Chuyển đến nội dung chính

Bí mật về tên gọi của 5 điểm đến nổi tiếng Sài Gòn

Trải qua thăng trầm thời gian, những cái tên thân quen gắn liền với người Sài Gòn vẫn còn giữ nhiều câu chuyện thú vị.
Bến Nghé

Trước đây, Bến Nghé là tên gọi để chỉ một bến thuyền ở Sài Gòn, còn là tên của một rạch nước nhỏ, nơi có người dân qua lại tấp nập. Theo cuốn “Phương Đình du địa chí” năm 1900, Nguyễn Văn Siêu đã lý giải tên gọi Bến Nghé có xuất phát từ tiếng kêu gầm gừ của đàn cá sấu trên rạch. Theo ông, tiếng kêu của đàn cá sấu văng vẳng trên rạch giống tiếng trâu nên có thể hiểu là “nghé” kết hợp với “bến nước”. Trong cuốn “Đại Nam thống nhất chí” ở mục “tỉnh Gia Định” cũng có ghi chép tương tự. Ngoài ra, học giả Trương Vĩnh Ký cho rằng tên địa danh Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer. Còn nhà địa danh Lê Trung Hoa cũng lý giải đó là tên gọi của bến nước kết hợp với tên thú. Ảnh: Flickr.
 
Ngày nay, tên gọi Bến Nghé được dùng cho một phường ở quận 1. Khu vực này hiện nay thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước bởi phố đi bộ Nguyễn Huệ với nhiều hoạt động. Ảnh: Phong Vinh.
 
Hồ Con Rùa

Thời điểm xây dựng Hồ Con Rùa còn chưa chính xác, song trong một số tài liệu ghi chép lại thì công trình này được xây năm 1965 – 1967. Theo kể lại, vị trí của Hồ Con Rùa và Dinh Độc Lập có liên quan mật thiết với nhau. Nhiều lý giải theo phong thủy cho rằng vị trí xây dựng của Dinh Độc Lập nằm trên đầu của một con rồng đang nằm ngủ, gọi là Long mạch. Còn vị trí đuôi rồng nằm ở khu vực Hồ Con Rùa.

Vì lý do đó, việc xây dựng Hồ Con Rùa ở vị trí đuôi rồng với hy vọng con rùa nặng nề và là một trong tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) có khả năng trấn giữ đuôi rồng, không cho rồng vùng vẫy khi thức dậy, với ý nghĩa bảo vệ đất Sài Gòn của người xưa. Hình dáng tháp cao này giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng. Ảnh: Flickr.
 
Ngày nay, Hồ Con Rùa có tên gọi chính thức là Công trường Quốc tế. Nơi đây không chỉ là nút giao của các tuyến đường Phạm Ngọc Thạch, Võ Văn Tần và Trần Cao Vân mà còn là nơi tập trung nhiều các nhà hàng, quán cà phê, công viên, gần các điểm du lịch nổi tiếng khác như Bưu điện Thành phố, Nhà thờ Đức bà. Chính vì vậy, dù không có một con rùa nào trong hồ nhưng Hồ Con Rùa vẫn là điểm đến thu hút đông đảo du khách. Ảnh: Phong Vinh.
 
Thị Nghè

Không một người Sài Gòn nào không biết đến cây cầu bắc ngang qua khúc kênh Thị Nghè nổi tiếng nối liền quận 1 và quận Bình Thạnh. Theo quyển “Gia Đình thành thông chí” – mục “Trấn Phiên An” được viết bởi Trịnh Hoài Đức, vào năm 1820, Thị Nghè là tên gọi của người dân địa phương đặt cho bà Nguyễn Thị Khánh và cũng là tên được đặt cho cây cầu được bà xây dựng. Người dân kính trọng bà vì công khai hoang đất đai và bắc cầu đi lại qua sông cho dân chúng. Bà còn là vợ của một thư ký lúc đương thời, là trưởng nữ của quan Khâm sai Chánh thống Vân Trường Hầu Nguyễn Cửu Vân. Ảnh: Flickr.
 
Ngày nay, đến khu vực Thị Nghè du khách sẽ có cơ hội khám phá thành phố qua tuyến du thuyền ở cạnh cây cầu . Du khách sẽ không chỉ được nghe thuyết minh về lịch sử của thành phố, thưởng thức đờn ca tài tử mà còn được dịp ngắm khung cảnh hai bên bờ với nhiều công trình kiến trúc lịch sử độc đáo. Ảnh: Phong Vinh.
 

Du thuyền ngắm Sài Gòn từ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Video: Phong Vinh – Thanh Tâm.
 
Lăng Ông – Bà Chiểu

Mỗi khi nhắc đến Lăng Ông – Bà Chiểu, nhiều người vẫn thường nghĩ rằng nơi này là lăng thờ hai người có tên Chiểu, nhưng thật ra khu đền này là nơi thờ Tả Quân Lê Văn Duyệt. Có rất nhiều lý do để lý giải cho cái tên của khu đền thờ. Theo lời kể lại rằng, bởi vì tục kiêng cữ tên mà khu lăng thờ Ông được ghép với tên ngôi chợ Bà Chiểu cạnh bên, trở thành Lăng Ông – Bà Chiểu. Ảnh: Flickr.
 
Với diện tích 18.500 mét vuông, khu đền mộ có 3 công trình chính: nhà bia, lăng mộ và miếu thờ. Nơi đây còn là nơi thờ các vị Thiếu phó Lê Chất, Kinh lược Phan Thanh Giản và các “Anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân”. Năm 1989, toàn bộ khu lăng mộ được Bộ Văn hóa công nhận là di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia. Ảnh: Phong Vinh.
 
Thủ Thiêm

Trước đây, vùng Nam bộ khá phổ biến với tên gọi địa danh bắt đầu bằng từ “thủ” được kết hợp với tên riêng của những người cai quản đất đai, hoặc từ có ý mô tả địa danh đó. Tên gọi Thủ Thiêm đã xuất hiện từ cuối thế kỷ 18. Người ta lý giải rằng, “thủ” là đồn canh thời phong kiến và cũng là chức vụ để chỉ người đứng đầu một tổ chức, đơn vị hành chính nào đó; và có thể do người chỉ huy đồn binh tên Thiêm nên dân gian quen gọi đồn binh đó là Thủ Thiêm. Ảnh: Flickr.
 
Hiện nay, khi nhắc đến cái tên này, người Sài Gòn, đặc biệt là các bạn trẻ sẽ nghĩ ngay đến khu đô thị mới bên đường hầm vượt sông Sài Gòn. Nơi này là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai muốn trốn khỏi những ồn ào của phố thị để tìm đến khoảng không rộng rãi và thoáng mát vào những buổi chiều. Ảnh: Phong Vinh.
 
Phong Vinh  

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …