Chuyển đến nội dung chính

Cuộc đời ly kỳ của ông vua có số phận lạ lùng nhất sử Việt

Hai lần lên ngôi, lấy vợ Tây, có đến 4 người con làm vua, Lê Thần Tông là ông vua có số phận lạ lùng nhất trong lịch sử phong kiến nước ta.
Vua Lê Thần Tông (1607-1662) tên húy Lê Duy Kỳ, là vị vua thứ sáu của thời Lê trung hưng, 17 của nhà Hậu Lê. Ông là con trai trưởng của vua Lê Kính Tông và hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, con của Bình An vương Trịnh Tùng.
Lúc ông sinh ra, nhà Lê chỉ còn trên danh nghĩa, mọi quyền hành ở Đàng Ngoài đều thuộc họ Trịnh, còn Đàng Trong chúa Nguyễn cát cứ.

Hai lần lên ngôi

Lê Duy Kỳ được đánh giá có tướng mạo đế vương với sống mũi cao, mặt rồng. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Vua thông minh, học rộng, mưu lược sâu, văn chương giỏi, đáng khen là bậc vua giỏi, tính trầm tĩnh, khoan dung phúc hậu, có đức của bậc đế vương"
Năm 1619, sau khi ép vua Lê Kính Tông tự tử, Trịnh Tùng lập cháu là Duy Kỳ khi đó mới 12 tuổi lên ngôi vua.
Thời gian ở ngôi của vua Lê Thần Tông cũng là lúc cuộc chiến giữa họ Trịnh và họ Nguyễn ở Đàng Trong bùng nổ. Cả hai họ đều nhân danh "phù Lê" để chống lại nhau. Sau 24 năm làm vua, đến tháng 10 năm Quý Mùi (1643), ông nhường ngôi cho con trai là Lê Duy Hựu (Lê Chân Tông), làm Thái thượng hoàng.
Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Lê Chân Tông lên ngôi, tôn vua cha làm Thái thượng hoàng, Hoàng hậu Trịnh Thị làm Hoàng thái hậu…”. Ở ngôi chỉ được 7 năm, Lê Chân Tông qua đời nên Trịnh Tráng lại đưa Thái thượng hoàng Lê Duy Kỳ trở lại làm vua vào tháng 8/1649.
Trong lần hai này, ông làm vua đến tháng 9/1662 thì qua đời, hưởng thọ 56 tuổi, trị vì 37 năm. Sau khi mất vào năm 1662, vua được táng tại Ngọc Long, xã Quần Lai, huyện Lôi Dương (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa).

Lấy vợ phương Tây

Người vợ chính của vua Lê Thần Tông là bà Trịnh Thị Ngọc Trúc, con gái chúa Trịnh. Ngoài ra, vua còn có 5 thứ phi. Điều lạ lùng là những bà thứ phi của vua thuộc các dân tộc khác nhau như Thái, Mường, Hán, Lào và đặc biệt là người vợ thứ sáu là phụ nữ Hòa Lan (Hà Lan ngày nay).
Người vợ thứ sáu có tên Orona. Đây cũng chính là bà hoàng người châu Âu duy nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam, vốn là con gái của Phó toàn quyền Hà Lan tại Đài Loan.
Cuoc doi ly ky cua ong vua co so phan la lung nhat su Viet hinh anh 1
Vua Lê Thần Tông.
Từ đầu thế kỷ XVII, Đàng Ngoài có khá nhiều kiều dân châu Âu đến làm ăn buôn bán, mở nhiều cửa hàng. Trong chuyến cùng thương đoàn Hà Lan sang Đại Việt năm 1630, bà Orona được gặp vua Lê Thần Tông ở kinh thành Thăng Long. Khi đó, nghe theo lời của bố, bà ở lại làm vương phi ở nước Việt.
Việc vua Lê Thần Tông có một người vợ Tây đã là chuyện đặc biệt. Nhưng, đặc biệt hơn cả là việc cả sáu người vợ của vua đều sống rất hòa thuận với nhau. Tương truyền rằng sáu pho tượng nhập thần của sáu người vợ vua Lê Thần Tông ở chùa Mật Sơn, tỉnh Thanh Hóa là do sáu bà cùng lòng cùng sức bỏ tiền công đức ra làm, với nguyện ước ở bên nhau mãi mãi.
Trong đó, tượng bà Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc ngự trên tòa sen, còn các bà khác đội vương miện trong tư thế tọa thiền. Mỗi pho tượng thể hiện một nét dung nhan khác nhau và thấy rõ trang phục của mỗi bà đúng theo y phục dân tộc của từng người.
Đặc biệt, y phục, váy áo của pho tượng tạc bà Orona, dù là tượng thờ, cổ áo trong vẫn trễ xuống để lộ một mảng ngực và những nét đặc trưng phương Tây như sống mũi thẳng và gồ cao, mặt phương phi.
Năm 1959, năm pho tượng vợ vua Lê Thần Tông đã được rước về đền Nhà Lê - di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp nhà nước, cách chùa Mật Sơn hơn một km, thuộc địa phận phường Đông Vệ. Riêng tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc được đưa về Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Theo các nhà nghiên cứu, Lê Thần Tông là vua duy nhất của các triều đại phong kiến Việt Nam có hai lần lên ngôi và lấy vợ phương Tây. Ông còn lập kỷ lục khi có đến 4 người con đều làm vua gồm: Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông và Lê Hy Tông.
Nguyễn Thanh Điệp

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …