Theo đường 34 đi Nhã Nam, đến cầu Kim Tràng, nhìn hướng tay phải, ta thấy một vùng cây xanh tươi, thấp thoáng mái ngói chập chùng cao thấp bên một hồ sen lớn.
Đó chính là chốn chùa tổ Kim Tràng nhưng phải đi tiếp một đoạn nữa, đến cây số 10 đó là chợ Kim Tràng, rẽ vào đường liên xã Việt Lập một đoạn, bạn sẽ thấy vườn tháp chùa Kim Tràng nhấp nhô: cái nhỏ, cái to, cái cao, cái thấp, tất cả có gần 10 tháp cổ 3 tầng nằm kề một sân vận động lớn, bằng phẳng. Chùa nay thuộc xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; xưa thuộc xã Kim Tràng, tổng Tuy Lộc Sơn, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Theo các tài liệu văn bản học thì ngôi chùa này được khởi dựng vào thời Lê Cảnh Hưng tam niên (1742) đời vua Lê Hiển Tông.
Tương truyền, thời ấy có một vị sư tăng thuộc thiền phái Trúc Lâm tu ở chùa Đức La, một hôm đi qua đây, thấy trẻ chăn trâu dựng cây, đắp đất làm chùa, lại hái hoa quả đem hương đến dâng lễ Phật rất vui vẻ. Ông bèn dừng lại xem ngắm địa thế, thấy rất hài lòng. Bèn vào 2 làng giáo hóa nhân dân hưng công dựng chùa. Thôn Đông làm trước, Kim Tràng làm sau, khi xây dựng xong, sư tổ về trụ trì ở đây, ông ra công xây dựng tòa ngang, dãy dọc, suốt cả mấy chục năm ròng. Cho nên chùa có kiến trúc nội công, ngoại quốc với quy mô lớn. Theo đúng dáng của chùa tổ Đức La (Yên Dũng). Vì vậy, thời ấy dân gian có câu ca rằng:
"Thứ nhất là chùa Đức La
Thứ nhì Quảng Phúc, thứ ba chùa Tràng"
Chùa Đức La (Yên Dũng) thuộc thiền phái Trúc Lâm tam tổ có quy mô lớn, kế đến là chùa Quảng Phúc thuộc xã Đa Mai, thành phố Bắc Giang nhưng ngôi chùa này đã bị phá trong kháng chiến chống Pháp và chùa Kim Tràng trở thành chốn tổ từ 250 năm trước có quy mô lớn nhất ở vùng Yên Thế cũ. Cho đến nay, chùa Kim Tràng vẫn là ngôi chùa lớn nhất ở vùng Tân Yên - Yên Thế.
Tới năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), nhân dân ở đây lại hưng công đúc quả chuông lớn, thập phương, thiện nam, tín nữ công đức tiền của khá nhiều, tên tuổi, quê quán hiện còn khắc vào chuông. Tới năm 1939, đại trùng tu lại chùa, đã bỏ mất đao tàu, xây bít đầu hồi. Nhưng nhìn chung, cho tới ngày nay quy mô chùa vẫn còn khá lớn.
Qua bậc tam cấp, ta bước vào tiền đường cao rộng, thoáng đãng với kết cấu thượng con chồng - hạ kẻ tràng, thượng chỉ hạ ngũ, có tứ hàng chân vững chãi, với 3 chữ Hán "Linh Ứng tự". Nối với tiền đường là tòa tam bảo, Phật điện lung linh đèn nến dài hơn 10m, rộng gần 7m, 4 gian cao rộng, khung cột kết cấu toàn bộ con chồng, đấu kẻ suốt từ trên xuống dưới, với tứ hàng chân, mỗi hàng 5 chiếc sừng sững, uy nghi, suốt với 4 hàng chân cột tiền đường qua cửa vòm cuốn rộng, giúp cho phật điện tiền đường khoáng đạt mà dung dị vô cùng, đủ chỗ cho mấy trăm người cùng hành lễ dâng hương một lúc. Chủ ý của người xây dựng công trình, ngoài giá trị sử dụng ra, muốn thể hiện sự bao dung, nhân từ, rất rộng mở, gần gũi mà cũng thật thiêng liêng của cửa Phật với thập phương sinh chúng.
Bước qua cửa nách tòa tam bảo, ta gặp ngay hai dãy hành lang, mỗi dãy 6 gian, dài 15 mét, rộng 4 mét, cao cũng như vậy; khung gỗ kết cấu con chồng đấu kê, nối suốt từ hồi tiền đường đến giáp tường nhà tổ. Đằng sau hậu cung phật điện là một sân hậu chùa, lát toàn gạch chỉ, sạch sẽ phóng khoáng, có hai cột đồng trụ cực đẹp, 3 mặt cân đối, trên đắp đèn lồng, đỡ một quả dây đắp nổi 4 con phượng xòe đuôi tung cánh, đầu ngoảnh 4 phương.
Qua sân sau chùa, ta bước vào nhà tổ 5 gian rộng rãi với ngũ hàng chân. Kết cấu khung cột, tiền kẻ hậu bảy, thượng tứ trụ ngũ, thượng con chồng, hạ kẻ tràng và trên tất cả các con chồng hoành đều trang trí bằng cách chạm lộng khác nhau và ở các ván gió trên xà thượng, cốn và trụ kẻ… đều chạm lộng những hoạt cảnh sinh động. Trải qua sự bào mòn khắc nghiệt của thời gian, của thiên tai địch họa nhà tổ vẫn còn bảo lưu khá nguyên vẹn kiến trúc của thời khởi dựng chùa.
Qua cổng hậu chùa là công trình phụ, nhà khách của chùa, đầu nhà khách là khu vườn tháp, nơi an táng xá lỵ của các vị sư tổ chùa này đời đời yên nghỉ. Với một bên là sân vận động rộng lớn, còn một bên là hồ nước mênh mang, khu chùa nổi bật lên giữa một không gian cao rộng, thoáng đãng, với vườn chùa cây cối xum xuê, thấp thoáng mái chùa ẩn hiện, cao thấp chập chồng, tạo nên vẻ đẹp hài hòa tuyệt vời giữa cảnh quan môi trường và di tích, thật xứng đáng là chùa tổ vùng này. Và vì là chùa tổ, tồn tại mấy trăm năm nên hầu hết tượng Phật ở chùa đều tạc bằng gỗ mít, cổ kính, sơn son thếp bạc, phủ hoàn kim toàn bộ, đẹp lộng lẫy.
Cách bài trí tượng ở chùa Kim Tràng gần giống như ở Phật điện chùa tổ Đức La (Yên Dũng) thuộc thiền phái Trúc Lâm. Nghĩa là: Tại tòa tiền đường là hai pho tượng hộ pháp đứng khá lớn, các vị La Hán này đã trang phục quân sự ngạch võ quan; cạnh đó là Đức Thánh Hiền và pho Đức Ông cũng sơn son thếp vàng, ngồi trên ngai tôn quý; bước sang tòa tam bảo, ta sẽ gặp cả một "thế giới" chư Phật đông đảo quần tụ trên Phật điện.
Tất cả tượng 7 vị sư tổ ở hậu đường đều là tượng chân dung không pho nào giống nhau mà giống người đời nhiều hơn quy lệ nhà Phật. Đó cũng là nét đặc sắc về những pho tượng sư tổ mà ta chỉ có thể gặp ở đây.
Đấy là chưa kể đến ban Mẫu ở gian bên cạnh, tượng Mẫu sơn nhỏ hơn, ngồi ở tư thế thoải mái, chân duỗi, chân co, tay phải đặt lên đầu gối, tay trái giơ lên như đang nói, cổ cao 3 ngấn, mặt đẹp, phúc hậu. Đầu đội mũ phượng, sơn thiếp vàng, cũng bằng gỗ, tuyệt đẹp, có giá trị nghệ thuật cao.
Như vậy, chùa Kim Tràng là ngôi chùa tổ lớn thứ 3 ở vùng Bắc Giang (sau chùa Đức La - Yên Dũng) và chùa Quảng Phúc (Bắc Giang) đã bị phá. Và là chùa tổ lớn thứ nhất ở vùng Yên Thế - Tân Yên. Những giá trị nhiều mặt của ngôi chùa chẳng những là nguồn tài liệu quý giúp cho việc nghiên cứu kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo, thiền phái Trúc Lâm tam tổ thời Trần và ảnh hưởng của nó đối với các chùa tổ xứ Bắc vốn nổi tiếng nhiều chùa này "Cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài" là vậy.
Chùa Kim Tràng có giá trị kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật nổi trội hơn ở cả vùng này, với bố cục gọn gàng, chặt chẽ, quy mô lớn, hài hòa với cảnh quan ngoại thất, nội dung tư tưởng của kiến trúc thể hiện rõ nét, tuyến tượng ở chùa rất đẹp, thực sự là một kho tư liệu quý về việc kết hợp chặt chẽ các chất liệu gỗ, gạch, đá trong một tổng thể kiến trúc mang đậm tính dân tộc độc đáo. Sự hài hòa giữa nội và ngoại thất, giữa kiến trúc và điêu khắc kiến trúc, giữa tuyến tượng trên phật điện và tượng ở nhà tổ… thực sự là nguồn tài liệu quý giúp cho việc nghiên cứu lịch sử phát triển Phật giáo ở Bắc Giang và thiền phái Trúc Lâm - vai trò và ảnh hưởng của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Thanh Huyền
(Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Giang)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét