Chuyển đến nội dung chính

Về Bắc Ninh thăm đình Hoài Thượng, nghe chuyện Lưỡng quốc Trạng nguyên

Nguồn: Báo Bắc Ninh

Đình làng Hoài Thượng, xã Liên Bão (Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, nơi thờ “Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo”-một danh nhân nổi tiếng của dân tộc, làm đến chức Tể tướng và thờ tam vị đông quân: Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam-những vị tướng của Hai Bà Trưng đã có công đánh giặc giữ nước.


Đình làng Hoài Thượng là sản phẩm kiến trúc nghệ thuật thời Lê được chạm khắc, đắp vẽ tinh xảo. Trong đình lưu giữ nhiều cổ vật, tài liệu quý như: Thần tích, sắc phong, ngai thờ, sập thờ, kiệu bát cống, câu đối, hoành phi… Đặc biệt tại đình còn bảo lưu được nhiều di bút thơ văn của “Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo” trong văn tế, hoành phi, câu đối...

Theo sử liệu, Nguyễn Đăng Đạo (1651-1719) người thôn Hoài Thượng, tên nôm “Bịu Thượng”. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học khoa bảng. Cha là Tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh, bác ruột là Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo, em ruột Tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuân. Nguyễn Đăng Đạo là người đã chiếm bảng Khôi Nguyên (Trạng nguyên) khoa thi năm Quý Hợi (1683) niên hiệu Chính Hòa thứ tư đời vua Lê Hy Tông. Sau khi đỗ Trạng nguyên ông vào làm ở tòa Đông Các, vì nổi tiếng thơ văn nên được bổ vào làm ở Hàn Lâm Viện. Những năm sau đó, Nguyễn Đăng Đạo tiến nhanh trên con đường quan lộ, ông được thăng các chức vụ: Lại Bộ Hữu Thị Lang, Đô Ngự Sử, Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ, sau làm đến Thượng thư Bộ Lại, Bộ Binh kiêm Bồi tụng rồi phong đến chức Tể tướng triều đình.

Nguyễn Đăng Đạo là quan đầu triều trải qua nhiều chức quan trọng và được tôn vinh là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa, nhà ngoại giao... Cuộc đời làm quan của ông đã hết lòng vì dân vì nước được sử sách lưu danh, dân gian truyền tụng ca ngợi và còn để lại nhiều giai thoại nổi tiếng. Truyền rằng, ông đi sứ sang nhà Thanh, với tài ngoại giao kiệt xuất, sự uyên bác về văn chương, thơ phú, khiến triều đình nhà Thanh phải kính phục tôn vinh là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Ông mất ngày 28-2 năm Kỷ Hợi (1719), được vua Lê Dụ Tông tặng 4 chữ vàng “Lưỡng quốc Trạng nguyên” treo tại đền thờ ông cách đình làng vài trăm mét.

Với quê hương, “Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo” là người có nhiều công lao với làng xã như: khuyến khích nhân dân phát triển kinh tế, làm cầu đường, khuyến học, trùng tu đình chùa, làm thơ, viết chữ treo ở đình chùa nhằm giáo hóa người dân sống theo thuần phong mỹ tục...

Ông Nguyễn Văn Kháng, 77 tuổi, thủ từ đình làng Hoài Thượng cho biết: Theo truyền lại của các cụ xưa thì “Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo” làm tới chức Tể tướng Thượng thư nhưng ông thường xuyên quan tâm đến đời sống dân chúng. Những dịp từ triều đình về quê, ông thăm hỏi khuyến khích việc học hành của dân quanh vùng. Nhân dân làng Hoài Thượng vẫn còn nhớ câu chuyện chia ruộng vua ban cho dân xưa kia. Ông xin lĩnh khu ruộng bỏ hoang đầy lau lách và cỏ dại, xấu nhất gọi là cánh đồng cầu Vực. Sau đó, ông cho các gia đình nghèo khó ra đó phát cỏ, cải tạo để làm thành ruộng cày cấy được. Khi trở thành khoảng ruộng tốt, ông chia hẳn cho các gia đình...

                   Cổng đình thôn Hoài Thượng, Liên Bảo (Tiên Du) được nhân dân đóng góp tu bổ, tôn tạo

Nhân dân quanh vùng còn nhớ ơn Nguyễn Đăng Đạo cứu đói cho dân vào một năm trời làm mất mùa, dân chúng quê ông đói khổ, làng xóm tiêu điều. Thấy vậy ông liền viết thư về khuyên phu nhân phát tiền, gạo cứu giúp người nghèo đói, với lời lẽ cảm động và tình thương dân sâu nặng của vị quan đại thần: “Ta thân danh làm quan đại thần coi việc triều đình không nỡ ngồi nhìn nhân dân ta đói mà không xót thương, phu nhân hãy đem tiền, thóc của nhà ra mà cứu đói, cấp thóc cho dân gieo mạ cấy tái giá”. Nhờ đó mà dân địa phương vượt được bước khó khăn, làm vụ sau bội thu.

Hàng năm vào ngày 12 tháng Giêng, dân làng thôn Hoài Thượng lại tưng bừng tổ chức hội làng nhằm tri ân tới 3 vị tướng quân và Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo để gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa quê hương, đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ về sự hiếu học của “Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo” để giúp ích cho dân cho nước. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với nghi thức rước và tế lễ. Phần hội diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian như: Tổ tôm điếm, đập niêu, chọi gà, hát Quan họ trên thuyền… tạo không khí vui tươi cho nhân dân trong những ngày hội xuân.

Trải qua chiến tranh và sự tàn phá của thiên tai, đình Hoài Thượng không còn được nguyên xưa. Đến nay nhân dân địa phương đã góp công, góp của tu bổ, tôn tạo ngôi đình làng ngày một uy nghiêm. Đây là cách tri ân của hậu thế với các bậc tiền nhân, vừa là nơi giáo dục truyền thống hiếu học khoa bảng cho thế hệ trẻ quê hương, đồng thời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa của dân tộc./
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …