Chuyển đến nội dung chính

Đình làng Bầu (Móng Cái, Quảng Ninh)

Nguồn: Báo Quảng Ninh
Đình làng Bầu (xã Quảng Nghĩa, TP Móng Cái, Quảng Ninh) là công trình lịch sử, văn hoá, tâm linh thể hiện tín ngưỡng tốt đẹp của những cư dân làng biển đi mở đất.


Đình làng Bầu (xã Quảng Nghĩa, TP Móng Cái).

Theo “Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Nghĩa”, làng Bầu (thôn 1 ngày nay) là một vùng đất ven biển đã hình thành từ lâu đời. Cách đây khoảng gần 400 năm, các ông tổ của các dòng họ Đỗ từ Thanh Hoá, họ Phạm từ Hải Phòng, họ Nguyễn từ Hải Dương, họ Hoàng từ Lạng Sơn đã đến định cư tại các xã ven biển vùng Hà Cối, Đầm Hà, Móng Cái. Những cư dân đầu tiên của làng đến định cư đã lập đình thờ thành hoàng làng và phối thờ các vị tiên công mở đất.

Đình làng Bầu còn có tên gọi là đình Hạ Quất Đoài, hay đình Nhan Bầu gọi theo tên cổ của làng được khởi dựng từ năm Bính Thân (1775). Cụ Phạm Văn Thạch, thủ từ của đình, cho biết: Trước kia đình được xây dựng bằng gỗ rất đẹp. Năm 1945, tàu chiến của Nhật bắn phá làm đình hỏng nặng. Sau này, đình được xây lại gồm 3 gian tiền đường và 3 gian trung đường. Đình được xây móng bằng đá, tường bằng gạch đặc, mái lợp ngói âm dương. Năm 1956, đình được tu bổ lại và xây thêm hậu cung như hiện nay. Đình có diện tích 79,2m² gồm 3 gian tiền đường rộng 51m² và 1 gian hậu cung rộng 29m2. Tiền đường hai hồi bít đốc, đắp nóc, mái lợp ngói âm dương, mái hiên ở giữa có cuốn thư. Gần đây, đình được sửa chữa, tu bổ nhiều lần vào các năm 1997, 2006 và 2008.

Đình làng Bầu phối thờ thần Cao Sơn đại vương tôn thần, Hưng Đạo Đại vương, Thuỷ Chung Quảng tế chi thần. Đình còn thờ các nhân thần là cụ tổ của 5 dòng họ Đỗ, Phạm, Nguyễn, Hoàng, Bùi (trong đó có 3 người còn rõ danh tính là cụ Đỗ Quý Công, cụ Phạm Pháp Đình, cụ Nguyễn Pháp Công) đều là những người có công lao trong việc khai khẩn đất đai lập lên làng Bầu xưa. Nhân dân làng Bầu còn xin chân hương ở bát hương các anh hùng dân tộc Trần Quốc Tảng, Phạm Ngũ Lão, Lê Đức Di của đền Côn Sơn (TX Chí Linh, tỉnh Hải Dương), đền Cửa Ông (TP Cẩm Phả) về thờ trong đình.

Đình làng Bầu là nơi diễn ra và chứng kiến những sự kiện lịch sử của địa phương trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Thời kháng chiến chống Pháp, đình là trụ sở của chính quyền cách mạng của xã, nơi hội họp của các cán bộ công tác ở các huyện miền duyên hải như: Móng Cái, Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên; nơi cất giấu lương thực, thực phẩm để ủng hộ kháng chiến, là nơi đón tiếp và nghỉ chân của các đoàn dân công hoả tuyến đi phục vụ các chiến dịch. Đình làng Bầu cũng là địa điểm chứng kiến lời tuyên thệ và tiễn đưa 171 người con của làng lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong số đó không ít người đã hy sinh.

Lễ hội đình làng Bầu được tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng Giêng. Phần Lễ gồm: Lễ cáo yết, lễ nghênh thần, rước thần về đình, lễ an vị thành hoàng (nhập thần), lễ dâng hương, lễ tế thành hoàng, lễ cầu ngư và lễ tống thần. Phần Hội có hát, múa cửa đình (hát nhà tơ, múa hương, múa hoa, múa dâng đèn), mừng thần, mừng dân, ca ngợi thần, ước nguyện của nhân dân; các cụ cao niên hát bổng, hát đối; trai thanh, gái lịch thì hát các làn điệu dân ca như: Trống quân, sa mạc, và tham gia nhiều trò chơi dân gian như: Kéo co, đẩy gậy, nhảy bao bố, đấu vật, đi cầu thùm, tổ tôm điếm v.v..

Đình làng Bầu đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2012. Ông Lương Tiến Dũng, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã, cho biết: Chúng tôi sẽ hỗ trợ phát triển hoạt động của CLB Hát Nhà tơ, hát - múa cửa đình của xã gắn kết với hoạt động lễ hội đình làng Bầu. Việc tổ chức lễ hội, giữ gìn và phát huy hát nhà tơ, hát - múa cửa đình, phát triển bản sắc văn hoá sẽ tạo thêm động lực để phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …