Chuyển đến nội dung chính

Kỳ thi tốt nghiệp thời Pháp diễn ra như thế nào

Cuối mỗi cấp học đều có những kỳ thi được tổ chức quy củ, tốt nghiệp học sinh có thể mang bằng đi xin việc tùy theo trình độ.

Cuối thế kỷ 19, trường tiểu học được thiết lập tại mỗi lỵ sở địa hạt (sau này là tỉnh). Cuối bậc tiểu học (năm thứ ba), học sinh toàn quản hạt được sát hạch. Học trò trường tư được dự sát hạch với điều kiện ghi tên trước ở nơi dự thi.
Tốt nghiệp tiểu học có thể đi làm công chức
Kỳ sát hạch tiểu học gồm hai phần, viết và vấn đáp. Các đề thi viết đều do Ủy ban thường trực giáo dục công cộng gửi từ Sài Gòn. Mỗi thành viên của Ủy ban này sẽ chủ tọa lần thi vấn đáp ở các trường, hiệu trưởng và giáo viên phối hợp tham gia. Bài làm được đưa về Ủy ban chấm và công bố kết quả, xếp hạng trên Gia Định báo. 
Thí sinh đỗ sẽ được cấp chứng chỉ, có thể xin làm công chức cấp dưới trong các cơ quan thuộc quản hạt với mức lương vài trăm Francs mỗi năm. Ai giành thứ hạng cao có thể làm đơn xin vào học trường trung học bản xứ Sài Gòn. 
ky-thi-tot-nghiep-thoi-phap-dien-ra-nhu-the-nao
Học sinh tiểu học ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu
Ngày 9/1/1878, kỳ thi tốt nghiệp theo phương thức mới được áp dụng chung cho học sinh tiểu học khắp xứ Nam Kỳ. Hai trường được đăng cai tổ chức kỳ thi này gồm tiểu học Sài Gòn dành cho thí sinh thuộc hạt miền Đông và tiểu học Vĩnh Long cho thí sinh các hạt thuộc tỉnh Định Tường cũ và ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).
Học sinh tư thục muốn dự thi phải làm đơn gửi viên tham biện địa hạt nơi đặt điểm thi, có xác nhận của tham biện địa phương về trình độ kiến thức. Thí sinh đủ điểm được cấp bằng tốt nghiệp, có thể xin việc làm công chức cấp dưới.
Theo chương trình Pháp - Việt, học sinh tốt nghiệp trung học (cấp hai) được cấp bằng khả năng, có thể xin làm giáo viên với mức lương 600 Francs hoặc thông ngôn, phụ tá thư lại hạng nhất với lương 1.000 Francs mỗi năm. Người điểm cao được xem xét cho sang Pháp học.
Năm 1879, khi thống đốc Nam Kỳ ban hành nghị định cải tổ nền giáo dục Nam Kỳ, Ủy ban giáo dục công cộng sẽ lo ba kỳ thi sát hạch ở từng cấp học. Mỗi kỳ thi vẫn duy trì hai phần, viết và vấn đáp như trước đây.
Nếu ở cấp một, thi vấn đáp sẽ diễn ra trước hội đồng gồm đại diện giám đốc Nha nội chính (chủ tịch) và hai hội viên là những giáo sư thì cấp hai và ba, phần thi này căng thẳng hơn. Ngoài chủ tịch hội đồng là đại diện giám đốc Nha nội chính, các thành viên sẽ là hiệu trưởng và nhiều giáo sư.
Học xong cấp hai, nếu học sinh đạt kết quả trong kỳ thi vào trường cấp ba thì được cấp bằng cơ bản, có thể xin làm công chức bậc dưới trong cơ quan nhà nước với ngạch học sĩ, thông ngôn, thư ký hành chính, giáo viên hạng thấp nhất (ngạch tư học)...
Nếu học tiếp cấp ba và tốt nghiệp, học sinh được cấp bằng cao đẳng (còn gọi là cao học), có thể đi làm thông ngôn, thư ký, học sĩ chính ngạch hoặc giáo viên bản xứ.
Học ở Việt Nam lấy bằng tú tài bản xứ tương đương tú tài Pháp
Khi chương trình học chính Pháp - Việt (1917-1945) được thiết lập, các khoa thi tổ chức bài bản, nghiêm ngặt hơn. Bằng tú tài được nhiều người mơ ước bởi Pháp quan niệm nó vừa là bằng tốt nghiệp chương trình phổ thông, vừa là cấp bậc đại học đầu tiên. Người có bằng tú tài có thể ghi danh theo học lên cao ở các trường cao đẳng, đại học. 
ky-thi-tot-nghiep-thoi-phap-dien-ra-nhu-the-nao-1
Học sinh theo chương trình trung học, có thể thi lấy bằng tú tài bản xứ đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu
Với chương trình Pháp bản xứ, bằng cơ bản (dành cho học sinh trên 16 tuổi học xong trung học) và bằng cao đẳng được coi tương đương với bằng tú tài Pháp. Hồi đó, ở Sài Gòn có Chasseloup Laubat, ở Hà Nội có Albert Sarraut dạy tú tài Pháp, năm 1935 có thêm Lycée Yersin Dalat. Chương trình ở các trường này chủ yếu dành cho học sinh Pháp và một số con nhà giàu người Việt.
Ở chương trình Pháp bản xứ, học sinh học hết lớp đệ nhị niên (tương đương lớp 11 ngày nay) được lấy bằng tú tài phần một. Có bằng này mới được học tiếp lớp đệ nhất niên (lớp 12), rồi kết thúc để thi lấy bằng tú tài toàn phần.
Ban đầu trường Pétrus Ký (Sài Gòn) và trường Bưởi (nay là THPT Chu Văn An, Hà Nội) dạy chương trình tú tài bản xứ. Do nhu cầu của nền hành chính thuộc địa cần những chuyên viên cao cấp từ tú tài trở lên, nhiều tỉnh thành như Hải Phòng, Huế, Quy Nhơn... mở thêm lớp trung học, luyện thi tú tài.
Chương trình học và thi tú tài bản xứ rất khó, ngoài học triết, toán, khoa học giống tú tài Tây còn phải học thêm văn chương, triết học Việt Nam, Đông Dương, Cận Đông, Viễn Đông...
Nhiều học sinh sau khi lấy bằng thành chung (tốt nghiệp cao đẳng tiểu học) thì học thêm một năm nữa là thi đậu tú tài Pháp, đủ để sang Pháp du học mà không cần học hết ba năm trung học bản xứ (tú tài). Từ sự thuận lợi này mà ít năm sau không mấy người theo học đủ chương trình tú tài bản xứ.
Năm 1930, Pháp ban bố sắc lệnh các bằng tú tài bản xứ có giá trị tương đương tú tài chính quốc. Người có bằng tú tài bản xứ được vào các đại học ở Đông Dương, Pháp nhưng phải thông qua thống sứ Bắc Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống đốc Nam Kỳ, toàn quyền Đông Dương hoặc Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Paris.
ky-thi-tot-nghiep-thoi-phap-dien-ra-nhu-the-nao-2
Trường Bưởi (Hà Nội), nơi dạy chương trình tú tài bản xứ đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu
Sau tháng 8/1945, người Pháp quay lại tái chiếm Sài Gòn rồi đánh lan ra khắp Nam Kỳ để lập lại chế độ thuộc địa. Gặp sự phản kháng mạnh mẽ từ người dân, Pháp không thể thiết lập nền cai trị trọn vẹn, trong đó có giáo dục. Khoảng hai năm sau đó, Pháp mới khởi động tổ chức việc học, bằng việc thu nạp học sinh, mở thêm nhiều lớp ở các trường trung học có sẵn để cấp bằng tú tài.
Mạnh Tùng  

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …