Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Bắc Giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Bắc Giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2019

Săn đặc sản cua Da ngon nức tiếng trên dòng sông quan họ

Nếu có dịp về với vùng đất Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang vào khoảng đầu đông, du khách sẽ có cơ hội được thưởng thức món cua Da, một món ăn đặc sản quý, hiếm của quê hương Yên Dũng.

Dòng sông Thương-dòng sông quan họ là nơi loài cua da này sinh sống.

Hàng năm vào cữ gió heo may, khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch là thời gian xuất hiện cua Da, một loại cua sống trong các ghềnh đá ở đoạn sông Cầu chảy qua địa phận một số xã ven sông huyện Yên Dũng như: Đồng Việt, Đồng Phúc, Yên Lư, Thắng Cương…
Tôi cũng là một trong những người may mắn khi có cơ hội được thưởng thức món cua Da hai lần. Phải nói là may mắn vì nếu như trước đây thứ cua này không có mấy giá trị thì giờ nó lại trở thành đặc sản, một món ăn đắt đỏ mà cứ đến mùa biết bao người ao ước, săn lùng.
Nếu muốn mua được cua Da thì khách phải đặt từ trước, dặn những người chuyên đánh bắt để dành. Vì với loại đặc sản này chỉ cần cất lưới lên đã có thương lái mua ngay, không dễ tìm được ở chợ, người dân trong vùng cũng chả mấy ai dám ăn vì họ xót, ăn một cân cua là mất mấy trăm nghìn.
Nếu vào chính vụ mỗi cân cua thương lái mua trực tiếp từ thuyền có giá 250.000-300.000đ thì vào nhà hàng giá này sẽ được đẩy lên gấp đôi, ba lần. Cua càng to càng đắt giá, loại to chừng 10 con/kg còn loại trung bình từ 15-20 con/kg. 
Theo chị Nguyễn Thị Hường, một người con Yên Lư gắn bó với nghề đánh bắt cá trên sông nước đã lâu cho biết: Loài cua này chỉ xuất hiện vào hai tháng cuối năm, khi trời trở rét. Cua thường sống ở những ghềnh đá dưới đáy sông, muốn bắt được phải đánh lưới dầm vào ban đêm, dùng lưới bát quái với hình thù đặc biệt để bắt cua.
Thời gian xuất hiện cua da ngắn ngủi cộng thêm việc đánh bắt khó, số lượng không nhiều nên càng làm cho món ăn này trở nên đắt giá. Hỏi về tên gọi của loài cua này chị Hường vừa cười vừa nói: Gọi “cua Da” cũng đúng mà “cua Ra” cũng chẳng sai.
Ai gọi thế nào thì giải thích thế. Có người gọi “cua Da” vì loài cua này có một lớp lông trên chân, càng và yếm, nó như một lớp da bảo vệ. Có người lại gọi là “cua Ra” vì gắn với câu tục ngữ “Tháng chín cua ra, tháng ba cua vào”.
Cũng không ít người gọi là “cua Gia”, đơn giản vì gọi như thế thấy hợp lý hơn. Nhưng với người dân trong vùng này người ta thường quen gọi với cái tên “cua da” hơn cả. Ai gọi thế nào không quan trọng, quan trọng là cái hương vị đậm đà, ngon lạ của món cua này, không giống cua đồng mà cũng khác ghẹ biển.
Săn đặc sản cua Da ngon nức tiếng trên dòng sông quan họ
Cua Da có thề được chế biến thành nhiều món như: hấp bia, rang muối, nấu canh… Nhưng với tôi cua Da ngon nhất vẫn là đem hấp bia, vừa đơn giản vừa giữ được vị ngọt của thịt cua. Những con cua tươi được rửa sạch bằng nước, xếp vào nồi, cho thêm ít bột canh, gừng, xả, rót bia xâm xấp mình cua, đặt lên bếp đun nhỏ lửa đến khi bia sôi lăn tăn thì bật lửa to cho sôi bồng lên, ôm lấy cả nồi cua là được.
Khi cua chín có màu vàng cam hấp dẫn. Thịt cua ngọt, chân và càng cua mềm, khi ăn không cần dùng đến kẹp như cua biển. Ăn cua Da thường chấm với ít tương ớt là đủ, nhưng với những người sành ăn thì thường chấm với bột canh pha mù tạt vắt thêm nửa quả chanh.
Ăn cua Da nhâm nhi cùng chút rượu nấu trên quê Yên Dũng thì đúng là một thú vui tao nhã mà vô cùng thú vị. Ngoài ra cua Da còn được chế biến làm món riêu cua. Cua mang giã hoặc xay lọc lấy nước, gạch cua đem phi thơm cùng chút hành khô và cà chua rồi đổ vào nồi nước riêu đun cho sủi một lúc rồi bắc ra ăn cùng bún và rau sống. Vị ngọt của cua hòa quện vào mùi thơm của hành pha chút ngầy ngậy của mỡ làm nên một món ăn lôi cuốn đến kỳ lạ. 
Săn đặc sản cua Da ngon nức tiếng trên dòng sông quan họ
Đặc sản cua Da mà dòng sông Thương đã ưu ái cho mảnh đất này như một sản vật vô cùng quý giá. Nếu có dịp được về với quê hương Yên Dũng vào đúng mùa cua Da thì quý khách đừng quên thưởng thức món ăn ngon, lạ và hấp dẫn này nhé!Yên Dũng không chỉ nổi tiếng với đặc sản cua Da mà nơi đây còn được biết đến với nhiều sản phẩm đặc trưng khác như: gạo thơm, bánh đa Cảnh Thụy, tương Trí Yên, gốm làng Ngòi, mộc mỹ nghệ Lãng Sơn…
Về với vùng đất này du khách còn có cơ hội được ghé thăm một số điểm du lịch văn hóa và sinh thái hấp dẫn. Nổi bật phải kể đến như: di tích quốc gia đặc biệt chùa Vĩnh Nghiêm, xã Trí Yên – nơi lưu giữ kho mộc bản kinh phật được UNESCO công nhận là di sản tư liệu kí ức thế giới, nơi được coi là chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; Thiền viền Trúc lâm Phượng hoàng, một danh thắng gắn phát triển du lịch tâm linh với du lịch sinh thái trên dãy núi Nham Biền thuộc địa phận xã Nham Sơn.
Hay du khách cũng có thể tham quan dãy núi Nham Biền hùng vĩ với 99 ngọn lớn nhỏ hợp thành, đan xen vào nhau. Ngoài ra, Yên Dũng còn có chùa Kem (xã Nham Sơn), đền Thanh Nhàn (xã Nham Sơn), đền thờ Trần Thủ Độ (xã Yên Lư); đình, chùa, nghè Lũ Phú xã Xuân Phú…

(Theo Báo Bắc Giang)

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

Kỳ lạ loài cua 2 càng phủ da, mọc lông

Theo lý giải của người dân huyện Yên Dũng (Bắc Giang), sở dĩ gọi là cua Da vì chúng có lớp da trên càng. Chân cua Da dài, 2 càng có lớp lông giống như rêu bám vào...Loài cua Da là sản vật ngon nức tiếng của đất Yên Dũng.

Huyện Yên Dũng (Bắc Giang) có đặc sản nức tiếng khiến ai một lần thưởng thức sẽ nhớ mãi, đó là cua Da.

Cua Da Yên Dũng được chế biến thành nhiều món.
Cua Da Yên Dũng được chế biến thành nhiều món.
“Thú thực dù rất hay tiệc tùng, giao lưu ở nhiều nơi nhưng chưa bao giờ mình được ăn loại cua này, ngon tuyệt! Nhất định vài hôm nữa, mình sẽ đưa các bạn thân về đây để thưởng thức”, anh Trần Văn Long, một người bạn thân của tôi quê ở Hà Nội tấm tắc khen sau khi được mấy anh em quê ở Yên Dũng chiêu đãi món cua Da cách đây ít ngày. Tâm sự của anh Long cũng là lời ngợi khen của nhiều thực khách khi thưởng thức đặc sản cua Da.
Theo lý giải của người dân Yên Dũng, sở dĩ gọi là cua Da vì chúng có lớp da trên càng, cũng có người gọi là “cua ra” vì gắn với câu tục ngữ “Tháng Chín cua ra, tháng Ba cua vào”, song cua Da vẫn được gọi phổ biến hơn cả. Loại cua này sống chủ yếu trong các ghềnh đá dọc sông Thương và một phần sông Cầu chảy qua địa phận các xã: Đồng Việt, Đồng Phúc, Đức Giang, Thắng Cương...
Về hình thức, cua Da gần giống cua đồng nhưng kích thước và trọng lượng tối đa lớn gấp 3-4 lần (trung bình 0,8-2 lạng/con). Chân cua dài, hai càng có lớp lông giống như rêu bám vào. Mùa cua Da chỉ kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 âm lịch.

 Món cua Da hấp bia được nhiều thực khách ưa thích.
Món cua Da hấp bia được nhiều thực khách ưa thích.
Anh Trần Đức Chiến, đầu bếp “cừ khôi” của nhà hàng Thương Cúc, thị trấn Neo (Yên Dũng) chia sẻ: So với cua đồng, cua biển, hay ghẹ, thịt cua Da ngọt, đậm hơn; mai mềm, mỏng; khi chế biến vỏ vàng óng trông rất hấp dẫn, bắt mắt; ăn không phải dùng kìm để bẻ mai, càng.
Cua Da có thể chế biến thành nhiều món như hấp bia, rang muối, rang me, nấu canh, làm lẩu riêu... song có lẽ món cua hấp bia cùng xả, gừng, bột canh chấm mù tạt hấp dẫn hơn cả. Nếu như 1 bàn ăn có 6 người chỉ ăn món cua kèm theo một số món phụ, chi phí khoảng 1,5-1,8 triệu đồng. Do là đặc sản hiếm nên đôi khi khách muốn ăn phải đặt trước từ 1-2 ngày.
Để “săn” được cua Da, những cư dân miền sông nước phải lao động vất vả, nhọc nhằn, đặc biệt phải hiểu đặc tính, môi trường sống của chúng.
Anh Trần Văn Luận, quê ở xã Đồng Việt có gần 20 năm làm nghề chài lưới và cũng là “thợ săn” cua Da dày dặn kinh nghiệm cho biết: Trước kia, loại cua này có rất nhiều nhưng vài năm gần đây, do môi trường sống thay đổi cộng với nhu cầu tiêu thụ tăng nên cua ít dần. Chúng thường sống ở đáy sông, muốn bắt cua phải sử dụng lưới bát quái, nước to cua nổi, đi lại nhiều, nước rút cua nằm một chỗ, ít di chuyển nên khó bắt hơn.

 Món lẩu riêu cua Da.
Món lẩu riêu cua Da.
Hằng ngày, vào khoảng 7 giờ tối, anh dùng thuyền đi đặt lưới tận đáy sông, đến khoảng 2-3 giờ sáng hôm sau thì kéo lên, số lượng nhiều nhất cũng chỉ được 3-4kg/ngày. "Nếu nhà hàng muốn lấy nhiều, anh em chúng tôi cùng gom lại mới đủ”, anh Luận nói.
Trung bình, mỗi kg cua Da giao cho nhà hàng có giá từ 300-400 nghìn đồng, tùy loại. Nhiều thương lái ở Bắc Ninh, Hải Dương cũng lặn lội sang mua nhưng số lượng cũng không được nhiều. Hiện dọc sông Cầu và sông Thương có khoảng 20 người chuyên săn cua Da. Các món ăn từ cua Da giờ đây đã xuất hiện trên những bàn tiệc sang trọng ở các nhà hàng, khách sạn.
Về Yên Dũng những ngày này, trong tiết trời cuối thu se lạnh, du khách không những được thỏa sức tham quan, vãn cảnh những danh lam nổi tiếng trên đất Phượng Hoàng mà còn được thưởng thức món cua Da vô cùng hấp dẫn. Đó cũng là lý do tại sao trong lòng du khách đọng lại nhiều ấn tượng mỗi khi về với vùng đất này.
Theo Báo Bắc Giang

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Nham Vân Xuyên: Đặc sản Bắc Giang

Thơm, bùi, béo ngậy đó là đặc trưng hấp dẫn không thể cưỡng lại của món Nham cá dân dã nhưng đã trở thành đặc sản nổi tiếng khắp vùng của người làng Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa.
Nguyên liệu chính để làm Nham gồm: Trám đen nấu bỏ hạt lấy cùi; thịt ba chỉ áp chảo thái chỉ; thịt cá chép (phải là cá đánh bắt từ sông Cầu) nướng (rán) giòn. Ba thứ đó theo tỉ lệ 1:1:1, đem trộn với gia vị như lạc rang, quả núc nác nướng, rau thơm, khế chua, nêm mắm muối vừa đủ.

Nguyên liệu chính để làm món Nham cá phải là cá chép tươi đánh bắt từ sông Cầu
Cách làm như sau:

Trám đen; thịt ba chỉ áp chảo thái chỉ; cá chép nướng (rán) giòn gỡ xương lấy thịt, rau mùi gai, húng quế, tía tô khế chua thái nhỏ, đặc biệt không thể thiếu lá gừng tươi và lá hẹ.

Bao người con của Hiệp Hòa đi xa, chẳng ai không đau đáu trong tiềm thức của mình hình ảnh xum vầy của gia đình bên mâm cơm và đặc biệt ấn tượng không khí gia đình, bạn bè ngồi quây quần bên mâm cỗ quê, thưởng thức món Nham, hòa quyện với chén rượu cay cay, thơm nồng gạo mới làm nên phong vị hồn quê khó quên.

Món Nham cá dân dã nhưng đã trở thành đặc sản nổi tiếng khắp vùng của người làng Vân Xuyên

Về với An toàn khu II Hiệp Hòa hôm nay, du khách không chỉ nhận được sự đón tiếp nồng ấm, chân thành của người Hiệp Hòa hiếu khách mà còn được thưởng thức biết bao sản vật, nhưng hãy nhớ, xin đừng bỏ bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món ăn dân dã, hấp dẫn này./.

Nham Bắc Giang - món ăn quen thuộc của dân địa phương

Với các nguyên liệu đa dạng như trám đen, cá chép, thịt ba chỉ, rau thơm... món nham đã trở thành đặc sản nổi tiếng khắp vùng Hiệp Hòa, Bắc Giang. 

Với những người dân xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, nham đã trở thành một món ăn không thể thiếu trong bữa cơm gia đình đoàn tụ. Món này cũng đã được đưa vào thực đơn khai vị trong các nhà hàng tỉnh Bắc Giang. 
Cách làm nham cũng giống như món gỏi của người miền Nam. Nguyên liệu bao gồm trám đen, thịt ba chỉ, cá chép, rau thơm, khế chua, lạc rang, rau húng... Ngoài ra còn có hành tiêu, chanh, ớt và một số gia vị khác. 
Món nham ngon, đặc biệt nhờ hương vị trám thơm, bùi, ngậy. Đây là một đặc sản của người làng Vân Xuyên. Ở trong làng, có nhiều cây trám cổ thụ, thường ra quả vào tháng 7 và quả chín có vỏ màu đen bóng. 
nham-7668-1435725111.jpg
Hương vị nham dân dã của người dân xã Hoàng Vân. Ảnh: GO
Khi chế biến nham, người đầu bếp sẽ tách vỏ trám, lấy cùi rồi thái nhỏ. Loại thịt lợn ăn cũng phải chọn thịt ba chỉ tươi, vừa có nạc, vừa có mỡ. Có như vậy món ăn mới không bị khô hay quá nhiều mỡ.
Thịt đem bóp muối, rửa sạch rồi để ráo, cho thêm nước mắm, bột ngọt và chờ thấm gia vị trong khoảng 1 giờ. Tiếp đó, mang thịt đi hấp chín, để nguội rồi thái chỉ. Nhiều người còn biến tấu bằng cách đem đi áp chảo cũng khá hấp dẫn, thịt lúc này chín vàng, bắt mắt. 
Riêng phần cá chép sẽ được đem đi rán giòn, nhẹ nhàng gỡ bỏ xương. Tất cả các nguyên liệu sau đó được trộn cùng với rau thơm, khế chua xắt mỏng, nêm chút mắm, muối, bột ngọt, đường cho vừa miệng.
Để món nham thêm dậy vị, người ta còn phi hành vàng để trộn chung với các nguyên liệu có sẵn. 
Sau khi hoàn tất mọi công đoạn, người đầu bếp sẽ trút nham ra đĩa, rắc thêm lạc rang giã nhỏ lên trên. Khi ăn, bạn có thể dùng kèm với chén nước tương, cảm nhận được vị mặn, chua, ngọt đậm đà không lẫn với những món khác. Bạn có thể thử món này trong các nhà hàng ở huyện Hiệp Hòa hoặc ở các khu chợ quê. 
Anh Phương
Theo dulichvn.org.vn

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Bánh giầy Kẻ Cấu

(BGĐT) - Kẻ Cấu (Kẻ Cáu), theo tên cổ “kẻ” là người, cấu là địa danh. Xưa, Kẻ Cấu gồm các tên cổ là: Kẻ Vẹ, Kẻ Lẻ, Kẻ Hược, Kẻ Hiên. Sau này được gọi là người xóm Hiên, Chùa, Trại, Hàng (Hược), Cả. Xóm Cả lớn nhất nên Kẻ Cấu được lấy làm tên làng. Kẻ Cấu bây giờ là làng Hương Câu, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang).
Tục xưa kể rằng, vào đầu thiên niên kỷ thứ II thuộc triều đại nhà Lý, quân Tống xâm lược nước ta. Lý Thường Kiệt đem quân đến bờ Nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) lập phòng tuyến chặn bước tiến của giặc. Bấy giờ ở hương Vẫn Mẫu, quận Vũ Ninh, xứ Kinh Bắc có chàng trai tên là Đương Giang, học giỏi, đỗ cao, tài ba thao lược, được vua Lý giao chỉ huy sứ đại tướng quân làm tiên phong dẫn đội quân tinh nhuệ vượt sông Như Nguyệt sang bờ Bắc, đóng quân tại trang Kẻ Cấu, nơi đây thuận lợi cho việc quân cơ. 
Với lòng yêu nước nồng nàn, người dân Kẻ Cấu đã tuyển trọn được 320 trai đinh của làng xin đầu quân cùng tướng Đương Giang chống giặc. Khi quân giặc tiến sát bờ sông, từ phía bờ Nam, Lý Thường Kiệt đọc bài thơ thần “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư...” và cử quân đánh sang phía Bắc, quân Đương Giang từ trang Kẻ Cấu đánh xuống, quân Tống chết như ngả rạ. Đất nước yên bình, tướng Đương Giang được triều đình phong là thành hoàng làng Hương Câu - 320 trai đinh cũng được tôn thờ tại đình làng.
Hằng năm, vào dịp tháng Giêng, lệ làng được tổ chức từ ngày mồng 4 đến hết mồng 7. Lễ tế thành hoàng bao giờ cũng kèm theo 320 chiếc bánh giầy thờ 320 nghĩa sĩ của làng cùng Đương Gia đánh giặc. Bánh thờ do 4 giáp của làng thi giã, mỗi giáp 80 chiếc, mỗi chiếc làm từ một đấu gạo nếp cái hoa vàng. Các giáp giã xong được rước ra đình, Hội đồng tộc biểu đại diện cho làng chấm thi. Những chiếc bánh được chọn làm bánh thờ xếp vào mâm giàng - mâm gỗ to bằng chiếc nia, sao cho xếp đủ 80 chiếc. Những chiếc bánh bị loại ra thuộc giáp nào thì giáp ấy bị phạt. 
Sau lễ tế thành hoàng tại sân đình, làng mở hội với nhiều trò chơi như: Vật cầu, kéo chứ, vật dân tộc, kéo co, kéo lửa nấu cơm, thi giã bánh giầy, làng xóm tưng bừng náo nhiệt. Đô vật các nơi nô nức về dự giải.

Bánh đa kê - món ăn dân dã của người Hoàng Vân

(BGĐT) - Nếu như bạn biết đến quê hương Hoàng Vân, Hiệp Hòa với món nham trám thơm bùi, béo ngậy luôn có trong những bữa cơm đoàn tụ thì bạn cũng không thể không biết đến món bánh đa kê - món ăn dân dã giải nhiệt trong ngày hè của người dân nơi đây. 
Buổi chợ nào bà Mơ (75 tuổi), xóm Hồ, thôn Lạc Yên 1 cũng bán được hết 2 đấu kê.
Buổi chợ nào bà Mơ (75 tuổi), xóm Hồ, thôn Lạc Yên 1 cũng bán được hết 2 đấu kê.
Chợ Vân (xã Hoàng Vân) họp vào các ngày 2, 4, 7, 9 âm lịch hằng tháng. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hàng bán bánh đa kê vào những phiên chợ ở đây. Người bán chủ yếu là những cụ bà. Bà Mơ (75 tuổi), xóm Hồ, thôn Lạc Yên 1 kể: Món bánh đa kê này là đặc sản của Hoàng Vân, bà đã bán ở chợ được hơn 6 năm, buổi nào bà cũng bán hết 2 đấu kê, khoảng 9 giờ 30 đến 10 giờ sáng là hết hàng. 
Ngồi hỏi chuyện bà khoảng 30 phút mà khách mua tấp nập, có cả người già, người trẻ, đàn ông lẫn đàn bà. Bởi đây là một món rất dễ ăn, thích hợp cho những ngày hè dù nắng nóng hay mưa gió. Bánh đa kê được ăn cùng với đỗ xanh đồ chín, đánh tơi, cảm giác bùi bùi thơm thơm rất vừa miệng.

Bánh đa kê được ăn cùng với đỗ xanh đồ chín, đánh tơi, rất bùi thơm.
Bánh đa kê được ăn cùng với đỗ xanh đồ chín, đánh tơi, rất bùi thơm.

Kê nấu xong khi nguội trên bề mặt sẽ se lại thành màu nâu, gọi là da kê, ăn dai và thơm.

Kê nấu xong khi nguội trên bề mặt sẽ se lại thành màu nâu, gọi là da kê.
Kê nấu xong khi nguội trên bề mặt sẽ se lại thành màu nâu, gọi là da kê.
Bạn có thể mua được hạt kê tròn mẩy ở chợ Vân về tự chế biến. Cách nấu rất đơn giản, cứ 1 bơ kê đong 3 bát nước vôi trong, đun sôi nước lên rồi cho kê vào, khuấy đều rồi lại đậy vung, cư khoảng một phút khuấy một lần, đến khi kê đặc có mùi thơm thì tắt bếp. Khi nấu cho thêm một chút muối và đãi kê trước khi nấu kẻo sạn. Đồ thêm đỗ xanh và mua bánh đa về là bạn sẽ có món bánh đa kê thơm bùi cho ngày hè tươi vui. 

Sạp hàng bán các loại gạo, đỗ và kê ở chợ Vân.
Sạp hàng bán các loại gạo, đỗ và kê ở chợ Vân.
Ngọc Anh

Thơm ngon chả giã tay Lục Nam

(BGĐT) - Ở huyện Lục Nam (Bắc Giang), ngoài sản phẩm đặc trưng như: Na dai, dứa, hạt dẻ…, nhiều du khách còn biết đến món ăn thơm ngon là chả giã tay. Nhiều năm qua, gia đình anh Nguyễn Đình Tuấn, phố Đồi Ngô, thị trấn Đồi Ngô duy trì nghề làm chả giã tay. 
Sáng nào cũng vậy, vợ chồng anh Tuấn dậy từ rất sớm để làm hàng phục vụ thực khách. Chả làm từ thịt lợn tươi cùng một số gia vị nước mắm, mì chính...

Chọn thịt là khâu quan trọng nhất, quyết định 90% chất lượng sản phẩm chế biến. Nguyên liệu thường là thịt mông của những con lợn khoảng 70 kg/con đặt từ địa chỉ uy tín, khi bắt đầu đưa vào giã còn ấm, dẻo. 
Thịt thái miếng bằng bao diêm rồi giã bằng cối đá, không ngơi tay để thịt luôn ấm, đến độ quện mà không nát. Sau đó trộn với mỡ lợn băm nhuyễn và tiếp tục giã cho đến khi thật sánh rồi nêm nước mắm, mì chính... độ đậm vừa phải. Gói hỗn hợp này bằng lá chuối tươi có lớp ni lông bên ngoài để giữ vị thơm cho chả.

Luộc chả chín tới rồi vớt ra, bỏ khuôn, hấp cách thủy khoảng 5 phút. Khi luộc phải khéo léo, chín khoảng 60% thì vớt ra, đặt lên giá cho ráo nước. 
Để chả có màu vàng, bắt mắt, khi rán phải điều chỉnh lửa phù hợp, dầu rán ngập 1/2 miếng chả, đảo chiều liên tục tới chín vàng đều, dậy mùi thơm. 
Chả giã tay Lục Nam mùi thơm hấp dẫn, đặc trưng. Khi thưởng thức cảm nhận vị đậm đà, thơm ngon, dai, giòn của thịt giã tay chứ không nhuyễn như dùng máy.

Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018

Đặc sản gạo thơm Yên Dũng

Gạo thơm Yên Dũng (Bắc Giang) hạt trong, nhỏ đều, người tiêu dùng yêu thích bởi cơm dẻo, hương thơm đặc biệt. 

Ngon dẻo gạo thơm Yên Dũng

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

Gỏi cá chép Nội Hoàng - đặc sản quê ở Bắc Giang

Xã Nội Hoàng thuộc huyện Yên Dũng, nằm ở phía Nam của tỉnh Bắc Giang, bên con sông Thương đôi dòng trong đục. Nơi đây, được thiên nhiên ban tặng các điều kiện tự nhiên hệ thống sông ngòi, hồ ao rộng khắp, những cánh đồng lúa trải dài uốn lượn, men theo dãy núi Phượng Hoàng sừng sững hiên ngang, sống khép mình bên dãy núi linh thiêng. Người dân nơi đây, luôn có truyền thống giàu lòng mến khách, sự hiếu khách được chủ nhà thể hiện qua những món ăn truyền thống của vùng, miền ven sông, trong đó đặc biệt nhất phải kể đến một món ăn “ Gỏi cá chép Nội Hoàng”. Món ăn tuy giản dị nhưng được chế biến hết sức công phu, cầu kỳ.
Ai đã một lần trong đời được thưởng thức món ăn chắc hẳn đều ấn tượng bởi vị bùi, giòn, ngọt mang đậm chất quê của món ăn này.

Nguyên liệu để chế biến món này hết sức đơn giản nhưng quy trình chế biến thì vô cùng công phu, phức tạp. Việc đầu tiên là phải chọn lựa cá, cá làm gỏi phải là loại cá chép sông hoặc ao đầm không nuôi thả vì những loài cá sống ở môi truờng tự nhiên rộng lớn bao giờ thịt cũng săn chắc, trọng lượng trung bình từ 1 đến 1,5 kg là vừa vì cá to xương sẽ cứng, thịt dai, còn nhỏ quá thì thịt sẽ mủn, nhũn không làm được. Sau đó, làm sạch, đánh vẩy dùng dao thật sắc lạng lấy hai miếng thịt thăn ở bên mình cá.

Bước tiếp theo cho miếng thăn cá vào bát thính gạo nếp đã được rang kỹ vàng sộm để ướp, thính khô sẽ hút hết nước nhớt và để lại vị thơm trên từng thớ thịt, xong xuôi thịt cá đem ra thái thành từng lát vừa phải trộn đều với nước gừng tươi ép và giềng tươi thái nhỏ, cho thêm chút lá chanh và muối trắng, tiếp tục trộn đều rồi lại ướp thêm cùng với thính.

Gỏi cá chép Nội Hoàng - món ăn giản dị nhưng được chế biến hết sức công phu, cầu kỳ
 
Bước tiếp theo quy trình là làm món lòng xào, món ăn kèm với cá, đây là món gia vị chính làm lên sự thành công của món gỏi cá, nguyên liệu để làm món này phải là cá trê ta, thịt cá lọc thành miếng thái nhỏ, xương cá trê và xương cá chép đã lọc mang ra giã nhỏ lọc bỏ hết bã, sau đó cho vào ninh với thịt cá trê bao giờ sánh đặc là được. Bước cuối cùng của quy trình là đi hái lá, lá ở đây là lá thuốc nam, ở làng quê Việt Nam cây thuốc bao giờ cũng luôn có sẵn, trong các vườn cây ăn trái, lá để ăn kèm với cá, đây mới là cốt lõi để kết lên những giá trị tinh hoa đặc sắc của món ăn này.

Lá thuốc bao gồm lá sắn thuyền, võng cách, vàng má, nõn chè, cúc tần, búp ổi, đinh lăng, lá và quả sung, mi chuối, chuối xanh... Khi tất cả công việc hoàn thành. Cá được trình bày ra đĩa, Lòng xào múc ra bát, lá thuốc để vào kế bên, trong mâm, thêm bát nước chấm chanh ớt, tùy theo khẩu vị người ăn. Khi ăn ta có thể gói lá thuốc cuốn cùng gỏi cá, lòng xào hoặc có thể lấy lá bánh đa nem để gói cũng được...Tất cả hòa quện, pha trộn tạo lên một hương vị chua, cay, dòn, ngọt, đậm, bùi nơi đầu lưỡi.

Thưởng thức Gỏi cá không đơn thuần chỉ là một món ăn ngon, bổ, mà món ăn này còn chứa đựng bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa, nó như hội tụ đầy đủ những hương vị tinh ngon nhất của đất, của trời ban tặng cho người dân nơi đây. Đĩa gỏi cá được bầy lên chiếc mâm ăn cơm bằng gỗ cùng với chai rượu trắng nút lá chuối tỏa men cay nồng, cùng với những người bạn chi kỷ hàn huyên tâm sự, thì quả là vô cùng thú vị.

Trong cuộc sống hiện đại, bên cạnh nhưng nỗi lo toan, bộn bề công việc, có gì hơn khi được tận hưởng những giây phút thư giãn, được đắm mình trong một không gian yên bình, được tận hưởng không khí của một vùng quê đầm ấm, bên dòng sông êm đềm với những làn điệu dân ca, đằm thắm đắm say lòng người, được thưởng thức những món ăn truyền thống mà ông cha ta để lại từ ngàn xưa. Những món ăn tuy đơn sơ mộc mạc, nhưng nó đã tạo nên dáng hình của làng quê Việt Nam. Dù bất cứ ai đã từng được sống trong những khoảng khắc như vậy, chắc hẳn sẽ luôn có cảm nhận càng thêm mến yêu cuộc sống, con người và làng quê Việt dấu yêu.

Để duy trì tồn tại và phát triển những sản vật là đặc sản truyền thống của địa phương, mỗi con người chúng ta cần phải biết tôn vinh, gìn giữ và phát huy những giá trị của nó, đó cũng chính là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của con người Việt Nam cho thế hệ mai sau./.
Theo dulichvn.org.vn
 

Nham Vân Xuyên: Đặc sản Bắc Giang

Thơm, bùi, béo ngậy đó là đặc trưng hấp dẫn không thể cưỡng lại của món Nham cá dân dã nhưng đã trở thành đặc sản nổi tiếng khắp vùng của người làng Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa.
Nguyên liệu chính để làm Nham gồm: Trám đen nấu bỏ hạt lấy cùi; thịt ba chỉ áp chảo thái chỉ; thịt cá chép (phải là cá đánh bắt từ sông Cầu) nướng (rán) giòn. Ba thứ đó theo tỉ lệ 1:1:1, đem trộn với gia vị như lạc rang, quả núc nác nướng, rau thơm, khế chua, nêm mắm muối vừa đủ.

Nguyên liệu chính để làm món Nham cá phải là cá chép tươi đánh bắt từ sông Cầu
 
Cách làm như sau:

Trám đen; thịt ba chỉ áp chảo thái chỉ; cá chép nướng (rán) giòn gỡ xương lấy thịt, rau mùi gai, húng quế, tía tô khế chua thái nhỏ, đặc biệt không thể thiếu lá gừng tươi và lá hẹ.

Bao người con của Hiệp Hòa đi xa, chẳng ai không đau đáu trong tiềm thức của mình hình ảnh xum vầy của gia đình bên mâm cơm và đặc biệt ấn tượng không khí gia đình, bạn bè ngồi quây quần bên mâm cỗ quê, thưởng thức món Nham, hòa quyện với chén rượu cay cay, thơm nồng gạo mới làm nên phong vị hồn quê khó quên.

Món Nham cá dân dã nhưng đã trở thành đặc sản nổi tiếng khắp vùng của người làng Vân Xuyên

Về với An toàn khu II Hiệp Hòa hôm nay, du khách không chỉ nhận được sự đón tiếp nồng ấm, chân thành của người Hiệp Hòa hiếu khách mà còn được thưởng thức biết bao sản vật, nhưng hãy nhớ, xin đừng bỏ bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món ăn dân dã, hấp dẫn này./.
Theo dulichvn.org.vn

Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

Thèm tô mì chũ của cô chủ

(NLĐO) – Cảm giác lần đầu thưởng thức tô mì chũ thật khó tả, đặc biệt hơn là nó được nấu bởi chính tay cô chủ nhà xinh đẹp.

Tôi là dân miền Nam nên khi nghe đến mì chũ thì thấy lạ lắm. Bởi vậy, khi cô chủ nhà bưng bát phở mì chũ nghi ngút khói thơm phức tôi liền nói: "Tưởng món gì chứ cái này ai chẳng biết là phở". Cô chủ nhà không đáp ngay mà chỉ cười và kêu tôi thưởng thức. Wow! Quả là khác thiệt, nhất là ở nước dùng và cọng mì ngọt dai, ăn hoài không ngán.
Thèm tô mì chũ của cô chủ - Ảnh 1.
Sợi mì sau khi được trụng sơ qua nước sôi
Đó là kỷ niệm mà tôi nhớ nhất khi ngày đầu lên Sài Gòn trọ học. Chủ nhà trọ là người Bắc Giang vào Sài Gòn lập nghiệp đã nhiều năm. Nhân dịp vừa xây xong dãy nhà trọ mới, chủ nhà muốn đãi chúng tôi một bữa làm quen. Nhà bà chủ có hai cô con gái – Hồng và Duyên, cô nào cũng ngoan hiền và đặc biệt nấu ăn rất ngon. Với món ăn truyền thống của quê hương họ - mì chũ - thì hầu như người nào trong nhà này cũng đều biết nấu.
Thèm tô mì chũ của cô chủ - Ảnh 2.
Duyên kể để làm được sợi mì vừa dai, vừa ngọt bùi, người dân Bắc Giang phải tốn rất nhiều công sức. Quan trọng nhất là khâu lựa chọn nguyên liệu. Gạo làm mì phải là những hạt căng mẩy được nhặt sạch, vo kỹ rồi ngâm trong nước khoảng 8 giờ, sau đó bỏ ra xay nhuyễn thành một thứ bột sánh và dẻo; rồi được lọc đi lọc lại nhiều lần, tiếp đó ủ qua một đêm. Sáng hôm sau đem tráng bánh, đem phơi và cắt thành sợi mì đều đặn…
Thèm tô mì chũ của cô chủ - Ảnh 3.
Cho thịt bò xắt lát lên trên tô mì kèm hành lá
Mì chũ có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau nhưng ngon nhất là nấu phở bò. Để có nồi nước dùng đậm đà, Duyên mua xương gà về hầm với các gia vị làm nước dùng thật thơm. Thịt bò phải là loại mềm, dai và tươi thì mới ngon. Nêm nếm nước dùng cho vừa ăn rồi trụng sơ mì chũ với nước sôi cho mềm. Sau đó cho ra tô rồi để thịt bò xắt lát lên trên kèm hành lá… Cuối cùng là chan nước dùng đang sôi vào tô và thưởng thức.
Thoạt nhìn tô mì chũ tựa như món ăn quốc hồn quốc túy của Việt Nam là phở nhưng khi ăn vào sẽ cảm nhận được vị khác biệt của nó. Đặc biệt, sợi mì không bị nở to, bở vụn khi để lâu trong nước dùng.
Thèm tô mì chũ của cô chủ - Ảnh 4.
Cũng vì tô mì chũ ngon khó tả đó mà tôi đem lòng thương mến cô chị. Những ngày cuối tuần, tôi thường sang nhà bà chủ phụ giúp vài việc vặt như làm vườn, sửa điện, nước… chỉ mong được cô chủ duyên dáng đãi cho món lạ... Vài năm sau đó, do gia đình chủ nhà xảy ra biến cố và dọn di nơi khác và mang theo mối tình vừa chớm nở của tôi với cô chủ nhỏ. 
Sáng nay, bất ngờ được thưởng thức lại món xưa từ tay bà xã nấu. Vẫn vị ngọt từ nước hầm gà và vị ngọt dai của mì nhưng tôi vẫn có cảm giác không đúng vị. Có thể với tôi, món này chỉ có "người xưa" là nấu ngon nhất.

Bài và ảnh: Duyên Anh

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

'Săn ảnh' bánh đa, thưởng thức đặc sản Thổ Hà

TTO - Nằm ven sông Cầu, làng Thổ Hà xưa nổi tiếng với nghề làm gốm giờ lại nổi danh khắp gần xa và khách lãng du với nghề làm bánh đa, đặc biệt bánh đa dừa đặc sản thơm lừng.
'Săn ảnh' bánh đa, thưởng thức đặc sản Thổ Hà
Bánh đa phơi tràn sân, che kín các mái nhà - Ảnh: Đ.Anh
Chúng tôi gửi xe ở một ngôi nhà ven đường chính rồi đi bộ xuống bến phà. Gọi là bến phà nhưng thực chất hai bên bờ sông chỉ cách nhau vài mươi mét. Đứng bên này bờ đã thấy lòng rộn lên khi nhìn thấy hình ảnh cây đa bến nước quen thuộc đầu làng.
Buổi sáng, nắng vàng ươm trên những mái nhà, trên mặt sông lấp loáng nước và càng rực lên trên những hàng hàng lớp lớp phên bánh đang phơi khắp đầu làng, ngõ xóm, những con đường nhỏ dẫn xuống bến sông quê.
Hơi thở ngột ngạt nơi phố thị bỗng chốc như tan biến.
Nằm bên dòng sông Cầu, làng Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, Bắc Giang một thời vang bóng với nghề làm gốm. Đi sâu vào làng, sẽ thấy dấu tích ngôi làng nổi tiếng đất Kinh Bắc xưa vẫn còn in đậm trong từng con ngõ nhỏ, trên từng bức tường xây bằng tiểu sành, những mái ngói nhuốm màu thời gian…
Dòng đời trôi, nghề gốm làng Thổ Hà cũng dần mai một, thay vào đó là nghề làm bánh đa, đặc biệt bánh đa dừa thơm lừng đặc trưng khó tìm thấy ở bất kỳ vùng đất nào.
Mươi, mười lăm năm nay, khách không chỉ tìm đến Thổ Hà để chiêm ngưỡng ngôi làng nổi tiếng với những con ngõ nhỏ tuyệt đẹp với những bức tường độc đáo xây bằng tiểu sành mà còn để săn ảnh người dân làm bánh đa, thưởng thức món đặc sản riêng có của vùng đất này...
'Săn ảnh' bánh đa, thưởng thức đặc sản Thổ Hà
Bánh đa phơi đầy ngõ nhỏ - Ảnh: Đ.Anh 
'Săn ảnh' bánh đa, thưởng thức đặc sản Thổ Hà
Bến nước đầu làng Thổ Hà với những phên bánh đa phơi ngày nắng tốt - Ảnh: Đ.Anh
Để có những chiếc bánh đa riêng có của vùng đất này, người làng Thổ Hà thường chọn các loại gạo tẻ dẻo, thơm để xay thành bột làm bánh. Bánh đa tráng xong được trải lên các tấm phên tre rồi mang phơi.
Công đoạn phơi nắng có lẽ là hình ảnh gây ấn tượng nhiều nhất với bất kỳ ai từng một lần đến Thổ Hà. Những ngày nắng đẹp, đi khắp đường làng, ngõ xóm, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những phên bánh sắp thành hàng dài hai bên tường nhà, bờ rào…
Phên bánh “treo” đầy sân, gác ngang mái những ngôi nhà nằm trong ngõ nhỏ… làm thành những mái che tuyệt đẹp dưới ánh nắng mặt trời.
Những ngày nắng tốt, bánh chỉ phơi một nắng đã khô, đem vào cắt là cho ra bánh đa nem thành phẩm.
Ở làng nghề, những mẩu bánh thừa trong quá trình cắt được tận dụng làm thành món đầu nem xào thơm ngon với bí quyết riêng của từng nhà với các nguyên liệu đơn giản như sa tế, tỏi, ớt... trở thành món ngon cho trẻ con và các bạn trẻ. 
Cũng qua nhiều công đoạn công phu, nhưng món bánh đa dừa độc đáo làng Thổ Hà cách làm phức tạp hơn nhiều. Cũng làm từ bột gạo tẻ, nhưng phải qua hai lượt tráng, một lượt tráng bánh không, một lượt tráng chung các nguyên liệu vừng, lạc, dừa đã qua sơ chế và thường nướng chín rồi mới đem bán.
Đến đây, hết dạo quanh làng thăm thú, xem người dân phơi bánh, khách lại thích thú sà vào những hàng bánh đa nướng với những bếp than hồng rực. Thú nhất là nhìn chiếc bánh dày cộp bắt đầu phồng lên rồi thơm lừng trên bếp.
'Săn ảnh' bánh đa, thưởng thức đặc sản Thổ Hà
Nướng bánh đa dừa - Ảnh: Hoàng Hà Mai
'Săn ảnh' bánh đa, thưởng thức đặc sản Thổ Hà
Thử miếng bánh đa dừa thơm phức - Ảnh: Hoàng Hà Mai
Mùi thơm của dừa, của lạc quyện cùng mùi thơm của gạo, của đường phèn làm bất kỳ thực khách nào cũng không thể kềm lòng. Cầm chiếc bánh vừa nướng giòn tan, cắn một miếng thấy như vị bùi, vị béo vị thơm như còn mãi trong miệng.
Ăn một miếng rồi lại muốn ăn thêm miếng nữa. Cứ thế cà kê với chiếc bánh đa thơm lừng bên tách chè nóng ấm mà quên mất trời đã về chiều.
Đứng trên con phà nhỏ nhắn rời làng, trong tay những lữ khách đường xa giờ lại có thêm những xâu bánh mang về làm quà. Đặc sản bánh đa Thổ Hà cũng cứ theo đó ngày càng lan xa… 
Đ.ANH