thự này nằm trong khuôn viên rộng 6.000m2, có hàng rào kiên cố, cột đèn bằng bê tông dựng lên dọc hàng rào, hồ chứa nước ngọt âm dưới đất hàng ngàn mét khối, đường dẫn xuống kho lúa rộng lớn, hai cầu thang làm bằng đá hoa cương dẫn lên sân thượng. Trên sân thượng có bể tắm. Ngoài ra, bên hông dinh thự còn có ga-ra xe, trước sân đầy hoa kiểng và vườn cây ăn trái. Vật liệu được mua về từ bên Pháp. Tài liệu xưa cho rằng, dinh thự Phủ Kiểng như dinh Tham biện (tỉnh trưởng), hay tòa Đốc lý của các thành phố lớn. Sau khi đất nước thống nhất, nơi đây được lưu dụng làm Trường Đoàn mang tên Lê Văn Quang của tỉnh Bến Tre.
Nếu khách phương xa tham quan dãy đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre, qua các điểm du lịch như Khu du tích Lịch sử Đồng Khởi ở Mỏ Cày, Chùa Tuyên Linh chừng 10km rẽ trái 2km, thì sẽ tới làng cổ Đại Điền. Ở đây, có những câu chuyện xưa về lịch sử đấu tranh giành độc lập, những con người mở đất, những công trình nghệ thuật kiến trúc đậm văn hóa Nam Bộ và nhiều câu chuyện truyền kỳ hé mở tính cách người phương Nam cũng như một thời hào hoa quá vãng.
PHẠM BỘI ANH THUYÊN
Tài liệu tham khảo:
- Địa chí Bến Tre, NXB Khoa học –
Xã hội Hà Nội – Đoàn Tứ - Thạch Phương – 2001.
- Hứa Hoành - vnthuquan.net.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …