Chuyển đến nội dung chính

Tàu thủy hơi nước của người Việt


Tàu thủy hơi nước của hải quân Pháp cùng thời với những chiếc tàu thủy hơi nước đầu tiên của VN /// Ảnh: T.L
Tàu thủy hơi nước của hải quân Pháp cùng thời với những chiếc tàu thủy hơi nước đầu tiên của VNẢNH: T.L
Từ năm 1839 đã có hai người VN chế tạo được tàu thủy chạy bằng hơi nước. Rất tiếc nhiều sách không thấy ghi công trạng của hai nhân vật lỗi lạc này.
Vua Minh Mạng muốn phát triển công nghiệp đóng tàu
Trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả rất kỹ phương tiện vận chuyển của tàu chiến Pháp: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”. Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: “Bòng bong: vải hoặc đệm buồm may màu trắng, làm một bức, kéo lên mà che nắng, thường dùng cho ghe thuyền”; “Trắng lốp: trắng bong, trắng quá”. Rồi đọc tiếp, lại thấy: “Kẻ đâm ngang, người chém dọc làm cho mã tà ma ní hồn kinh; người hè trước kẻ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ”. Những từ như tàu sắt, tàu đồng cho thấy thuyền của giặc Pháp lúc bấy giờ đã hiện đại và tất nhiên chạy bằng động cơ hơi nước, do đó mới có “ống khói chạy đen sì”.
Sách Quốc triều chánh biên toát yếu của Quốc Sử quán triều Nguyễn có ghi lại: “Tháng 4 năm Kỷ Hợi (1839), ngài (Minh Mạng) ngự chơi cầu Bến Ngự, xem thí nghiệm tàu chạy máy hơi. Khi trước Sở Võ khố chế tạo tàu ấy, đem xe chở ra sông, giữa đường vỡ nồi nước, máy không chạy, người đốc công bị xiềng, quan bộ Công là Nguyễn Trung Mậu, Ngô Kim Lâu, vì cố tâu không thật đều bị bỏ ngục. Bây giờ chế tạo lại, các máy vận động lanh, thả xuống nước chạy mau, ngài ban thưởng người giám đốc là Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh mỗi người một cái nhẫn pha lê độ vàng, một đồng tiền vàng Phi Long hạng lớn. Đốc công và binh tượng được thưởng chung 1.000 quan tiền. Ngài truyền rằng: “Tàu này mua bên Tây cũng được, nhưng muốn cho công tượng nước ta tập quen máy móc cho khéo, vậy nên chẳng kể lao phí gì”. Tháng 10, lại chế thêm một chiếc tàu máy lớn, phí tổn hơn 11.000 quan tiền. Ngài truyền bộ Hộ rằng: “Ta muốn công tượng nước ta đều biết tập nghề máy móc, vậy nên không kể phí tổn” (NXB Thuận Hóa - 1998, tr.300).
Có thể, Hoàng Văn Lịch và Võ Huy Trinh giỏi nghề, có nghị lực, có tinh thần trách nhiệm nên mới dám đứng ra cáng đáng công việc, và họ đã hoàn thành một cách xuất sắc. Từ thành công này, qua năm sau (1840) hai ông “giám đốc” này đã cho xuất xưởng thêm ba chiếc tàu chạy bằng hơi nước nữa. Vua Minh Mạng hài lòng lắm, ngài đặt tên “chiếc lớn gọi là Phi Yến, chiếc vừa là Vân Phi và chiếc nhỏ là Vũ Phi”.
Cử người đi học nghề đóng tàu
“Ngoằn ngoèo mặt biển khói mù đen/Đích thị quân Tây diễu hỏa thuyền/Hư thực lòng Tây còn chửa rõ/Ngàn trùng khắc khoải dạ nào yên” (Khương Hữu Dụng dịch) - đây là nỗi lòng ưu tư của nhà nho cấp tiến Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), một nhà cải cách theo Phan Bội Châu là: “Một trong những người trồng cái mầm khai hóa đầu tiên ở VN”. Năm 1865, khi đi công cán với nhiệm vụ “Thám phỏng Dương tình” - thăm dò, xem xét tình hình ở nước ngoài, lúc đến Hương Cảng, ông Trứ đã viết bài thơ trên. Và chính ông là người tác động vua Tự Đức cử người đi học về nghề đóng tàu hiện đại.
Trong lời tiểu dẫn: “Chép lại việc nước ta mới đóng chiếc tàu lớn bằng đồng có máy ngầm”, ông Đặng Huy Trứ kể lại ngọn ngành, tựa như Đại Nam thực lục của triều Nguyễn đã ghi chép. Xin tóm lược: Tháng giêng 1865, vua Tự Đức sai quan bộ Công là các ông Hoàng Sưởng, Lê Bân và 9 người thợ vào Gia Định “trình lên Súy phủ Tây dương xin học tập kỹ thuật chế tạo máy tàu thủy”. Họ đồng ý nhưng mỗi ngày chỉ cho vào nhà xưởng tham quan chừng 2 tiếng đồng hồ rồi về. Học như vậy, chẳng khác gì cưỡi ngựa xem hoa, nản quá nhưng những người đi học chẳng biết làm sao. Độ tháng sau có người Anh tên là Vị Sĩ Lặc đến nơi này, ông Hoàng Sưởng than phiền và kể rõ nội tình. May quá, ông này đồng ý dẫn họ qua Hương Cảng học nghề, phiên dịch đi theo là ông Nguyễn Đức Hậu. Ngày 2.7.1865, khi công cán sang đây, ông Đặng Huy Trứ có đến gặp họ và viết: “Ở đấy mấy ngày thấy bọn ông Sưởng tận tâm học tập, tôi rất mừng”.
Điều thú vị là ông Trứ được mời lên tàu do nhóm ông Sưởng chế tạo để chạy thử, ông kể: “Chạy vòng qua các hòn núi trong vịnh, trông lên bờ thấy cây bay, núi chạy rất là nhanh. Hôm ấy cùng chứng kiến có lãnh sự nước Anh, những người có thế lực, người Tây, người Thanh (Trung Quốc) rất đông, đều hết lời khen: Nước Nam tự cường, tự trị nay đã thấy một phần”. Bấy giờ, ông Trứ “bèn xét hành lý có sẵn, biếu ông Hoàng Sưởng một cái áo lương thuần tơ, màu lam rất quý; ông Lê Bân 1 lạng bạc; ông Vị Sĩ Lặc 1.000 hạt sen, 8 lạng yến sào; chia cho những người thợ 1 lạng vàng”.
Sự kiện này đã tạo ra nguồn cảm hứng văn chương cho ông Đặng Huy Trứ; và có lẽ, đây cũng là bài thơ trước nhất ca ngợi tài trí đóng tàu chạy bằng hơi nước của người Việt. Ông Trứ thổ lộ: “Cái vui mừng không ngờ tới và khó nói hết với ai được, nên làm bài thơ này ghi lại: “Nồi hơi, ống khí khéo làm sao/Chớp mắt mây bay, núi chạy nhào/Ngựa nước, phút đi trăm dặm thẳng/Rồng vàng, chốc đã mấy vòng lao/Ngoại phòng, chắc đã kinh hồn giặc/Nội trị đều khen có chước cao/Cửa bể Thuận An về chạy thử/Mặt rồng hớn hở biết dường bao” (Bồ Giang dịch).
Thật vậy, ngày 13.9.1865, chiếc tàu này về đến cửa Thuận An (Huế), vua Tự Đức đặt tên Mẫn Thỏa, và nó được sử dụng đi đánh dẹp giặc biển. Rồi năm 1866, nhà vua lại sai đóng tàu Thuận Tiệp, năm 1870 đóng tàu Đằng Huy... Chắc chắn về chiếc tàu chạy bằng hơi nước thuộc “hàng VN chất lượng cao” đã khiến vua Tự Đức hào hứng, mãn nguyện lắm. Trước đó, trong bài Ký tầu Ngũ Lợi, ngài cho biết: “Nước Pháp tặng ta 5 chiếc thuyền máy, đặt tên là Ngũ Lợi” và phân tích năm điều lợi của nó, chẳng hạn: “Dùng toàn bằng đồng gang vỏ sắt, chế thành nồi đồng, trục máy, vận dụng nước và lửa làm thành ra hơi nước bốc lên, quay máy cán nước, làm cho thuyền chạy đi, không cần dùng đến cánh buồm mái chèo, cùng sức người sức gió mà thuyền vẫn rẽ nước chạy mau là một điều lợi” (Tự Đức thánh chế văn tam tập - Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản năm 1973 tại miền Nam, tr.225). Nay, người trong nước cũng đã đóng được, “Mặt rồng hớn hở biết dường bao” là lẽ tất nhiên.
Đọc lại những gì sử sách đã ghi, tất nhiên lòng mỗi người Việt chúng ta cũng tự hào không khác gì tâm thức người xưa. Tiếc rằng, tài liệu chỉ có thế, không biết thêm gì hơn và lấy làm đáng tiếc vì không thể trả lời được câu hỏi mà trước đây nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu đã nêu ra: “Các tàu lớn, vừa, nhỏ dài rộng là bao nhiêu, trọng tải bao nhiêu tấn, chạy bằng nồi xúp de nhưng có cánh quạt hay có guồng, tốc độ bao nhiêu, có thể mắc súng được không và có thể chở được bao nhiêu binh sĩ, ra biển có thể lênh đênh được bao nhiêu ngày mới phải cập bến để ăn than?” (Quốc sử tạp lục, NXB Cà Mau - 1994, tr.276).
Lê Minh Quốc

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …