Chuyển đến nội dung chính

Đình Lỗ Hạnh

Trong hệ thống đình ở Bắc Giang, đình Lỗ Hạnh có số tuổi cao nhất hiện nay. So với hệ thống đình cả nước, đình Lỗ Hạnh chỉ đứng sau tuổi của đình Tây Đằng - Hà Nội (Hà Tây cũ). Qua những dòng chữ đề niên đại trên các bức cốn, các nhà nghiên cứu nghệ thuật đã thống nhất xác định, đình Lỗ Hạnh được dựng vào niên hiệu Sùng Khang, thời Mạc, năm Bính Tý 1576.

Đình Lỗ Hạnh thuộc xã Đông Lỗ (huyện Hiệp Hoà). Đình là nơi thờ chung của năm làng: Chằm, Chúng, Khoát, Chùa và Hạnh. Đình ở phía sau khu dân cư, theo truyền thuyết là nằm trên đất lưng rùa, quay hướng Tây, trông ra các đất thế cờ, loa, nghiên, bút.
Mặt bằng đình Lỗ Hạnh bố cục theo kiểu chữ Công, hậu cung mới nối thêm về sau, hai dãy tả vô hữu vu cũng mới thêm vào, nhưng đã bị phá.
Đại đình 5 gian 2 trái với 8 vì kèo, 6 hàng chân cột, cộng lớn nhỏ là 48 cột. Cột đình Lỗ Hạnh vẫn còn dấu vết lỗ mộng của sàn đình đã bị phá vỡ. Nền đình dài 23,5m, rộng 12,3m, chiều cao từ xà nóc xuống là 6,6m, từ diềm mái xuống là 2,1m. Nền đình cao hơn sân 0,7m.
Đình Lỗ Hạnh có kết cấu vì kèo không giống nhau, các vì gian giữa đều theo lối chồng giường giá chiêng, các vì gian bên làm kiểu kẻ chuyền giường giá chiêng. Con giường trên xà nách gian giữa chồng nhau tạo thàn cốn dọc. Con giường chồng trên xà đùi gian hồi thành cốn ngang. Cốn dọc, cốn ngang đều là chỗ trang trí cho các nghệ nhân chạm khắc trổ tài hoa.
Hoa văn chạm khắc đình Lỗ Hạnh không nhiều nhưng khá đặc sắc. Đầu dư chạm rồng như vừa chui từ cột ra, không nhìn thẳng đuỗn mà quay mặt chầu về gian giữa cười ngộ nghĩnh, hả hê. Ngoài ra trong đình còn nhiều hình rồng, đều sừng ngắn, mũi thú, thân dài và mảnh, rõ ràng dấu ấn của rồng thời Mạc. Đề tài con nghê cũng được sử dụng nhiều tư thế ngồi, nằm, bò. Con phượng được chạm với nhiều chất hiện thực, gần với hình con gà chứ chưa bị hoa mỹ như phượng múa sau này. Rồi con hổ đầu quay lại mạnh mẽ, con hươu ngậm cành lộc, con chim đang rỉa râu cho nghê, con cá hoá long.... Tất cả đều đơn giản nhưng vẫn sống động và gần gũi với người xem.
Hình người được chạm khắc trên đình Lỗ Hạnh không nhiều lắm, và thường đơn lẻ chưa thành cảnh sinh hoạt hay các minh hoạ tích truyện. Hình phụ nữ thường được thể hiện mặc áo ngắn ống tay rộng, để lộ cánh tay tròn lẳn mềm mại, ngang lưng thắt bao tết múi trước bụng, đầu khăn buông rủ, áo ngoài không cài khuy để lộ áo trong, váy rộng loà xoà từng nếp. Các nhân vật nữ có mặt, tay và thân rất người nhưng lại thay đổi chân bằng cái đuôi cá. Có cô lại mọc cánh ở vai như cánh chim. Ngoài các vị tiên nữ, tiên cá cưỡi rồng, phượng, lại có thiếu nữ gảy đàn đáy. Nhân vật nam ít chất thần tiên hơn thường cởi trần đóng khố ngồi trên mình rồng, lồ lộ vẻ chất phác, hồn hậu.
Hoa, lá, mây được sử dụng trang trí đều được cách điệu, đơn giản hoá nên ưa nhìn.
Đình Lỗ Hạnh do 2 hiệp thợ phạt mộc và đục chạm. Từ ngày khởi dựng đến nay, đình đã được nhiều lần trùng tu, sửa sang, thêm thắt. Vào thời Nguyễn, ngoài công mộc công nền, đình đã có bàn tay người thợ sơn mài tham gia. Đình Lỗ Hạnh hiện nay vẫn còn giữ được hai bức tranh sơn mài "Bát tiên" gắn ở gian giữa trước cửa hậu cung.
"Bát tiên" thể hiện 8 nàng tiên đứng trên mây toả, mỗi cô mang một thứ nhạc cụ sáo, nhị, đàn tỳ bà, đàn nguyệt. Dáng điệu các cô đứng tự nhiên, thanh thoát. Mặt trái soan hơi quay nghiêng, mắt lá răm, mũi thanh, môi chúm chím. Tách từng cô một cũng thành bức tranh. Để nguyên bốn cô một bên, trông nhịp nhàng như một ban nhạc đang tấu thờ Thánh. Bộ tố nữ tám nàng này không chỉ vẽ bằng mấy màu sơn mỹ nghệ truyền thống: son, vàng, then.... mà còn dùng thêm các màu sơn xanh, xanh lơn, xanh đen, tím, trắng, trắng hồng.... đầy chất hội hoạ.
"Bát tiên" không những là một tác phẩm hội hoạ đáng quý, mà còn là một hiện vật giá trị trong lịch sử sơn mài Việt Nam.

Tuy mang số tuổi thọ cao nhất tỉnh, đình Lỗ Hạnh hôm nay, sau đợt trùng tu lớn gần gây, càng tràn trề sức thanh xuân, đang mở rộng cửa đón khách thập phương tới dâng hương tưởng niệm Phương Dung công chúa và Cao Sơn đại vương, hai vị thần được thờ ở đây, từng có công giúp Hùng Vương đánh giặc.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …