Chuyển đến nội dung chính

Bí ẩn giai thoại "ngôi mộ chôn đứng" của Tổng đốc khét tiếng Nam bộ

Đi dọc theo bờ sông một đoạn, chúng tôi rẽ trái hướng về nghĩa trang nằm trong phạm vi đất thánh của nhà thờ thị trấn Cái Bè (Tiền Giang). Lọt thỏm trong khu dân cư nhưng nghĩa trang buồn và hiu quạnh. Bên trong, những ngôi mộ xếp thành hàng dài đầy rêu phong và hương tàn khói lạnh...

Ngôi mộ chôn đứng
Ở giữa những hàng mộ thẳng tắp đó, còn một bãi đất trống có 4 ngôi mộ được chôn liền kề. Hai mộ nằm sát nhau trên nền đất cao có rào sắt xung quanh. Tiếp đến, một ngôi mộ được xây dựng kiên cố có tấm bia bằng đá cẩm thạch. Duy chỉ có ngôi mộ còn lại chôn một cách khác thường, chôn đứng.
Những người dân ở thị trấn Cái Bè kể, theo lời ông bà truyền lại, ở miền Tây sông nước có 2 ngôi mộ chôn đứng. Ngôi mộ thứ nhất của một người con bất hiếu bị "trời trồng" giữa cánh đồng thuộc xã Khánh Hậu, tỉnh Long An.
Mộ đứng của Trần Bá Lộc
Ngôi mộ thứ 2 được chôn đứng theo lời trăng trối của người chết "chôn đứng để chống mắt nhìn đời" đang sừng sững trước mắt chúng tôi - ngay trong nghĩa trang này. Đó là mộ ông Trần Bá Lộc.
Sự thật về giai thoại này chưa được làm rõ chỉ có điều bia miệng về sự gian ác của Trần Bá Lộc để lại đến nay vẫn chưa hề mai một.
Trần Bá Lộc mất năm 1899. Thi hài người chết được quàn đúng 100 ngày để hàng ngày có người đến viếng, được đãi tiệc heo bò rôm rả. Lúc động quan có lính bồng súng dàn chào đưa tới huyệt.
Người dân Cái Bè không mặn mà với đám tang này bởi khi còn sống Trần Bá Lộc là tay sai cho Pháp và có quá nhiều tội ác với dân mình.
Tấm bia chính ở mặt trước ngôi mộ.
Trải qua hàng trăm năm, những ngôi mộ trong nghĩa trang này trong đó đều là những người thuộc dòng tộc của Trần Bá Lộc vẫn còn nguyên vẹn. Đôi mộ trong hàng rào là của vợ chồng ông Trần Bá Phước - thân sinh thân mẫu của Trần Bá Lộc.
Ngôi mộ nằm kế cận là của Trần Bá Thọ, con trai ông. Nhiều người dân xung quanh kể lại, hiện dòng họ tại Việt Nam không còn ai. Có năm vào dịp Tết, có người ở tận Mỹ Tho về thuê người quét dọn. Vì thế, mộ thì còn đó nhưng người dân không ai màng tới bởi những gì mà họ đã gây ra cho người dân nơi này mãi mãi không thể nào quên được.
Mộ Trần Bá Lộc chôn theo hình tháp. Bốn phía có 4 tấm bia đá ghi bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Trên tấm bia chính có dòng chữ: "Emmanuel Trần Bá Lộc, Tổng đốc Thuận Khánh, membre du Conseil Superieur de l'Indochine, Commandeur de la Legion d'Honneur. Sinh ở cù lao Giêng, tháng 2 năm 1839, mất ở Cái Bè, ngày 20 tháng 10, 1899".
Ở các tấm bia khác có ghi các chiến dịch ông đã tham gia như Mỹ Tho, Tháp Mười, Vĩnh Long, Cambodge, Sa Đéc, Cần Lố, Rạch Giá, Cai Lậy... Qua các chiến dịch này, Trần Bá Lộc tham gia hầu hết các cuộc đàn áp nghĩa binh ở miền Nam.
Ngoài ra, trên bia còn ghi các chức vụ ông đã trải qua trong đó có cao nhất là Tổng Đốc Thuận Khánh và các huy chương mà Pháp đã trao tặng ông mà nổi bậc nhất là Chevalier de la Legion d'Honneur (Bắc đẩu bội tinh).
Trần Bá Lộc - công và tội
Những năm đầu khi Pháp chiếm đóng miền Nam, phong trào Cần Vương nổi lên khắp nơi. Một trong những người theo chân giặc Pháp tàn sát dân tộc mình không ai khác hơn là Trần Bá Lộc.
Trần Bá Lộc (1839-1899) sinh tại Cù Lao Giêng (huyện Chợ Mới, An Giang) trong gia đình công giáo. Năm 1859, thời điểm Pháp tấn công Sài Gòn, ông tròn 20 tuổi. Hàng ngày ông chèo ghe từ cù lao Giêng đến Mỹ Tho bán cá cho Pháp.
Trong khoảng thời gian này, ông kết thân với giáo sĩ Marc rồi 2 năm sau ông chính thức làm việc cho Pháp với chức vụ cai mã tà đóng tại Chợ Gạo (Mỹ Tho).
Cuộc đời làm tay sai cho Pháp của Trần Bá Lộc hanh thông. Tháng 7/1865, ông được cử làm Tri huyện Kiến Phong và quận Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho. Nhờ đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, Trần Bá Lộc được thăng các chức: Tri phủ (1867), Đốc phủ sứ (1868), Thuận Khánh tổng đốc (24/7/1886).
Trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim biên soạn năm 1919 có đoạn: "Trong khi thống đốc Paul Bert xếp đặt mọi việc ở Bắc Kỳ, thì ở Trung Kỳ quân Cần Vương ở các tỉnh vẫn đánh phá. Quân Pháp phải tìm cách mà đánh dẹp cho yên.
Ở mạn Bình Thuận, Phú Yên thì thiếu tá De Lorme và viên công sứ Aymonier cùng với Trần Bá Lộc đem lính Tây và lính ở Nam Kỳ ra đánh dẹp. Trần Bá Lộc dùng cách dữ dội, chém giết rất nhiều bởi vậy đất Bình Thuận không bao lâu mà yên.
Sau đó, Trần Bá Lộc đem quân ra dẹp đảng Văn Thân ở Phú Yên và Bình Định, bắt được cử nhân Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận đem chém. Từ tháng 6 năm Bính Tuất (1886) đến tháng 6 năm Đinh Hợi (1887), thì những tỉnh ở phía Nam đất Kinh kỳ đã dẹp yên".
Trần Bá Lộc (ảnh tư liệu)
Ông Durrwell, một quan chức người Pháp, nhận xét về Trần Bá Lộc như sau: "Lộc đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa, và thẳng tay dùng bạo lực để dẹp các cuộc bạo động.
Dưới con mắt của người Pháp, Lộc là một trong những viên chức Việt Nam ra hợp tác đáng tín nhiệm nhất và là một thí dụ điển hình để những người Việt khác noi gương!".
Những năm cuối đời, Trần Bá Lộc mở thêm mấy con đường ở Cái Bè, đào 103 km kênh trong đó có con kênh dài 47 km nay trở thành ranh giới Vĩnh Long - Sa Đéc và nghiễm nhiên mang tên kênh Tổng đốc Lộc (nay là kênh Dương Văn Dương).
Người Pháp đã thưởng công cấp cho ông 1.000 ha đất ở cù lao Năm Thôn và cù lao Rồng. Ông cũng đã tự khẩn hoang thêm được 750 ha đất và trở thành điền chủ lớn nhất của tỉnh Mỹ Tho.
Dãy mộ ở giữa nghĩa trang theo thứ tự mộ Trần Bá Lộc, mộ Trần Bá Thọ và vợ chồng Trần Bá Phước (trong hàng rào sắt).
Bên cạnh những tội ác mà Trần Bá Lộc đã gây ra cho người dân Việt Nam, công việc đào kênh và hệ thống kênh đào do ông tạo dựng đã đem lại lợi ích to lớn cho cả vùng Đồng Tháp Mười.
Cũng chính nhờ vào hệ thống kênh đào này gồm con kênh chính giúp cho thuận lợi trong giao thương, 10 con kênh phụ dẫn nước tưới tiêu, xả phèn đã khiến cho người Pháp thay đổi quan điểm với Đồng Tháp Mười.
Từ đó, kênh được tiếp tục đào đem nhiều nguồn lợi đến cho bà con trong vùng.
Theo Trần Chánh Nghĩa
Vietnamnet

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …