Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

Lễ hội đình làng Bồ Bản xã Hoà Phong

Từ chợ Túy Loan, nơi có miếu thờ Ông Ích Đường đi về hướng nam chừng ba trăm mét, gặp quốc lộ 14, nơi lượn một đường cung rồi chạy thẳng vào địa phận xã Hòa Khương.[1][1] Từ đường kênh ấy theo đường kênh về hướng đông chừng một ngàn mét là đến trung tâm làng Bồ Bản (thuộc xã Hòa Phong, Huyện Hòa Vang, Đà Nẵng). Nơi đây có một ngôi đình làng cổ. Đây là một công trình lịch sử - văn hóa nghệ thuật cổ kính kiến trúc đặc trưng thế kỷ thứ XIX.
                Theo tộc phả của các dòng họ Trần, Hồ, Trương, Nguyễn là những họ tiền hiền của làng còn lưu lại, ức đoán năm 1476 (có thể những năm cuối thế kỷ thứ XV), làng Bồ Bản được hình thành sau quá trình vượt núi, băng sông từ Bắc vào Nam lập nghiệp, khai khẩn, canh tác, định cư.Về sau, góp phần xây dựng làng Bồ Bản còn có các tộc họ: Tán, Đinh, Nguyễn, Phạm, Hồng, Dương, Huỳnh... cả thảy mười chín chư phái tộc đến với làng vào thời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1470) là hậu duệ của làng.Thời ấy kinh tế của làng chủ yếu là nông nghiệp lúa nước, dân làng dựa vào sức lực, khai canh cánh đồng Bồ Bản lấy nước từ sông Yên đổ vào đồng tưới tiêu cho ruộng lúa và các loại hoa mùa. Họ bạt đồi lấy đất làm nhà. Cuộc sống ngày càng trù phú, tre được trồng lên bao bọc lấy làng tạo nên vẻ đặc trưng của làng người Việt. Từ đấy cuộc sống tinh thần cũng thanh thản hơn, nhu cầu sinh hoạt thông qua các lễ hội được đặt ra. Hơn thế, nhớ ơn, thờ kính các vị có công khai phá, lập nên làng Bồ Bản luôn được đặt ra cho mỗi người dân sống trong làng mà trước hết là đối với các vị đứng đầu làng. Do đó, nhu cầu xây dựng một ngôi đình cho làng được đem ra bàn bạc.
                Năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh (1800), đình được khởi công xây dựng. Ban đầu đình được làm bằng tranh, tre, nứa lá tại Gò Miếu, nơi có miếu thờ ba vị thần (tam lão sử), nhân dân trong làng gọi tắt là miếu Tam vị [2][2]. Bước đầu đình làng đáp ứng được một bước nhu cầu thờ kính, nơi tổ chức các lễ hội, tổ chức tế lễ xuân thu hằng năm của dân làng. Đình còn là nơi hội, họp khi cần thiết.
                Đến đời Tự Đức thứ V năm Nhâm Tý (1852), nhu cầu phát triển làng xóm nâng cao dần, dân đinh, dân tráng đông lên, đình tranh tre tại miếu Tam vị trở nên chật, lại thấp do tọa lạc trên nền đìa Cầu bàu Thị, cứ về mùa mưa thường ẩm thấp, khó duy trì bảo quản lâu dài. Hội nghị các trưởng lão trong làng cùng các vị chức sắc họp bàn thống nhất chuyển ngôi đình đến địa điểm mới là trung tâm làng. Nơi đây thoáng mát, nằm trên nền đất cao hơn mặt ruộng. Đình hướng mặt về nam. Về vị thế của đất, các người già của làng cho đây là nơi có thế đất rồng uốn, hỗ chầu, thích hợp để dựng đình làng. Đứng trên địa thế như vậy, nơi đây sẽ là nơi giữ thế phát triển đời đời, dân làng nhờ đó có thể hưởng lộc cả, phù hợp với nguyện vọng của làng. Bên tả đình là Gò Ổi (gọi là Tả thanh long hay long hổ hội), bên hữu là miếu Tam vị, phía sau đình là Gò Miếu cao (nay cư dân đang sinh sống), phía trước đình là đồng ruộng rộng thoáng mát, tiếp giáp với làng Cẩm Toại và sông Yên. Trước đình có khe nước chảy vào sông Yên, dân gian có thơ rằng:
                                Tây tiếp hà trì hưởng phúc úc
                                Hựu hoàng khê thủy khái trừng thanh.
                Đình xây dựng lần nầy có bốn mươi dân tráng tham gia trực tiếp và có sự giúp sức của toàn dân nên đã tạo được cho đình một chỉnh thể đẹp, kết cấu bền vững.[3][3] Cột, kèo, xuyên, trính bằng gỗ mít và kiền kiền. Tường xây bằng gạch và vôi vữa. Mái lợp tranh.
                Nửa thế kỷ sau, ngày 25 tháng 3 năm Bính Ngọ-Thành Thái thứ XVIII (1906), do có nhiều chỗ hư hỏng, biến đổi và cũng do nhu cầu thay mái tranh bằng mái lợp ngói nên ngôi đình được trùng tu lại[4][4] nhưng vẫn giữ nguyên hiện trạng . Hiện trên cây xà gồ trùng tu năm 1906 có ghi:" Thành Thái thập bát niên. Tuế thứ, Bính Ngọ, tam nguyệt, nhị thập ngũ nhựt, y cựu nhân sơn bính hướng, bổn xã đồng tu tạo"[5][5] Lần nầy mái lợp ngói âm dương, tường vôi, bên trong các loại kèo, cột có lối chạm trổ kiến trúc độc đáo của những nghệ nhân đến từ Kim Bồng[6][6], mang vẻ đẹp độc đáo, thể hiện trình độ thẩm mỹ,văn hóa - nghệ thuật truyền thống dân tộc vào thế kỷ thứ XIX.
                Ngày 19 tháng 4 năm 1989 (Kỷ Tỵ), bão số 2 tràn vào làng, mái đình trụt ngói, bên trong ở hai gian chái hư hỏng một số cây kèo, cột. Ngày 12 tháng 5 năm 1990 (Canh Ngọ), làng huy động nhân lục thay cây xà gồ gian chính và bên tả thay ba cây kèo, bên hữu thay một cây xuyên, một cây cột hông. Tất cả các loại trên bằng gỗ mít và kiền kiền. Các đường nét hoa văn, đắp vẽ bên ngoài có long, lân, quy, phượng thời cổ và đắp thêm một cặp dơi. Tất cả vẫn giữ nguyên theo đường nét, hình khối gốc ban đầu.
                Đình làng Bồ Bản xây dựng nên để thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần[7][7], các vị tiền hiền, hậu hiền có công khai phá quy dân lập ấp hình thành nên làng. Hằng năm vào ngày 15 tháng 2 âm lịch tế xuân, lễ tế lập mộ tiền hiền của làng và 15 tháng 8 âm lịch tế thu, lễ tế tiền hiền và cầu quốc thái dân an. Tế xuân thu có văn tế kèm theo lễ. Đây là cách duy trì tư duy người Việt cổ là thờ thần, thờ càng nhiều thần càng tốt, dân làng tổ chức tế lễ cúng thần mong thần phù hộ, giúp đỡ, chở che. Từ năm 1945 đến nay, đình làng Bồ Bản đổi tên thành Thống Tự Đường thờ 23 vị tiền hiền của 23 chư phái tộc của làng.
                Đình Bồ Bản kiến trúc theo kiểu 3 gian 2 chái, dài 9,7 mét; rộng 14,5 mét. Tường dày 20 - 30 cm. Bên trong kiến trúc theo dạng 3 gian 4 vị. Chính điện rộng 3,1 mét, dài 8,3 mét. Giữa đặt bàn thờ hương án thờ Thành hoàng bổn xứ. Bàn thờ phía tả ban có 2 chữ "quan tiền" thờ các vị tiền hiền. Bàn thờ phía hữu ban có 2 chữ "dũ hậu" thờ các vị hậu hiền. Trên trính có một hoành phi ghi "Bồ Bản đình". Bên trong gian giữa có 8 cây cột cái cao 4,5 mét, cột lồng nhì trước sau 8 cây cao 3,5 mét, cột lồng ba trước sau 8 cây cao 2,3 mét, cột đấm 4 cây, cột quyết 4 cây, cửa hông 4 cột. Tất cả 36 cây làm bằng gỗ mít và kiền kiền. Phía dưới chân cột đứng trên đá tạc thành quả bí (đỏ) chạm trổ hoa văn lạ mắt. Mái hiên đình kiến trúc theo kết cấu chồng rường giả thủ, kèo giao kỷ 4 trụ, chạm hình quy cánh quạt, 4 cây trính giữa chạm đầu rồng, bụng kèo chạm tứ quý xuân, hạ, thu, đông, mai, điểu, tùng, lộc. Đường nét chạm trổ tinh xảo tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc theo lối kiến trúc của thế kỷ thứ XIX, mang đậm bản sắc dân tộc. Bên ngoài đình, trên nóc đắp nổi theo kiểu lưỡng long tranh châu; gia thu giữa đắp lưỡng phụng tranh châu, kim quy cá gáy, phi cầm tẩu thú nằm phủ dưới mái thuyền chờ ngày hóa tứ linh. Hai đầu là giao cá chờ hóa long. Gia thu hai đầu đắp hình mui thuyền, khuôn kẽ chỉ chạm mai, điểu, tùng, lộc. Cuối mái đắp cặp lân chầu phên bất. Mặt tiền phía tả đắp Thanh long, phía hữu đắp bạch hổ (gọi tắt là Tả thanh long, hữu bạch hổ). Tiền đình có sân rộng 14,5 mét, dài 19,6 mét, có một bức bình phong dài 3 mét, cao 2 mét, mặt ngoài đắp phù điêu hình một con hổ, mặt trong hình con rùa. Cả hai được đắp ghép nổi bằng nghệ thuật sành sứ.Đứng từ bình phong trụ biểu ứng áng nghinh chầu nhìn vào mặt tiên đình có đắp nổi hai câu liễn:
                                Khả gia như thăng giả
                                Tố vi dĩ hành hào
                                Lễ nhạc y quan chi tụy
                                Thanh vân văn vật tương đô.
                Đình làng Bồ Bản không chỉ là nơi linh thiêng mang dấu ấn tín ngưỡng địa phương, thờ kính đa thần và những người có công với làng nước, là nơi hội hè đầu năm, tế lễ xuân thu, họp làng, bàn việc làng việc xóm mà còn là nơi xuất phát, hội tụ của dân làng trong công cuộc bảo vệ làng nước.
                Năm 1888, dưới triều Tự Đức, cụ thơ lại Trần Văn Đệ hưởng ứng phong trào Cần Vương đã sử dụng sân đình làm nơi chiêu luyện nghĩa quân, làm lễ tế cờ tại sân đình. Về sau do phong trào thất bại, cụ Trần Văn Đệ bị giặc Pháp bắt chém tại vườn Đình.
                Từ đình làng đã tập hợp, phát động quần chúng nhân dân trong làng tham gia cách mạng tháng Tám năm 1945. Đoàn biểu tình của Tổng An Phước, huyện Hòa Vang xuất phát từ sân vận động trước đình Cẩm Toại do đồng chí Phạm Điềm, Phạm Huệ lãnh đạo đã tập hợp nhân dân trước sân đình đi cướp chính quyền, buộc lý trưởng, hương kiểm giao nộp ấn triện, sổ bộ làng và tuyên bố giải tán chế độ đương thời.[8][8] Sau khi cướp được chính quyền, Ban hành chánh kháng chiến thôn Bồ Bản được ra mắt. Tại đình làng, thường xuyên diễn ra những buổi tiếp xúc giữa nhân dân với cán bộ cách mạng. Năm 1946 xã Liên An sử dụng đình làng Bồ Bản làm nơi đặt thùng phiếu bầu cử Quốc Hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đình còn là nơi mở lớp Bổ túc văn hóa đầu tiên của làng Bồ Bản.
                Thời kỳ chống Pháp, phía đông làng Bồ Bản là nơi phong trào cách mạng hoạt động mạnh, địch không kiểm soát được, vì vậy đình là nơi hội họp, tập trung nhân dân hai làng Bồ Bản và Thạc Bồ tham gia mitting, học tập, triển khai các công tác, chủ trương đường lối của cách mạng. Đêm ngày 10 tháng 9 năm 1949 một cuộc họp bị lộ, giặc Pháp bắn đạn cối 81 làm sập chái đình phía đông, chết 1 thiếu nhi, bị thương 1 người.[9][9]
                Trong kháng chiến chống Mỹ,  trận đánh Tết Mậu Thân (1968) và trận chống càn xuân Kỷ Dậu (1969), đình làng Bồ Bản là trung tâm chỉ huy chiến dịch. Lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội huyện, tỉnh và du kích địa phương bố trí từ trung tâm đình về phía tây bắc, bắc và đông bắc cách đình từ ba đến năm trăm mét đã tiêu diệt được nhiều lực lượng của Mỹ ngụy có vũ khí hiện đại và xe bọc thép. Không chiếm được cứ điểm của ta, địch dùng máy bay ném bom vào khu dân cư. Tuy không trúng đình nhưng bom nổ đã làm rạn nứt nhiều chi tiết của đình. Về sau, năm 1989 dân làng tập trung sửa chữa lại đình theo kiểu dáng như đã có.
                Nay, dân cư đông đúc, di tích đình làng Bồ Bản được tu sửa cùng với cảnh quan tươi đẹp, có cây đa cổ thụ trên trăm năm góp phần làm cho phong cảnh đình càng trở nên thiêng liêng. Phía hữu đình có miếu thờ Thần Nông Đại đế rêu phong cổ kính làm cho cụm di tích rộng thoáng." Qua đình ngã nón trông đình", ta có thể tìm thấy ở đây sự yên tĩnh, trầm mặc, đáp ứng được một phần nào khát vọng của dân làng Bồ Bản về tâm linh, trong đời sống văn hóa của người dân.
                Ngày 4 tháng 1 năm 1999, Bộ Văn hóa - Thông tin xép hạng đình Bồ Bản là di tích lịch sử - văn hóa nghệ thuật.
                                                                                          Tác giả Võ Văn Hoè


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét