Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

Lễ hội đình làng Hoà Mỹ

Đình làng Hoà Mỹ hiện toạ lạc tại khối phố Hoà Mỹ, phường Hoà Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Theo nhân dân địa phương cho biết, làng Hoà Mỹ được thành lập từ lâu, nhưng tên gọi Hoà Mỹ được biết đến từ Minh Mạng thứ 5 (1824), Đến thời Khải Định làng Hoà Mỹ thuộc Tổng Hoà An, huyện Hoà Vang, sau này thuộc xã Hoà Minh, huyện Hoà Vang, nay là khối phố Hoà Mỹ, phường Hoà Minh, quận Liên Chiểu.
         Đình làng Hoà Mỹ được nhân dân trong làng xây dựng cùng thời gian với việc lập làng. Đình thờ thần Thành Hoàng và các vị tiền hiền, hậu hiền, những người có công khai khẩn đất đai lập làng Hoà Mỹ trong những thế kỷ trước.
         Về mặt kiến trúc, trước đây đình làng Hoà Mỹ cũng như bao đình làng khác ở Đà Nẵng mang đậm dấu ấn kiến trúc Triều Nguyễn. Phần trang trí bên ngoài, trên đỉnh nóc là hình lưỡng long chầu nguyệt, phần mái và diềm mái trang trí hình các con dơi, phụng, sư tử. Mái đình được lợp bằng ngói âm dương. Bên trong đình được chia làm ba gian hai chái, với 4 hàng cột bằng gỗ mít, trính xuyên, ruôi mè được làm bằng gỗ kiền kiền. Tường xây gạch, phía trước đình có hai trụ cổng và một bức bình phong. Trải qua thời gian, đình làng Hoà Mỹ đã bị xuống cấp, nhân dân trong làng đã góp tiền của trùng tu, tôn tạo lại đình làng nhiều lần, lần gần đây nhất là vảo năm 2006. Hiện nay, nhân dân Hoà Mỹ còn giữ được 8 sắc phong, những sắc phong này được để tại đình làng, có niên đại từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại, đây là nguồn tư liệu Hán Nôm quan trọng, có giá trị về nhiều mặt. Trong các lễ hội đình làng hằng năm, nhân dân đều có lễ rước sắc phong về đình.
         Lễ hội đình làng Hoà Mỹ diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hằng năm, nhằm nhắc nhở con cháu các tộc họ về công lao của các bậc tiền hiền, hậu hiền, các bậc tiên linh đã có công lập làng, theo đạo lý "uống nước nhớ nguồn, đồng thời, kiểm điểm những việc đã làm được trong một năm và định hướng những việc sẽ thực hiện trong năm đến. Trước đây, do hoàn cảnh chiến tranh, việc tổ chức lễ hội đã bị gián đoạn một thời gian dài, mãi đến năm 1994 lễ hội mới được khôi phục trở lại.
         Lễ hội đình làng Hoà Mỹ diễn ra trong một ngày rưỡi. Phần lễ theo nghi thức cổ truyền gồm lễ rước sắc phong, lễ vọng và lễ hội kỵ chính thức. Phần hội có nhiều nội dung phong phú, mang phong cách truyền thống và hiện đại đan quyện vào nhau, tạo nên nét rất riêng cho lễ hội. Mở đầu phần hội bao giờ cũng là giải chạy việt dã truyền thống, thu hút đông đảo nông dân, thanh - thiếu niên, nam nữ học sinh tham gia. Trong khi người trẻ tuổi thi cắm hoa, thi làm bánh thì người cao tuổi biểu diễn thể dục dưỡng sinh, vui chơi bài chòi.
        Khán giả bao giờ cũng thật đông quanh các trò chơi dân gian như kéo co, đập om... bởi cái không khí rất hội hè của chúng. Các tổ dân phố, các gia tộc, các đoàn thể có dịp ngồi lại bên nhau trong buổi sinh hoạt giao lưu văn hoá, trao đổi những kinh nghiệm về nếp sống đẹp trong đời thường để cùng giúp nhau tiến bộ. Các trích đoạn hát tuồng đan xen vào các tiết mục ca múa nhạc kịch của chương trình văn nghệ lễ hội cũng là một cách kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại.
       
            Lễ hội đình làng Hải Châu
         Trong số những di tích lịch sử - văn hoá gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Đà Nẵng, còn tồn tại cho đến ngày nay, phải kể đến di tích Đình và Nhà thờ Chư phái tộc Hải Châu.
         Đình và Nhà thờ Chư phái tộc Hải Châu, hiện ở tại phường Hải châu 1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Đây là cụm di tích kiến trúc – tôn giáo, tín ngưỡng được xây dựng từ rất sớm, khoảng nữa đầu thế kỷ 18, để thờ Thần Hoàng Bổn xứ và 42 tộc họ tiền hiền đã có công khai phá đất đại lập làng Hải Châu vào những năm cuối thế kỷ 15, mà theo gia phả họ Nguyễn Văn, một trong các tộc họ tiền hiền Hải Châu ghi rõ: Ngài tiền hiền nguyên gốc ở Bắc Thành, thuộc tỉnh đạo Thanh Bình, sau này gọi là Thanh Hoá Thừa Tuyên, theo vua Lê Thánh Tông vào Nam và ở lại vùng đất này năm 1471. Trong Văn bia Chùa Long thủ (nay là chùa An Long) ở phường Bình Hiên, dựng vào năm Thịnh Đức thứ 5 (1658), là một trong những tấm bia cổ nhất hiện nay, đã được Nhà nước xếp hạng, cũng cho biết lúc bấy giờ nhân dân xã Nại Hiên đóng
góp tiền của và công sức để xây dựng Chùa, còn người viết bài văn trên bia là ngài Lê Gia Phước, pháp danh Pháp Giám, người làng Hải Châu. Như vậy là cùng với làng Nại Hiên, làng Hải Châu cũng là một trong những làng xã được xây dựng sớm trên mảnh đất Hòa Vang, mà địa giới hành chính lúc bấy giờ có thể bao gồm các phường Hải Châu 1, Hải Châu 2 và Nam Dương ngày nay…
        Trải qua thời gian, do điều kiện thời tiết, khí hậu và do những biến cố của lịch sử. Đình và Nhà thờ Chư phái tộc Hải Châu đã bị hư hại, được sửa chữa, trùng tu và di dời nhiều lần, lần di dời cuối cùng vào năm 1904 về tại địa điểm hiện nay và lần trùng vào năm Bảo Đại thứ 12 (1938); Đình và Nhà thờ được xây theo dạng hình chữ nhất ( - ), hai di tích nằm cạnh nhau, mặt xây về hướng Nam, tọa lạc trên một khu đất có diện tích hơn 1.500m, phía trước ngôi đình có xây cổng Tam quan, trước cổng có hồ sen, phần tiền đường có xây lầu Chuông và lầu trống, trên đỉnh nóc đắp hình lưỡng Long chầu Nguyệt, còn phần Nhà thờ 42 Chư phái tộc mái hiên đắp hình cuốn thư, dưới cuốn thư có ghi  ba chữ “Kinh Ái Tự”, tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương. Năm 2000, đình và nhà thờ 42 chư phái tộc Hải Châu được xếp hạng di tích cấp quốc gia, đến năm 2004 – 2005, đình và nhà thờ được trùng tu, tôn tạo lại. Lần này, nhà thờ vẫn giữ nguyên thiết kế kiến trúc cũ, chỉ sửa lại phần mái ngói và thay một vài cây cột, còn ngôi đình thì được xây mới, cũng theo lối kiến trúc nhà rường, bên trong hoàn toàn bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, gồm có nhà tiền đường, hai dãy hành lang và chánh điện. Nhìn cảnh quan hiện nay cho thấy ngày xưa đình và nhà thờ được bố trí trong một không gian hài hoà, trang nghiêm. Hiện tại bên trong đình và nhà thờ còn một số di vật quý như chuông đồng, hoành phi, liễn đối, bia ký… có giá trị lớn về lịch sử và văn hoá.

        - Chuông đồng: chuông có chiều cao khoảng 1,3m, đường kính miệng 0,70m, được treo trên một giá gỗ. Trên đỉnh chuông có đúc hình hai con rồng nằm quấn đuôi vào nhau, trên thân chuông chia làm 8 ô, chữ được đúc nổi, ở phần thân gần đỉnh chuông có một hàng chữ Phạn chạy vòng quanh thân, còn ở giữa có các dòng chữ Hán – Nôm được viết theo chiều dọc, từ trái sang phải nội dung ghi: “Minh Mạng ngũ niên, Giáp Thân trùng tu bản tự, thứ niên khâm phụng, sắc tứ Phước Hải tự. Minh Mạng thập tam niên, Nhâm Thìn cát đáng, Hải Châu xã đồng kính tạo”. Tạm dịch nghĩa: Vào năm Minh Mạng thứ 5, năm Giáp Thân (1825) đã trùng tu chùa Phước Hải, nhận sắc phong Vua ban, năm Minh Mạng thứ 13, năm Nhâm Thìn (1832) thì nhân dân xã Hải Châu đã đúc chuông này. Đây là quả chuông của chùa Phước Hải, được nhân dân Hải Châu đem về để tại đình. Về chùa Phước Hải một trong những ngôi chùa cổ, thuộc làng Hải Châu, trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “Chùa Phước Hải ở xã Hải Châu chính, huyện Hoà Vang, sửa lại năm Minh Mạng thứ 5. Năm thứ 6, Thành Tổ Hoàng Đế nhân đi tuần du phương Nam, xa giá qua chùa cho biển ngạch Phước Hải Tự và ban cho 100 quan tiền”1
        Ngày nay, rất tiếc chùa Phước Hải không còn và cũng không ai còn nhớ trước đây chùa toạ lạc ở đâu? Nhưng những di vật của chùa vẫn được nhân dân gìn giữ cùng với di vật của đình và nhà thờ chư phái tộc Hải Châu.
     - Bia ký: Còn lại 3 tấm bia bằng đá Cẩm thạch, trong đó có một tấm cao khoảng 1,2m, rộng 0,70m, được lập vào năm Tự Đức thứ 14 (1861). Trên trán bia có chạm hình lưỡng Long chầu Nguyệt, nét chạm sắc sảo, hình tượng rồng thể hiện khá uyển chuyển, cùng với đồ án trang trí hình mây cuộn, trông rất đẹp mắt, nhìn chung bia vẫn còn tốt, chữ chạm còn rõ, dễ đọc, đầu đề bài văn khắc trên bia là: “Hội Tập Thiện Hải Châu”. Nội dung bài văn khắc trong lòng bia là: “Hải Châu chính xã ở  Quảng Nam, từ xưa đã có miếu thờ quan thánh đế quân. Năm Tự Đức, Mậu Ngọ (1858), giặc tràn vào quấy nhiễu ở Đà Nẵng, khiến nhân dân khiếp đảm chạy tán loạn, nơi ấy thành bãi chiến trường, miếu Quan Thánh chỉ còn trơ nền cũ. Tổng đốc Tỉnh Quảng Nam là ngài Đào Đại nhân (tức Tổng đốc Đào Trí), vâng lệnh thiên tử, quản lý cả quân vụ, ngài kêu gọi lưu dân Hải Châu trở về quê ổn định, ngài bèn tập hợp mọi thứ vật liệu còn lại đề xướng việc tu tạo lại miếu thờ Đế quân. Nhân dân vui mừng và cùng nhau hưởng ứng, đem cả của cải và dốc sức lực, chẳng bao lâu miếu được hoàn thành…”. Bia được dựng vào “ngày lành, tháng quý đông (tháng chạp), năm Tân Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 14” và người viết bài văn trên bia là Lang trung Bộ binh Nguyễn Công Bang.

Hai văn bia còn lại được lập vào năm Bảo Đại nguyên niên (1926) để ghi công đức của nhân dân Hải Châu đóng góp tiền của sửa chữa lại Đình và Nhà thờ 42 Chư phái tộc.
        - Hoành phi: Còn lại 9 bức hoành phi được làm vào các triều vua Gia long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Bảo Đại. Tất cả các hoành phi được khắc chạm rất đẹp, bằng gỗ, sơn son nhụ vàng và cẩn xà cừ, có giá trị nghệ thuật cao. Trong số các bức hoành phi, thì hoành phi được làm vào thời Gia Long là lớn hơn cả, có chiều dài khoảng 2m, rộng 0,70m, chính giữa có 4 chữ “Vạn Cổ Anh Linh” (Muôn thuở anh linh), khổ chữ cỡ 20cm, hai bên có hai hàng chữ nhỏ hơn, hàng bên trái từ trên xuống ghi “Hải Châu chính xã đồng cung lặc” (xã Hải Châu chính đồng kính chạm). Còn hàng bên phải ghi “Hoàng triều Gia Long, thập thất niên, tuế thứ Mậu Dần” (năm Mậu Dần, niên hiệu Gia Long thứ 17). Một hoành phi khác dài khoảng 1,2m, rộng 0,70m, có ghi “Phước Hải Tự” (chùa Phước Hải), hàng bên phải ghi “sắc tứ” (vua ban sắc lấy tên là chùa Phước Hải), hàng bên phải ghi “Minh Mạng lục niên ngũ nguyệt, cát nhật tạo”. Bức hoành phi được làm vào ngày tốt, tháng năm, năm Minh Mạng thứ 6 (1825). Như vậy sau khi trùng tu chùa Phước Hải  vào năm Minh mạng thứ 5 (1824), thì năm (1825) làm bức hoành phi này. Dưới thời Tự Đức cũng có hai bức hoành phi được làm, một bức ghi “Thiên Tức Thánh” (Thánh tức là Trời), làm vào tháng hai, năm Tự Đức thứ 5 (1851) và một bức khác ghi “Thiên Tham Nghĩa” (việc nghĩa hợp với lòng Trời), được làm vào năm Bính Thìn, Tự Đức thứ 9 (1856) và còn nhiều bức hoành phi khác, trong đó có hai bức không rõ ngày, tháng tạo lập, một bức ghi là “Tiền Liệt Quang” (Rạng rỡ đấng tiền liệt), một bức ghi “Hải Châu Tự” (chùa Hải Châu).
         Ngoài ra ở đình và nhà thờ còn có 6 liễn đối làm bằng gỗ, sơn son nhụ vàng, chữ viết đẹp, rõ ràng trên ghi các câu thơ đối với nhau. Riêng tại nhà thờ chư phái tộc Hải Châu, còn lại một bàn hương án (bàn thờ) và 42 bài vị bằng gỗ, ghi họ, tên các vị tiền hiền, hậu hiền đã có công khai canh, khai cư lập làng Hải Châu. Bàn hương án là một tác phẩm điêu khắc đẹp, chạm trổ tỉ mĩ, tinh xảo và khá công phu, thể hiện các hình tượng hoa lá, chim muôn một cách sống động, gợi cảm như bộ bát bửu, hoa sen, hoa cúc, dơi, kỳ lân, rồng, phụng, rùa, hạc và nhiều hoạ tiết hoa văn khác như mây, sóng nước…, mỗi hoạ tiết hoa văn, mỗi hình tượng nghệ thuật, chủ đề đều thể hiện trong các ô hình chữ nhật, hình vuông và khắc chạm ở cả ba mặt. Tác phẩm nghệ thuật này được làm vào năm Bảo Đại thứ 12 (1937).

            Lễ hội nghĩa trủng Hoà Vinh (Khuê Trung)
Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp lần đầu tiên của quân dân ta tại mặt trận Đà Nẵng năm 1858 – 1860, trên địa bàn huyện Hoà Vinh (thời Minh Mạng đổi thành Hoà Vang), thời bấy giờ có nhiều chiến sỹ trận vong đã hy sinh vì Tổ quốc không nơi hương khói. Trước tình cảnh này,  nhân dân trong vùng rất bức xúc bèn đề nghị quan Bố chánh tỉnh Quảng Nam Đặng Huy Trước xin triều đình cho quy tập mồ mả chung tại một địa điểm, có nơi chốn. Theo đó, vua Tự Đức đã ban lệnh quy tập hài cốt các chiến sĩ trận vong, nghĩa dân đã hy sinh và cả những nấm mộ không ai thừa nhận trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại Đà Nẵng những năm 1858 – 1860 vào khu nghĩa trủng tại xứ Trủng Bò, xã Nghi An và khu nghĩa trủng xã Phước Ninh thuộc huyện Hoà Vinh, tiện cho việc chăm sóc mộ phần và hương khói hằng năm.
Hai câu đối tại nghĩa trủng ghi lại tình cảm của những người đời sau khi huy động công của lập nên nghĩa trủng:
“Người xưa đã xa rồi, nay dựng tượng đài mà vẫn bàn đến đời của họ và nghĩ đến con người thời ấy.
Tổ quốc thiêng liêng với những chí sĩ anh hùng thời ấy, noi dấu đời trước để chấp cánh cho đời sau”.
Nghĩa trũng Hòa Vinh lập năm Tự Đức thứ XIX (1866). Ban đầu nghĩa trũng được lập tại xứ Trũng bò thuộc làng Nghi An (nơi đại quân của triều đình Huế đóng chân khi liên quân Pháp và Tây Ban Nha đánh cửa Hàn năm Mậu Ngọ tức 1858, nay thuộc khu vực sân bay Đà Nẵng). Tại đây, hằng năm nhân dân các làng Nghi An, Đông Phước tổ chức lễ tế hằng năm, nhớ ơn các chiến sỹ đã hy sinh vì đất nước. Đến năm 1926, thực dân Pháp mở sân bay Đà Nẵng, nhân
dân phải di dời phần mộ của các “chiến sĩ trận vong” về làng Hóa Khuê Trung, nay là khu Bình Hòa 1, phường Khuê Trung, quận Cầm Lệ thành phố Đà Nẵng. Trong lúc tiến hành cuộc di dời các phần mộ, thực dân Pháp đã huy động thanh niên nam nữ các làng lân cận: Đông Phước, Nghi An, Bình Thái, Hoá Khuê Trung vào việc quang gánh hài cốt về nơi chôn cất mới. Tại Trủng Bò có cả trên dưới 1.500 ngôi mộ đất. Công việc di dời rất khẩn trương, các nhân công tham gia có làm một bài vè về việc di dời mồ mả này:
- Kể từ ngày Pháp mở sở tàu bay
Nhà cửa đuổi hết mít, cau cũng đào
Anh em mình chừ chẳng biết lo liệu làm sao
Mả lớn, mả nhỏ cũng đào hốt đi
Ông Ba mở sở cu-li [1]
Đàn ông con nít vừa thì sáu trăm
Đàn ông đề giá hai lăm [2]
Đàn bà hai giác, con nít mười lăm xu y kì
Buổi mai năm rưởi ra đi
Trưa về mười một rưởi, chiều đi hai giờ
Ba cô con gái đương tơ
Đưa cơm bót lính, nhởn nhơ tối ngày
Tưởng là sung sướng lắm thay
Không hay thầy Đội ngày này gay go
Mười hai giờ kèn thổi trong kho
Chị em ai nấy giả đò đi ăn
Đi ăn lại nghe tiếng kèn
Rủ nhau uống nước, vừa thằng Đội ra
Năm Phượng đứng dậy vừa la [3]
Ở như thầy Quý, vậy mà ít ai
Thẩy không đào đĩ gái trai [4]
Thẩy không đánh đập chi ai mắc lòng
Chúc cho thầy cai đặng lâu dài
Nào ai vô thế làm cai cũng không màng !
Khen cho thầy Quý, thở than
Khi mưa, khi nắng, đứng dang ngoài trời
Thầy Quý ơi, thầy Quý ra đi sáu trăm cu-li
                                    khóc ròng ròng
Thầy không ăn ở mắc lòng cu-li.[5]
Sau khi di dời hài cốt về Hoá Khuê Trung, để có điều kiện hương khói hằng năm, làng Hoá Khuê Trung trích ra một mẫu đất tế tự, hằng năm lấy hoa lợi chi dùng vào việc tế lễ.
Hằng năm đến ngày 17 tháng 11 âm lịch dân làng Hoá Khuê tổ chức lễ tục tế lễ tại nghĩa trủng, dần đã tạo nên lễ hội trong nhân dân. Trong lễ tưởng niệm, tri ân những anh hùng “chiến sĩ trận vong” văn bài đọc trong buổi lễ có đoạn:
… “Sấm động Sơn Chà, mưa trùm núi Ải
Đang yên bình bỗng dấy động can qua
… Nuớc sông Hàn hai ba phen cuộn sóng
Tàu Tây dương bắn phá luỹ An Đồn


[1] Cu li: tức công nhân.
[2] Tức tiền công 25 xu/ngày.
[3] Năm Phượng là kíp trưởng nhóm cu-lu, người tại làng Hoá Khuê Trung, nay là phường Khuê Trung. quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.
[4] Thẩy: như  thầy.
[5] Bài, người trong làng Đông Phước, Nghi An cho rằng do Châu Xứng sáng tác, năm ấy, Châu Xứng cùng nhiều thanh niên nam nữ: Châu Xứng, Huỳnh Thị Xuân, Huỳnh Thị Tư, Lê Điệp, Lê Chánh...Hồ Thị Tư, Hồ Thị Lư, Hồ Đáo, Lê Mẹo, Hùnh Kiệt... có đi cu-li khuân gánh hài cốt và gánh đất lập sân bay cho Pháp.
Mây Sơn Chà năm, bảy lớp ùn ùn
Súng nghĩa sỹ vang rền thành Điện Hải…
…Thường dân biến thành nghĩa sỹ
Nón dấu đai vàng khiêng mang đạn vác
Nạp hậu hoả mai, gươm trường giáo mác
Ra trận tiền rào rạc chí nam nhi
Cơm vắt, ngủ hầm, gian khổ sá chi
Chân đất, lưng trần, lòng son dạ sắt
Chí căm thù đâu vướng chuyện riêng tư
Quyết tử hữu dư trung thành vô hạn
Sống chết đâu nài, nói chi số mạng
Vì đất nước nhân dân
Vì sơn hà xã tắc
Thân chiến sỹ lấp vùi cùng cây cỏ
Hồn thiêng còn phiêu lãng khắp non sông…
…Mồ hoang mả rậm đau lòng
Gió hú, quạ kêu não ruột
            Đêm dài đóm lửa nhập nhoà
            Ngày vắng mây giăng áo não
            Những tưởng ngàn năm ôm hận cửu trùng
            May còn đoái vọng chiếu vua truyền bảo:
            Ân nghĩa đáp đền
            Công danh khả báo
            Quan trên vâng lệnh triều đình
            Dân làng vâng lời kỳ lão
            Làng trên xã dưới góp công
            Nghĩa trủng Hoà Vang tôn tạo
            Hồn thiêng trung liệt đã ba lần dời chuyển còn đây…
            Hai năm trở lại đây, nhân dân khu phố Bình Hoà 1 phường Khuê Trung chọn ngày 16 tháng 3 âm lịch hằng năm  tổ chức lễ tế tu tảo phần mộ nghĩa sỹ, âm linh. Trong lễ hội ngoài phần lễ cầu quốc thái dân an theo nghi tức cổ truyền còn có phần hội thu hút đông đảo nhân dân tham gia, trong đó thanh niên nam nữ chiếm tỉ lệ lớn. Các trò chơi gồm: bài chòi, thiên đăng, thi nấu cơm, đập niêu, nhảy bao bố, kéo co, đấu vật, đẩy cây… thi thời trang áo dài được tổ chức ngay trong phần hội, góp phần làm cho lễ hội nghĩa trủng Hoà Vang thêm đa dạng, phong phú.
            Văn bia nghĩa trủng xã Phước Ninh
            Nghĩa trủng xã Phước Ninh được lập năm Tự Đức thứ 29 (1876). Đây là nơi quy tập tất cả hài cốt các chiến sỹ trận vong nằm rải rác trên địa bàn xã Nại Hiên, Bình Thuận, Nam Dương…và chiến sĩ hy sinh tại thành Điện Hải. Vị Án sát tỉnh Quảng Nam là Nguyễn Quý Linh và Lãnh binh Trương Tải Phú chọn xã Phước Ninh lập nghĩa trngr. Giao việc đáo bốc dỡ hài cột cho các vị Quản cơ Nguyễn Lân, hiệp cùng Hiệp quản Nguyễn Đỗ bốc hốt được 1.500 ngôi mộ đưa về tập trung chôn cất tại nghĩa trủng Phước Ninh. Sau khi có nghĩa trủng, xã Phước Ninh kê biên 2 mẫu đất giao cho dân sản xuất lấy hoa lợi chi dùng vào việc tu tảo phần mộ và cầu quốc thái dân an hằng năm. Đến năm 1950 thực dân Pháp cày ủi, san bằng, mộ phần được dời về nhập cùng nghĩa trủng Hoà Vinh. Tại xã Phước Ninh sau di dời còn lại một bia bằng đá Non Nước cao 1,2 mét, rộng 0,8 mét. Một mặt bia có khắc chữ. Đây chính là văn bia Phước Ninh nghĩa trủng:
            “Phàm mọi việc ở đời vì nghĩa hay vì lợi mà thôi: Người quân tử nghĩ đền điều nghĩa mà dốc vào việc thiện, dù nhỏ cũng không bỏ qua, kẻ tiểu nhân chỉ nghĩ đến điều lợi mà nhác làm việc thiện, hễ thấy lợi thì không việc gì không làm.
            Trước kia, người ta đã vùi dập đó đây những nắm xương lạc loài, những xác thân phiêu bạt. Do lòng xót thương của sự tan nát kia mà lòng cảm thấy bất nhẫn nên đã hành động theo lòng mình. Đó là do niềm trắc ẩn, sự chí thành mà làm những việc không ai làm vậy.
            Ông Hường lô tự Khanh, sung chánh thương biện hải phòng, họ Nguyễn, huý Đạo Trai, tên chữ Quý Linh là hạng người cư xử vừa ngay thẳng, phương chính vừa trung hậu, nghĩa thiện  
như thế. Lần lượt ông giữ các chức Đề học, Thái thú, đến đảm nhận cả chức Hình sự. Công việc chính sự đã nghiêm cẩn lại thận trọng. Thế mà trong lòng vẫn luôn luôn  nơm nớp lo nghĩ, vì ngại rằng có điều gì còn sai sót, có điều gì còn lầm lẫn trong nhiệm vụ của mình. Nên dân chúng hết lời tán tụng  công nghiệp và ngợi ken đức độ của ông.
            Thiên tử cai quản toàn lãnh thổ mênh mông rộng rãi, kể cả nội cỏ hoang vu. Nơi này xưa kia là sa trường chiến địa, thành xiêu luỹ đổ chất chồng, ngày vắng quạnh hiu buồn thảm, gò hoang mả loạn ngổn ngang, gió hú thê lương não nuột.
            Nào đâu hương thơm, nào đâu lễ vật ai người dâng cúng ? Hoặc do không có người thân gần gũi, lấy ai đắp điếm nắm xương tàn nơi chín suối, hoặc do gia hương xa cách, còn ai vẫy gọi hồn thieng trung can nơi vạn dặm?
            Lửa đóm ma trơi, buồn khóc thâu đêm; hồn phách oan khiên, năm canh gào thét. Thảm biết dường nào!
            Trước đây, do lòng thành tha thiết, thương tiếc sâu xa, nên các vị ý định thu nhặt tàn cốt tìm nơi đất lành để chôn cất tử tế, nhưng công việc chưa thành thì các vị ấy đã phải đổi đi nơi khác. Sau đó, ông Đạo Trai trông thấy cảnh huống ấy mà lòng dạ thương cảm xót xa, mới bàn với quan đồng sự là ông Phó lãnh binh Trương Công, huý là Hậu, tên chữ là Tải Phủ cùng bỏ tiền của, chọn đất đai để lo liệu việc đưa về an táng. Ông Trương Công cũng nhất nhất vui vẻ thuận theo.
            Từ đây quân sĩ trưởng vâng mệnh các ông đâu đâu vui say về việc thiện và phụ giúp cho lòng khẳng khái ham thích việc thiện của ông Tải Phủ. Do đó, không có việc gì là không xong và cũng không có công lao nào là không thành tựu được.
            Cho nên, từ thân hào đến phú thương trong tỉnh, tất cả cùng nhau chung sức để làm việc thiện, ai nấy cũng đều đem của nhà mà giúp vào việc nghĩa. Họ bèn chọn đất đai ở 2 xã Phước Ninh và Thạc Gián xây dựng thành nơi chôn cất khang trang này.
            Khu vực mộ phần này toạ lạc trên một địa thế xinh tươi và hùng tráng: ở phía trái, sóng nước biển khơi dạt dào vỗ lại, núi Sơn Chà mường tượng dáng rồng xanh; ở phía phải rừng cây, núi lớn nhấp nhô lay động núi Phước Tường tựa như hình hổ trắng.
            Nước Vũng Thùng trong xanh rào rạt, thấm nhuần lòng đất; dòng sông Hàn ôm vây mạch đất, uốn khúc quanh co.
            Vào ngày, tháng, năm này thì khởi công. Các vị Phó quản cơ Nguyễn Lân, Hiệp quản Nguyễn Đề được phái đến để cùng với quân binh phát dọn gai gốc, cỏ rác, tìm nơi bờ bụi thu nhặt hài cốt tản mác đó đây, rồi dùng giấy, vải mà gói lại; dặt vào quan quách để đưa vào chung một khu vực, chôn cất thành nhiều lớp, có hơn 1.500 nấm mồ theo hướng đông nam – tây bắc, chung quanh xây thành đất cao bao bọc. Hai chiều ngang dọc đo được 40 trượng phía trước, phía sau mỗi phía 18 trượng, bên trái bên phải mỗi bên 22 trượng. Từ tháng Tư đến tháng Bảy, chưa đầy ba tháng mà đã hoàn tất công việc.
            Có việc nào hoàn thành nhanh chóng như vậy đâu, nếu không phải do quan quân vì cảm lòng tha thiết với việc nghĩa, hâm mộ việc làm điều thiện của ông Đạo Trai mà gắng sức đua nhau để đạt nhanh đến thành quả tốt dẹp này hay sao?
            Ông lại tâu xin cho dân trong xã Phước Ninh lo việc cúng phụng, giữ gìn, sửa sang quét dọn. Lại xin mua hơn 2 mẫu ruộng đất, giao cho xã ấy canh quản để chi dùng trong việc giỗ chạp hằng năm.
            Tâu xin nhà vua mà lòng nhân từ đức độ của người hơn cả các bực nhi đế, tam vương ngày xưa, xét duyệt mà ban khen cho.
            Từ nay những hồn thiêng trung liệt, vì nước hy sinh… tắm gội trong ơn sâu của trời đất và đức dày của Nguyễn Công mà được nơi yên nghỉ này. Cũng do nơi yên nghỉ tốt lành này mà có được một niềm an ủi lớn lao vậy.
            Hồn hãy về đây, nương ở đất này ! Mồ yên mả đẹp là nhà của hồn đấy ! Dâng cúng lễ vật, trâu béo, heo mập và xôi đậu tràn trề, sạch sẽ. Hồn về hưởng đi!
như thế. Lần lượt ông giữ các chức Đề học, Thái thú, đến đảm nhận cả chức Hình sự. Công việc chính sự đã nghiêm cẩn lại thận trọng. Thế mà trong lòng vẫn luôn luôn  nơm nớp lo nghĩ, vì ngại rằng có điều gì còn sai sót, có điều gì còn lầm lẫn trong nhiệm vụ của mình. Nên dân chúng hết lời tán tụng  công nghiệp và ngợi ken đức độ của ông.
            Thiên tử cai quản toàn lãnh thổ mênh mông rộng rãi, kể cả nội cỏ hoang vu. Nơi này xưa kia là sa trường chiến địa, thành xiêu luỹ đổ chất chồng, ngày vắng quạnh hiu buồn thảm, gò hoang mả loạn ngổn ngang, gió hú thê lương não nuột.
            Nào đâu hương thơm, nào đâu lễ vật ai người dâng cúng ? Hoặc do không có người thân gần gũi, lấy ai đắp điếm nắm xương tàn nơi chín suối, hoặc do gia hương xa cách, còn ai vẫy gọi hồn thieng trung can nơi vạn dặm?
            Lửa đóm ma trơi, buồn khóc thâu đêm; hồn phách oan khiên, năm canh gào thét. Thảm biết dường nào!
            Trước đây, do lòng thành tha thiết, thương tiếc sâu xa, nên các vị ý định thu nhặt tàn cốt tìm nơi đất lành để chôn cất tử tế, nhưng công việc chưa thành thì các vị ấy đã phải đổi đi nơi khác. Sau đó, ông Đạo Trai trông thấy cảnh huống ấy mà lòng dạ thương cảm xót xa, mới bàn với quan đồng sự là ông Phó lãnh binh Trương Công, huý là Hậu, tên chữ là Tải Phủ cùng bỏ tiền của, chọn đất đai để lo liệu việc đưa về an táng. Ông Trương Công cũng nhất nhất vui vẻ thuận theo.
            Từ đây quân sĩ trưởng vâng mệnh các ông đâu đâu vui say về việc thiện và phụ giúp cho lòng khẳng khái ham thích việc thiện của ông Tải Phủ. Do đó, không có việc gì là không xong và cũng không có công lao nào là không thành tựu được.
            Cho nên, từ thân hào đến phú thương trong tỉnh, tất cả cùng nhau chung sức để làm việc thiện, ai nấy cũng đều đem của nhà mà giúp vào việc nghĩa. Họ bèn chọn đất đai ở 2 xã Phước Ninh và Thạc Gián xây dựng thành nơi chôn cất khang trang này.
            Khu vực mộ phần này toạ lạc trên một địa thế xinh tươi và hùng tráng: ở phía trái, sóng nước biển khơi dạt dào vỗ lại, núi Sơn Chà mường tượng dáng rồng xanh; ở phía phải rừng cây, núi lớn nhấp nhô lay động núi Phước Tường tựa như hình hổ trắng.
            Nước Vũng Thùng trong xanh rào rạt, thấm nhuần lòng đất; dòng sông Hàn ôm vây mạch đất, uốn khúc quanh co.
            Vào ngày, tháng, năm này thì khởi công. Các vị Phó quản cơ Nguyễn Lân, Hiệp quản Nguyễn Đề được phái đến để cùng với quân binh phát dọn gai gốc, cỏ rác, tìm nơi bờ bụi thu nhặt hài cốt tản mác đó đây, rồi dùng giấy, vải mà gói lại; dặt vào quan quách để đưa vào chung một khu vực, chôn cất thành nhiều lớp, có hơn 1.500 nấm mồ theo hướng đông nam – tây bắc, chung quanh xây thành đất cao bao bọc. Hai chiều ngang dọc đo được 40 trượng phía trước, phía sau mỗi phía 18 trượng, bên trái bên phải mỗi bên 22 trượng. Từ tháng Tư đến tháng Bảy, chưa đầy ba tháng mà đã hoàn tất công việc.
            Có việc nào hoàn thành nhanh chóng như vậy đâu, nếu không phải do quan quân vì cảm lòng tha thiết với việc nghĩa, hâm mộ việc làm điều thiện của ông Đạo Trai mà gắng sức đua nhau để đạt nhanh đến thành quả tốt dẹp này hay sao?
            Ông lại tâu xin cho dân trong xã Phước Ninh lo việc cúng phụng, giữ gìn, sửa sang quét dọn. Lại xin mua hơn 2 mẫu ruộng đất, giao cho xã ấy canh quản để chi dùng trong việc giỗ chạp hằng năm.
            Tâu xin nhà vua mà lòng nhân từ đức độ của người hơn cả các bực nhi đế, tam vương ngày xưa, xét duyệt mà ban khen cho.
            Từ nay những hồn thiêng trung liệt, vì nước hy sinh… tắm gội trong ơn sâu của trời đất và đức dày của Nguyễn Công mà được nơi yên nghỉ này. Cũng do nơi yên nghỉ tốt lành này mà có được một niềm an ủi lớn lao vậy.
            Hồn hãy về đây, nương ở đất này ! Mồ yên mả đẹp là nhà của hồn đấy ! Dâng cúng lễ vật, trâu béo, heo mập và xôi đậu tràn trề, sạch sẽ. Hồn về hưởng đi!
Phần ân đức nọ là của ai kia? Xin hồn thiêng hãy phù hộ cho”.
            Niên hiệu Tự Đức năm Bính tý, tiết đông chí
            Những kẻ hậu sinh: Phan Tốn, Quý Tương, Mộng Liên Tử.


1 Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 2, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1992, trang 386.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét