Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Ơ Đu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Ơ Đu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2019

Độc đáo bộ nam phục người Ơ đu

(Baonghean.vn) - Là dân tộc duy nhất có ở Tương Dương (Nghệ An), dân tộc Ơ đu cũng có truyền thống tự dệt vải và may trang phục cho dân tộc mình. Bộ trang phục nam giới của dân tộc cũng có nhiều nét độc đáo riêng so với các dân tộc khác.
Cũng giống như nữ giới, nam giới đồng bào dân tộc này cũng có bộ trang phục riêng và không kém phầm độc đáo. Với bộ trang phục người phụ nữ màu chủ đạo là màu đen, thì nam phục người Ơ đu là màu đỏ nhạt, màu chàm. Ảnh: Đình Tuân
Bộ nam phục Ơ đu được làm từ sợi tơ tằm gồm có quần và áo. Trong khi áo thường được may thêm 2 cái túi ở phía dưới thân áo. Còn quần không có khuy, cúc và dây chun mà dùng bằng sợi dây để cố định lại khi mặc. Ảnh Đình Tuân
Trước kia do chưa có cúc nên 2 thân áo được may những sợi dây để buộc lại với nhau. Ảnh: Đình Tuân
Cổ áo thường là cổ tròng. Ảnh: Đình Tuân
Hiện nay, trang phục truyền thống ít được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống thường ngày. Thế nhưng trong sự phát triển của thời trang hiện đại, không chỉ có trang phục mà nhiều nét văn hóa độc đáo của người dân tộc Ơ đu cũng đã mai một khá nhiều. Ảnh: Đình Tuân
Là 1 trong 5 dân tộc ít người nhất và cũng là dân tộc duy nhất có ở Tương Dương (Nghệ An), nên trong thời gian qua nhận được nhiều sự quan tâm đầu tư phục dựng kinh phí để bảo tồn, gìn giữ lại những nét văn hóa độc đáo của dân tộc Ơ đu. Hy vọng với sự vào cuộc của cả cộng đồng sẽ giúp bản sắc văn hóa dân tộc Ơ đu luôn trường tồn và phát triển. Ảnh: Đình Tuân

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Độc đáo bộ trang phục phụ nữ của một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam

(Baonghean.vn) - Ơ đu là 1 trong 5 dân tộc ít người nhất của Việt Nam, cũng là dân tộc duy nhất có ở Tương Dương, Nghệ An. Bấy lâu, phong tục văn hóa, bản sắc riêng người Ơ đu đã bị mai một. Còn rất ít người biết và nhớ được trang phục truyền thống của dân tộc mình.
Bà Vi Thị Dung (người con dâu của đồng bào dân tộc Ơ đu), ở bản Văng Môn, xã Nga My, huyện Tương Dương là một trong số ít người còn biết dệt, thêu, may trang phục dân tộc Ơ đu cho biết: “Để làm ra một bộ trang phục cần sự kiên trì, tỉ mỉ và mất không ít thời gian vì tất cả các công đoạn đều phải làm bằng phương pháp thủ công”. Ảnh: Đình Tuân
Bấy lâu nay, trang phục của người Ơ đu sử dụng gần với trang phục người Thái và bị ảnh hưởng của văn hóa Thái. Váy, thắt lưng và khăn quấn đầu của người Ơ đu đều được dệt bằng sợi tơ tằm. Ảnh: Đình Tuân
Tuy nhiên, nếu như chân váy của người phụ nữ Thái thường được thêu với nhiều loại hoa văn phần lớn là các hình mô phỏng về thiên nhiên như hoa lá, động vật, mặt trời, các hình khối với nhiều màu sắc sặc sỡ thì chân váy của người phụ nữ Ơ đu thường thêu các hình khối zíc zắc và nhỏ bản hơn với so với chân váy người phụ nữ Thái. Ảnh: Đình Tuân
Thân váy và áo của người phụ nữ Ơ đu thường là màu đen. Áo của phụ nữ Ơ đu có tay phải dài, không có áo tay ngắn. Tuy nhiên, chiều dài của áo thì chỉ quá ngực, vừa chạm đến phần eo. Áo không khuy, không cúc, mà dùng 4 sợi dây buộc chéo; thắt lưng và khăn quấn đầu không thêu hoa văn. Ảnh: Đình Tuân
Theo bà Mạc Thị Tím, Trưởng bản Văng Môn, xã Nga My (Tương Dương) cho biết: “ Những năm gần đây, các cấp các ngành thường xuyên quan tâm đầu tư kinh phí để phục dựng lại những nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc Ơ đu; Chi bộ, BQL bản cũng thường xuyên tuyên truyền nên bà con nhân dân đã từng bước ý thức được việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình”. Ảnh: Đình Tuân

Được biết hiện nay giá bán mỗi bộ trang phục đầy đủ gồm có: váy, áo, dây thắt lưng, khăn quấn đầu có giá bán từ 700 ngàn – 1.000.000 đồng/ bộ. Ảnh: Đình Tuân
Nếu những nét văn hóa dân tộc đặc trưng của đồng bào dân tộc Ơ đu được gìn giữ và phát triển có lẽ sẽ mang lại lợi thế cho người dân trong phát triển du lịch cộng đồng, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững cho người dân tộc chỉ có duy nhất ở Tương Dương, Nghệ An. Ảnh: Đình Tuân

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

Kiến trúc ngôi nhà của người Ơ Đu, Nghệ An

Những ngôi nhà quay mặt vào núi, dựng theo chiều thẳng đứng chỉ có ở tộc người Ơ Đu (Nghệ An).
Nhà ở của người Ơ Đu ở Nghệ An đã thay đổi ít nhiều so với truyền thống trước đây, nhưng vẫn giữ được những nét khác biệt với các dân tộc xung quanh. Những ngôi nhà quay mặt vào núi, dựng theo chiều thẳng đứng. Ngay danh từ “nhà ở”, theo tiếng Ơ Đu là “dinh luồng tẳng”, đã phản ánh đặc trưng kiến trúc ngôi nhà truyền thống của dân tộc này. “Dinh” là nhà, “luồng” là chiều, “tẳng” là đứng.
 
Ngôi nhà truyền thống của người Ơ Đu.

Trước đây, nhà của người Ơ Đu không đặt ngang mà dọc lên đỉnh núi. Đặt dọc thì cột ở dưới bao giờ cũng phải dài hơn. “Dinh luồng tẳng”, là nhà dựng thẳng theo chiều dọc lên núi. Bà con thường dựng nhà rất nhỏ, theo kiểu nhà có 4 mái. Trong nhà có 2 bếp, một bếp gần cửa ra vào thường để nấu cơm cúng trong ngày lễ tết, bếp ở phía cuối nhà là nơi nấu ăn hàng ngày của gia đình. Bà con bảo, dù nhà gỗ hay bê tông cốt thép gì thì cũng phải theo phong tục của người Ơ Đu, vẫn phải theo lối kiến trúc “dinh luồng tẳng”.
 
Người Ơ Đu có những lễ nghi kiêng kị trong nhà như quan hệ giữa con dâu với những người nam giới trong gia đình nhà chồng khá kín kẽ, nghiêm ngặt. Điều này là một trong những khác biệt giữa người Ơ Đu với người Khơ Mú: - “Họ kiêng, tôi là bố chồng chẳng hạn, ít ngồi với con dâu. Khi có con cái, lâu lâu mới ngồi. Anh cả trong nhà cũng ít ngồi với em dâu”.

Nếu bạn vào nhà người Ơ Đu, hãy để ý bếp lửa và nơi thờ ma nhà của họ. Nhà người Ơ Đu, giống nhà người Khơ Mú, có 2 bếp. Người Ơ Đu, người Khơ Mú ở Nghệ An thường có 2 bếp, 1 bếp dành cho phụ nữ, 1 bếp dành cho đàn ông. Họ còn có 1 bếp nữa là bếp kiêng. Thường thì gian thờ ma nhà của người Khơ Mú là gian trong cùng, trong đấy có 1 bếp. Bếp ấy, lúc nào làm nhà lớn, còn gọi là làm nhà nhảy, người ta mổ trâu mổ bò đưa qua đầu hồi lên bếp ấy nấu, chứ không đưa lên cầu thang chính. Người Ơ Đu cũng vậy.

Nhưng nơi thờ tổ tiên của người Ơ Đu không phải là bếp thứ 3 như người Khơ Mú, mà là một gác nhỏ trên vách nhà sàn. Bàn thờ để trên vách như người Thái, nhưng hình thức bàn thờ thì khác. Người Ơ Đu không có bài vị, chỉ thờ một đời bố. Bố còn thì con không có bàn thờ. Bố mất đi thì con có bàn thờ. Nếu bố còn, đến Tết, cúng tổ tiên, con mang một mâm cỗ đến nhà bố để góp lễ.

Người Ơ Đu quan niệm, khi chết, linh hồn người chết, tức là ma nhà, vẫn quanh quẩn bên người thân, ảnh hưởng đến hoạt động của mọi người trong nhà. Vì vậy, phải thờ cúng tổ tiên, cầu mong tổ tiên phù hộ những điều tốt lành nhất cho con cháu.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn
 

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018

Tại sao người Ơ đu lại sợ tiếng chiêng

(Baonghean.vn) - Tiếng chiêng không phải là âm thanh mong đợi của người Ơ đu cư trú ở xã Nga My, huyện Tương Dương (Nghệ An). Khi một ai đó gõ chiêng là thảm họa của cả nhà, thậm chí là cả dòng họ. Tiếng chiêng vang lên được cho là sẽ động đến Then (nhà Trời) và sẽ bị giáng họa.
Những người phụ nữ dân tộc Ơ đu
Cộng đồng người Ở đu là một trong 54 dân tộc của Việt Nam và chỉ có duy nhất ở huyện Tương Dương. Trước năm 2006, người Ở đu sinh sống ở các bản Xốp Pột, Pủng Ca Moong, Kim Hòa xã Kim Đa. Ở một số xã, người Ơ đu sống hòa lẫn với người Thái, Khơ mú. Từ năm 2006, người Ơ đu di dời đến sinh sống tại bản Văng Môn, xã Nga My. Những bản cũ của họ đã chìm vào lòng hồ thủy điện Bản Vẽ.
Một ngôi nhà được cho là giống với kiến trúc cổ của người Ơ đu nhất tại bản Văng Môn, xã Nga My (Tương Dương).
Ngày nay về cơ bản văn hóa của người Ơ đu  gần như đã biến mất hoàn toàn. Chỉ có những người già nhất nhớ được hơn 200 từ, nhưng không ít trong số này vay mượn tiếng Thái. Họ chỉ còn giữ được rất ít tập tục trong đó tiêu biểu là nỗi sợ tiếng chiêng.
Ông Lo Văn Phúc, một trong số ít người già nhất còn lại trong bản cho biết hiện nay người Ơ đu giữ phong tục không gõ chiêng, trống. Tiếng chiêng chỉ vang lên một lần trong năm. Đó là lúc có tiếng sấm đầu năm, chủ nhà sẽ gõ 3 tiếng chiêng rồi treo lên vị trí trang trọng, gần bàn thờ tổ tiên. Từ đó trong suốt một năm không ai được động đến nữa.
Ông đựng tiền, giỏ cá, giỏ tra hạt của người Ơ đu tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Người Ơ đu cho rằng tai họa sẽ đến nếu ai vô tình hay cô ý gõ chiêng vào ngày thường. Gõ chiêng trong ngày không có tiếng sấm đầu năm lần lượt từng người trong nhà sẽ ốm đau bệnh tật, dẫn đến mất mạng. Sau đó sẽ đến những người trong họ hàng. Để tránh tai họa, người phạm vào tục cấm sẽ phải mổ lợn, thậm chí là trâu bò để cúng Then (Trời) xin xá tội. Lễ cúng thường rất tốn kém nên chẳng mấy ai dám vi phạm luật tục.
Theo ông Lo Văn Phúc, nỗi sợ tiếng chiêng liên quan đến tục thờ Trời của người Ơ đu. Phong tục này bắt dầu bởi quan niệm khởi điểm của một năm kể từ khi có tiếng sấm đầu tiên. Con ông Lo Văn Tình - Bí thư Chi bộ bản Văng Môn cho biết: Trước kia người Ơ đu đã lập lời thề sẽ không bao giờ gõ trống chiêng trong ngày thường. Chỉ đánh lên một hồi 3 tiếng khi nghe tiếng sấm đầu năm. Từ đó thành tập tục.
Hữu Vi

Lễ hội “Chăm phtroong trmây” của người Ơ Đu

(Baonghean) - Người Ơ Đu nước ta cư trú duy nhất ở huyện Tương Dương. Họ có số dân ít (năm 2003 là 459 người), ngôn ngữ thuộc hệ Nam Á, ngành Môn – Khơme, nhưng tiếng Ơ Đu đang có nguy cơ bị biến mất, vì bây giờ họ không nhớ và dùng tiếng mẹ đẻ nữa. Theo đó, các phong tục tập quán cũng dần bị lãng quên. Tuy nhiên, đối với những người già, họ vẫn còn nhớ lễ hội “Chăm phtroong trmây”, tức lễ hội Mừng tiếng sấm đầu năm. 
Tiếng sấm đầu năm đối với người Ơ Đu rất quan trọng. Nó đánh dấu năm mới bắt đầu đồng thời khởi đầu cho một năm làm ăn mới; các thầy mo (Doọng Xưn Or) bắt đầu “lên lịch” ngày – giờ tốt, ngày – giờ xấu, ngày – giờ tiến hành các việc trọng đại (tang, cưới, làm nhà mới, cúng mường, cúng bản, cúng nhà…) trong năm… Đứa trẻ sinh trước tiếng sấm mấy ngày coi như “chưa sinh”, phải chờ có tiếng sấm mới tính tuổi, lúc đó nó được coi là đã 1 tuổi và mới được làm lễ đặt tên. Người chết cũng vậy, chết trước tiếng sấm thì coi như “chưa chết”, hồn chưa lên trời, có tiếng sấm đầu năm mới coi là “chết”, hồn mới lên trời để “đầu thai” trở lại trần gian. Vì vậy, ai góa chồng, góa vợ phải chờ sau khi có tiếng sấm đầu năm mới có thể “tái giá, đi bước nữa”, làm lễ cưới “Kệ Kangrai”,…

Vì thế, đối với người Ơ Đu, lễ hội “Chăm phtroong trmây” là lễ hội lớn nhất trong năm. Ngày đó, người Ơ Đu toàn Vương quốc “Phrom Ơ Đu” tụ tập về thung lũng núi Pú Pầu, vùng Xốp Pột, Huồi Pòng, Huồi San, để mở hội năm mới. Quốc vương Ơ Đu cùng với thầy cúng “Doọng Xưn Or” chủ trì lễ tế trời đất, mổ trâu, mổ lợn ăn mừng, đánh trống chiêng, đốt lửa trại, nhảy sạp, vỗ ống, khắc luống,… Tiếp đó, các gia đình mới về nhà của mình mổ lợn gà, cúng tổ tiên, cúng ma nhà, cúng hồn lúa – vua bếp…; mời họ hàng, thân thích ăn uống; mang vật hộ mệnh ra rửa để mang vào cổ, vào tay… cầu mong một năm mới tốt lành…

Ngày nay, huyện Tương Dương đang tiến hành bảo tồn tộc người Ơ Đu (quy tụ họ về bản Văng Môn), trong đó quan trọng nhất là phục hồi ngôn ngữ, phong tục tập quán, đương nhiên không thể quên lễ hội “Chăm phtroong trmây”.

Quán Vi Miên

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

Tết mừng tiếng sấm của người Ơ Đu

Lê San 

(Dân Việt) Trong dịp tết Chăm phtrong, đồng bào Ơ Đu chọn 1 con lợn để cúng tổ tiên, tuỳ thuộc điều kiện mà mổ lợn to hay nhỏ. Khi mổ lợn, các gia đình Ơ Đu đều mời dân làng tới dự và uống rượu để ăn tết cùng. Đây được xem là dịp gia chủ cảm ơn bà con, hàng xóm trong bản làng đã giúp đỡ gia đình năm qua.

Từ xa xưa, người Ơ Đu ở bản Văng Môn, xã Nga My, huyện Tương Dương (Nghệ An) thường phải dựa theo tiếng sấm để xác định thời gian. Anh Lo Xuân Tình – Bí thư Chi bộ xã Nga My cho biết: “Thời ông cha xưa không có đồng hồ, lịch như bây giờ, chỉ dựa vào tiếng sấm. Khi tiếng sấm vang lên là năm mới đến, đến tiếng sấm lần sau là kết thúc một năm rồi”.
 tet mung tieng sam cua nguoi o du hinh anh 1
Thầy cúng thực hiện nghi lễ cúng thần sấm.    ảnh: L.S
Tết mừng tiếng sấm (tết Chăm phtrong) là tập tục cổ xưa duy nhất được người Ơ Đu lưu giữ với mong muốn một năm mưa thuận gió hòa, thuận lợi cho việc trồng trọt, săn bắt. Với người Ơ Đu, lễ mừng tiếng sấm năm mới là ngày tết lớn nhất, được tổ chức long trọng, mổ trâu lợn ăn uống linh đình. Anh Lo Văn Thái – Trưởng bản Văng Môn cho biết: “Trong ngày tết Chăm phtrong, trên bàn thờ gia đình của người Ơ Đu được trang trí rất cầu kỳ, với các loại giấy ngũ sắc rực rỡ. Nhưng màu đỏ lại không được xuất hiện trong ngày tết, bởi bà con rất sợ lửa”.
Trong dịp tết Chăm phtrong, đồng bào Ơ Đu chọn 1 con lợn để cúng tổ tiên, tuỳ thuộc điều kiện mà mổ lợn to hay nhỏ. Khi mổ lợn, các gia đình Ơ Đu đều mời dân làng tới dự và uống rượu để ăn tết cùng. Đây được xem là dịp gia chủ cảm ơn bà con, hàng xóm trong bản làng đã giúp đỡ gia đình năm qua. Mỗi gia đình đều phải chuẩn bị 1 con gà trống thiến- con gà này sẽ thịt để làm lễ cúng và cặp chân gà được giữ cẩn thận. Sau khi cúng tổ tiên, các gia đình sẽ mang đến nhà cộng đồng nhờ những thầy mo giỏi nhất bản làm lễ thăm chân gà. Theo quan niệm xưa, việc xem chân gà đầu năm để xem năm mới được no ấm, hạnh phúc. Người Ơ Đu cho rằng, sau tiếng sấm đầu tiên trong năm, con vật cất tiếng kêu đầu tiên là con gà, vì vậy gà là linh vật thần sấm gửi gắm thông điệp ngày đầu năm.
Tiếp đó sẽ đến phần hội, với tiếng cồng chiêng, trống và nhạc cụ làm từ ống nứa. Chủ và khách cùng thưởng thức lễ vật và nhảy múa theo những giai điệu truyền thống. Xưa, tết Chăm phtrong kéo dài 5-7 ngày, nhưng hiện nay đồng bào Ơ Đu chỉ tổ chức 1 ngày.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Khám phá Tết đặc biệt của dân tộc ít người nhất Việt Nam

Người Ơ Đu tính thời gian trong năm bắt đầu từ ngày có tiếng sấm (Tết Chăm Phtrong) đầu tiên. Đây là tập tục cổ xưa của các dân tộc thiểu số quen sống bằng nghề trồng trọt.
Ngoài lễ đón sấm đầu năm (Chăm Phtrong), người Ơ Đu còn ăn Tết Nguyên Đán, tổ chức lễ rước hồn lúa và ăn cơm mới.  Song đối với tộc người Ơ Đu, lễ mừng tiếng sấm năm mới là lễ hội lớn - ngày Tết lớn nhất trong năm, bà con tổ chức rất long trọng, giết trâu, mổ lợn ăn uống linh đình khắp các thôn làng, ngõ xóm... Tết Chăm Phtrong thường diễn ra khoảng một tháng trước Tết Nguyên Đán.
Phong tục đón Tết Chăm Phtrong của người Ơ Đu khá độc đáo và đặc sắc. Điểm nổi bật trong ngôi nhà của đồng bào trong dịp Tết Chăm Phtrong đó là trang trí bàn thờ. Bàn thờ ma nhà và bàn thờ thổ công được trang hoàng lộng lẫy, sặc sỡ với các loại giấy ngũ sắc (người Ơ Đu rất sợ lửa vì vậy họ kiêng kị đối với màu đỏ) trang trí khắp khu vực bàn thờ trong những ngày Tết.

Mâm cỗ ngày Tết Chăm Phtrong
Theo tập quán truyền thống, nhà nào cũng mổ một con gà trống thiến để xem chân gà với quan niệm dự đoán những điều may rủi cho năm mới của gia đình.
Sau khi cúng tổ tiên, người ta đem chân gà về nhà cộng đồng nhờ thầy mo làm lễ thăm chân gà. Đồng bào xem chân gà để cầu mong một năm mới ấm no, hạnh phúc. Các cụ già trong gia đình thường nghe sau khi có tiếng sấm đầu tiên con vật gì sẽ kêu trước.
Trong ngày Tết Chăm Phtrong, mỗi gia đình đều phải mổ một con lợn dù to hay nhỏ để cúng tổ tiên. Khi mổ lợn, gia chủ mời dân làng tới dự và ăn Tết cùng gia đình. Đây là dịp gia chủ cảm ơn bà con lối xóm trong một năm đã giúp đỡ gia đình và là dịp để mời dân làng uống rượu.
Một số nghi lễ trong dịp Tết Chăm Phtrong được tổ chức ở nhà cộng đồng.
Nghi lễ đầu tiên trong ngày Tết Chăm Phtrong là phong sắc, phong tước cho các chức sắc trong bản như trưởng họ, già làng, các chức sắc trong giới thày mo và đổi tên cho những người đàn ông đã trưởng thành (có con cháu đầy đàn). Sau lễ phong sắc là lễ bỏ tang.
Những nhà có người chết trong năm thì mời thầy mo về nhà làm lễ tiến linh hồn người chết về với tiên tổ, đồng thời tiến hành làm nghi lễ bỏ tang cho người góa bụa, sau lễ mừng tiếng sấm họ có thể đi bước nữa.
Sau lễ bỏ tang thì đồng bào tiến hành làm lễ nhập họ, đặt tên cho đứa trẻ sinh trong năm. Những đứa trẻ sinh trong năm, đến ngày Tết Chăm Phtrong được các thầy mo đến nhà làm lễ nhập họ và chính thức đặt tên.
Lễ đón mừng tiếng sấm năm mới thường kéo dài cho đến khi xong xuôi mọi công việc quan trọng trong bản thì lễ hội mới kết thúc, nói chung diễn ra từ 5 đến 7 ngày.
Người Ơ Đu tổ chức Tết Chăm Phtrong theo từng vùng, từng cụm dân cư. Khoảng những năm 50 (thế kỷ XX) về trước đồng bào Ơ Đu khắp nơi thường tụ họp về Xốp Pột (Kim Đa, Tương Dương, Nghệ An) để vui hội Chăm Phtrong, vì theo họ nghĩ vua của người Ơ Đu đã từng đóng đô ở đó. Họ giết trâu, mổ bò, lợn, uống rượu cần, ca hát, nhảy múa, chơi các trò chơi như đánh khăng, chọi gụ, chọi gà, đi kà kheo... rất từng bừng. Ngoài lễ đón sấm đầu năm (Chăm Phtrong), người Ơ Đu còn ăn Tết nguyên đán, tổ chức lễ rước hồn lúa và ăn cơm mới.
Sau cách mạng Tháng Tám, các dân tộc được sống bình đẳng, dồng bào Ơ Đu quy tụ về sinh sống ở bản Xốp Pột, Kim Hòa, xã Kim Đa, một vài hộ sinh sống rải rác ở bản Tạ Xiêng, xã Kim Tiến (5), bản Xiêng Hương, xã Xá Lượng (Tương Dương, Nghệ An). Tuy nhiên, thế hệ con cháu tộc người Ơ Đu ở vào thời điểm đó kể cả người già nhất cũng đã quên hết ngôn ngữ, phong tục tập quán của mình.
Năm 2006, để nhường mặt bằng cho việc xây dựng công trình thủy điện Bản Vẽ, đồng bào Ơ đu ở Xốp Pột, Kim Hòa lại tiếp tục cuộc thiên di lịch sử về sinh sống tại bản Văng Môn, xã Nga My, huyện Tương Dương. Hiện nay, dân số của tộc người Ơ đu ở Tương Dương khoảng hơn 600 người.
Người Ơ Ðu không có nhạc cụ riêng biệt mà họ sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái (xuối, nhuôn, lăm, tơm).
Người Ơ Đu quan niệm về thế giới bên kia gần giống như người Thái, ngoài các then như Then Luông, Then Vi, Then Bắc còn có thêm Then Na cai quản ruộng nương. Họ cho rằng những người bị hổ ăn thịt, hay chết hoặc mất tích trong rừng không phải do ma rừng bắt mà Then Na bắt đi làm lính hầu trông coi ruộng nương.
Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4-5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9-10. Công cụ làm rẫy gồm rìu (xoải), dao (pa đa), lưỡi hái (hep),... Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ; nghề hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển.
Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tínngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Thời xa xưa người Ơ Đu có nghề dệt vải, thêu thùa, may vá khá phát triển.
Hiện nay, sau bao cuộc thiên di nhưng tư liệu sản xuất, cũng như đồ dùng trong sinh hoạt hàng ngày, trang phục cổ truyền của nhóm Ơ Đu ở Tương Dươg không còn nữa. Người Ơ Đu ở Tương Dương bây giờ ăn mặc theo kiểu người Thái, người Kinh. Còn nhóm Ơ Đu ở bản Khạp, Muang Khoun (Lào) vẫn giữ được nghề dệt vải và tự may lấy trang phục.
Nếp nương vẫn là loại lương thực chính của người Ơ Đu, mỗi vụ, mỗi gia đình thường trồng vài ha lúa nương, ngoài ra họ còn trồng ngô, sắn. Người Ơ Đu thích ăn xôi đồ (nếp trộng với một ít sắn, hay ngô hoặc đậu), khi mất mùa, đói kém người ơ đu vào rừng kiếm củ nâu, củ mài thay cơm. Phương tiện vận chuyển duy nhất của người Ơ Đu là chiếc gùi (ga đế), có dây đeo bên trán. Chiếc gùi truyền thống được đan bằng giang rất chắc chắn và được trang trí hoa văn rất đẹp.
Người Ơ Đu ở nhà sàn. Kiến trú nhà ở của người Ơ Đu thường có 4 mái, lớp bằng nứa hoặc tranh, đầu nhà quay vào núi, cột chôn, một ngôi nhà thường có 4-8 cột, tương ứng với nhà 1 hay 3 gian. Khi dựng, bao giờ người Ơ Đu cũng dựng cột chính (cột góc ma nhà ở) trước, sau đó mới đến các cột khác theo thứ tự từ trái sang phải từ trên xuống dưới.
Thời hưng thịnh, người Ơ Đu sống độc lập, không xen kẽ với bất kỳ dân tộc nào. Họ chỉ giao du với người Thái, Khơ Mú, hay người Kinh khi có nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa. Sau bao biến động của lịch sử, ngày nay do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này.


Người Ơ Đu là một trong những dân tộc ít người nhất của Việt Nam. Hiện nay, dân tộc này đang sinh sống chủ yếu ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Cảnh Thắng (Dân Việt)