Lễ hội tắt bếp tại huyện Hoà Vang gắn liền hình thái nông nghiệp lúa nước. Tại làng Trà Kiểm xã Hoà Phước vào ngày tháng 10 và làng Thi Lai xã Hoà Nhơn vào ngày mồng 10 tháng 3 hằng năm. Các làng (nay là thôn) trên có một ngày hội tắt bếp.
Trong ngày hội, họ gom lương thực, thực phẩm về đình làng nấu nướng tế thần xong cùng nhau ăn một bữa cơm chung trong tinh thần cộng cảm, tương thân tương ái, thắt chặt tình làng, nghĩa xóm. Đây là lễ hội mang tình nhân văn sâu sắc mặc dầu lễ hội không diễn ra nhiều ngày có quy mô lớn, song qua lễ hội tắt bếp cho thấy nhân dân luôn lấy tinh thần cộng đồng làm trọng. Đây là biểu hiện của tư duy chủ toàn, cái toàn thể quyết định bộ phận, mối liên hệ giữa bộ phận và toàn thể do đó được gắn kết nhau. Mỗi gia đình là một thành viên của cộng đồng, thế nên gia đình luôn gắn chặt với cộng đồng làng xã. Hình thức tổ chức lễ hội như vậy lâu dần không bỏ được đã trở thành nếp sinh hoạt chung của cả làng, là ngày hội của toàn thể dân trong làng từ nam phụ lão ấu ai cũng đồng tâm nhất trí tham gia.
Hằng năm, đúng vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, tại thôn Thi Lai “bổn xã chức việc, toàn dân đẳng”, tất cả đều phải nghỉ việc nhà nông, tập trung về đình làng thực hiện lễ hội cầu an, mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng no đủ, toàn dân từ già đến trẻ không bị các loại bệnh dịch hoành hành. Toàn thể dân làng cầu xin thần Thành hoàng làng bảo an cho dân mọn mạnh khoẻ quanh năm, thực hiện được công việc nhà nông thắng lợi. Do suốt ngày vui chơi tại đình làng nên bếp nhà không đỏ lửa. Theo đó, nhân dân trong làng tạo thành lễ hội gọi là lễ hội tắt bếp.
Trước mồng 10 một ngày, các vị đại diện chư phái tộc trong làng đôn đốc trai tráng quét dọn đường làng, làm vệ sinh đường sá sạch sẽ, chống ô nhiễm môi trường. Tại đình làng, người ta cắm các cây cờ làng đuôi nheo nhiều màu sắc từ đình làng toả ra các đường kiệt, công hương, trông không khí lễ hội đang được nhóm lên. Trên các con đường chính của làng, các xóm
cũng đã cắm các cây cờ xéo từ ngày hôm trước. Vào đến đầu làng đã thấy không khí lễ hội tắt bếp đang được chuẩn bị tươm tất.
Từ mờ sáng mồng 10 tháng 3, người dân trong làng nôn nao sửa soạn gạo mắm, củi đun mang ra đình. Tại đình có ban ẩm thực chuyên thu gom , sắp đặt, phân công chuẩn bị nấu nướng làm lễ tế đình. Trai tráng giúp các mẹ chị chẻ củi, gánh nước, bưng bê cho nhanh, kịp làm lễ tế Thành hoàng bổn xứ và các vị tiền hiền, hậu hiền khai canh khai cư lập nên làng.
Lương thực, thực phẩm là các sản vật thổ nghi có tại địa phương. Vào tháng 3 âm lịch, trời bắt đầu nắng nóng, lễ vật dâng cúng phong phú vì đang là tiết trọng xuân nên sản vật phong phú. Thường có các loại măng, rau, củ, trái, thịt heo, gà, vịt địa phương do nhân dân trong làng tự nguyện mang đến. Lễ tế thần diễn ra trong buổi sáng, sau khi thực hiện các nghi lễ tế thần trong tiếng trống nhịp chiêng rung, trên tinh thần cầu xin cho làng xóm được bình an thể hiện trong bài văn cúng đình. Sau lễ, toàn thể nhân dân trẻ già, trai gái đều ngồi chung lại tại sân đình ăn bữa cơm trưa trên tinh thần cộng cảm. Tại đây, người ta tìm hiểu về một loại giống lúa cho năng suất cao, loại cây trồng phù hợp với đất đai, thổ nhưỡng địa phương. Dân làng còn tìm hiểu nhau về tình hình sức khoẻ gia đình, con cháu học hành thi cử, đỗ đạt ra sao…những thành viên trong làng vì cuộc sống mà tha phương làm ăn nơi đất khách quê người, trong dịp Tết nguyên đán có về thăm nhà thăm quê kiểng hay không… Cả đến việc tìm hiểu nhau về tình hình gia cảnh, những thuận lợi, khó khăn, túng thiếu, đau ốm thất thường…đều đem ra giữa làng cho nhau biết nhằm thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm, giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn bất ngờ.
Đến chiều, trai táng thanh niên trong làng tổ chức các trò chơi dân gian còn lưu truyền tại làng như kéo co, thi đập om, nhảy dây, bao bố, đẩy cây, nấu cơm, vật tay, thi đấu cờ tướng, cờ gánh…Các bà mẹ, chị các cụ ông thường tập trung dưới gốc đa làng hát hò khoan đối đáp, nói vè hoặc kể chuyện về sự hình thành làng, các bô lão có công với làng, các dòng họ có công đóng góp cho làng đến các vị có đạo đức tốt, chăm lao động được nhân dân trong làng kính trọng; chuyện con em trong làng học giỏi nêu gương tốt trong học tập cho các thế hệ học sinh tại làng… đều được các cụ bô lão ôn lại. Trẻ em hát đồng dao, chơi các trò chơi của giới mình, đánh nẻ, ông
làng,nhảy dây có đi kèm lời hát đồng dao. Trên cơ sở đó, con cháu biết được truyền thống lịch sử làng, các dòng họ có công xây dựng làng. Các câu chuyện cổ từ đó được lưu truyền trong các thế hệ tiếp sau. Ca dao, tục ngữ, hò vè do đó được ghi nhớ và lưu truyền qua các thế hệ. Đồng thời, qua lễ hội tắt bếp, các sinh hoạt xấu cũng được đem ra thảo luận, phê phán, rút kinh nghiệm như chuyện ăn cắp, đánh lộn, chửa hoan, chuyện mẹ chồng nàng dâu, chuyện lấn bờ, lấp mương… đều được đem ra trao đổi rút kinh nghiệm trong lối sống. Có thể nói đình là trung tâm văn hoá làng, nơi diễn ra các cuộc hành lễ thiêng liêng nhưng đồng thời cũng là nơi tập trung cao nhất của sinh hoạt văn hoá làng xã xưa tại miền trung du huyện Hoà Vang. Ngồi tại đình làng có thể nhìn quanh bốn hướng, các câu tục ngữ thường ra đời tại đây và truyền tụng trong nhân dân:
- Mống đá trạc không khát cũng khô
- Mống Cu đê chạy về dọn gác
- Mống Đại La mưa sa bão táp…
Đến chiều, người dân lần lượt ra về, lòng vui như mở hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét