Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Mường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Mường. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

Tục “đóng cửa rừng“ của người Mường Thanh Sơn

Sống ở địa bàn miền núi, người Mường Thanh Sơn (Phú Thọ) rất coi trọng rừng, bởi với họ rừng vừa là thần, vừa là nguồn sống, rừng cho gỗ để làm nhà, dựng đình, dựng miếu; lúc giáp hạt, rừng cho củ lăn, củ mài, củ vớn ăn qua ngày.
Rừng là nơi đồng bào làm nương trồng ngô, khoai, sắn… Chính vì gắn bó với rừng, nên tục “đóng” và “mở” cửa rừng được coi là một tín ngưỡng linh thiêng của đồng bào miền sơn cước.

Ý nghĩa sâu xa của tục này chính là thái độ trách nhiệm của con người ứng xử với thiên nhiên. Khi đã “đóng cửa rừng”, mọi người phải “kiêng” vào rừng khai thác lâm sản, nếu ai cố ý vi phạm sẽ bị thần núi trừng phạt.
 
Ông Đinh Văn Hòa-người Mường (Khả Cửu) thực hiện nghi lễ “đóng cửa rừng”.
Người Mường Thanh Sơn quan niệm: Vị thần cai quản rừng núi của đồng bào nơi đây là Tản Viên Sơn Thánh và bộ hạ của ngài là các loài thú dữ.

Tục đóng cửa rừng còn liên quan đến một truyền thuyết về nguồn gốc Thần Tản Viên Sơn Thánh. Bà Đinh Thị Đen - mẹ Thần là con dòng Lang ở Xuân Đài - Yên Thượng; khi mang thai thần được vài tháng, bà đã sang núi Ba Vì, tìm đến động Lăng Xương (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ).

Sau đó, được dân bản giúp đỡ, bà và Thần kết bạn với bà Ma Thị. Khi bà Ma Thị mất, Thần trở thành người cai quản các động Mường, được dân bản gọi là chúa các động Mường…

Lễ đóng, mở cửa rừng là nghi thức cúng tế để biến báo với Sơn Thánh, cầu mong tài nguyên rừng ngày càng giàu có và phong phú. Nếu như tục mở cửa rừng diễn ra vào đầu năm mới, sau khi ăn tết xong thì tục đóng cửa rừng được đồng bào thực hiện vào cuối tháng 12 âm lịch, tức là trước Tết Nguyên đán.
Đồng bào Mường ở Khả Cửu thường làm lễ đóng cửa rừng vào ngày hai lăm tháng Chạp hàng năm. Kể từ ngày này không ai được vào rừng với bất cứ lý do gì. Ngày cấm kéo dài đến mồng bảy tháng Giêng năm mới. Sau ngày đó, mọi người lại được tự do vào rừng với những công việc liên quan đến cuộc sống, mưu sinh.

Đồng bào tiến hành lễ đóng cửa rừng cùng một lễ nhỏ cúng ma rừng, ma  núi, ma cây nơi mình sống. Còn Thần Tản Viên Sơn Thánh thường được dân bản thờ ở đình, miếu với ngôi vị cao nhất là tối đẳng thần linh.

Theo ông Đinh Văn Hòa, tuổi ngoài 60 - người đã thực hiện bao lần lễ tục đóng cửa rừng ở Khả Cửu, ngày nay, mặc dù cuộc sống đã được cải thiện, khoa học đã giải thích các hiện tượng tự nhiên song đa số đồng bào Mường vẫn duy trì tục đóng cửa rừng, tuy nghi thức có một số thay đổi so với trước đây.

Bà con ở nhiều xã vùng hạ vẫn giữ tục cấm rừng nhưng không còn tế lễ như xưa; còn các xã vùng cao của huyện như Khả Cửu thì vẫn gìn giữ nghi thức truyền thống. Mâm cơm cho Lễ đóng cửa rừng được chuẩn bị kỹ lưỡng, công phu, lễ vật gồm: Xôi trắng từ gạo nếp nương; gà trống được nuôi tại nhà; chim; thịt lợn; cá suối bắt tại cửa suối Dân, xóm Măng (do 3 con suối hợp nhau suối Sinh, Dân, Dấu); vàng, bạc tượng trưng được làm từ cây giang và cây trẩu (cây giang được tước lạt, cuốn thành vòng kết lại với nhau làm vàng; gỗ cây trẩu chẻ thành bó nhỏ làm bạc); trầu, cau, hoa quả… Mâm cơm được đặt cúng tại nhà, người ngồi cúng hướng ra cổng.
Những tục lệ trong các lễ nghi nông nghiệp tưởng như đơn giản nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong đời sống lao động sản xuất của đồng bào Mường Khả Cửu. Nó phản ánh khá đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của cư dân Mường, thể hiện đời sống tinh thần khá phong phú trong quan niệm về thiên nhiên…

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với nhiều chính sách cho vùng đồng bào dân tộc, Thanh Sơn đang thay đổi nhanh chóng cùng sự đi lên của đất nước. Chính sách giao đất, giao rừng cho nông dân cùng sự hỗ trợ về đầu tư hạ tầng, vốn sản xuất và bảo đảm an sinh xã hội đã thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển. Cùng với ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng; lễ đóng cửa rừng còn là sự tri ân thần núi, thần đất, thần nước về một năm mưa thuận gió hòa, rừng yên; đồng thời là một “luật tục” nhắc nhở bà con khi làm nương, làm rẫy không gây cháy rừng; có ý thức bảo vệ rừng, ngăn ngừa mọi hành vi xâm hại tài nguyên rừng, tích cực trồng cây để rừng mãi mãi tươi xanh.
Theo baophutho.vn
 

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Tưng bừng lễ hội Mường Xia

 - (VH&ĐS) Trong hai ngày mùng 6 và 7/03 (Tức ngày 09, 10/02 âm lịch) tại bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn diễn ra lễ hội Mường Xia thu hút đông đảo bà con dân tộc thiểu số tham dự.

Lễ hội Mường Xia bao gồm các xã thuộc Mường Chu Sàn như Tam Thanh, Tam Lư, Sơn Điện, Sơn Thuỷ và Na Mèo là một trong những Mường lớn của tộc người Thái ở khu vực biên giới miền Tây Thanh Hóa sống ven bờ con suối Xia.
Truyền thuyết kể lại rằng, vào khoảng thế kỷ XV, nơi đây chính là trung tâm của đất Mường Chu Sàn cũng là nơi gắn liền với truyền thuyết chuyện tình bi ai của Tạo Mường Chu Sàn.  
Câu chuyện xưa cũng kể lại rằng, vào khoảng thế kỷ XVII Tư Mã Hai Đào đã từng chọn nơi đây để xây dựng thủ phủ sinh sống đến cuối đời. Và cũng chính ông là người có công cùng với các dòng họ tại vùng đất Mường Xia xây dựng Mường Xia trở thành vùng đất ngày càng tươi đẹp và giàu mạnh. 
 a6.JPG
Trò chơi dân gian ném còn trong lễ hội Mường Xia.
 a1..JPG
Phụ nữ Thái tham ra trò chơi dân gian môn To Lẹ.
Lễ hội văn hóa Mường Xia nhằm ôn lại truyền thống được tổ chức hàng năm, nhưng đến năm 1957 do chiến tranh nên lễ hội bị gián đoạn, mãi đến năm 2010 mới được tổ chức lại.
Trong hai ngày diễn ra lễ hội cùng với các nghi lễ văn hóa tâm linh là các hoạt động văn hóa thể thao, trò chơi dân gian truyền thống như: Đánh bóng chuyền, ném còn, khua luống, kéo co, bắn nỏ… 
Lễ hội Mường Xia đã thu hút hàng vạn người dân từ các bản làng xa xôi trong huyện Quan Sơn và du khách khắp nơi về tham gia. Những ngày diễn ra lễ hội người già, trẻ con và nhất là lớp thanh niên nam nữ các dân tộc huyện Quan Sơn lại có dịp hội tụ về đây gặp gỡ giao lưu.  
Ông Hà Xuân Tân - Chủ tịch UBND xã Sơn Thủy, thành viên ban tổ chức Lễ hội Mường Xia cho biết: “Lễ hội có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, văn hóa, giáo dục tăng thêm tình đoàn kết giữa bà con người dân trên địa bàn. Những ngày diễn ra lễ hội không khí vui như ngày tết, bà con rất phấn khởi, vui mừng đến tham dự lễ hội”.
Lô Giang

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

Đặc sắc Lễ hội nàng Nga, chàng Hai Mối

 - Lễ hội nàng Nga - Hai Mối là loại hình văn hóa đặc sắc thể hiện đậm nét tập tục, tín ngưỡng văn hóa của người Mường ở Cẩm Thủy. Trong quá trình phát triển của đất nước, lễ hội nàng Nga - Hai Mối dần bị mai một trong đời sống đồng bào dân tộc Mường. Trong thời gian qua, các cấp, các ngành cũng như huyện Cẩm Thủy đã có những nỗ lực khôi phục lại lễ hội độc đáo này.

Chuyện kể rằng ở vùng đất Mường Trong có nàng Nga con gái của ông Đủ già giàu có, quyền lực, đẹp người, đẹp nết, khi nàng đi du xuân tại chợ Quan Hoàng nàng đã gặp đạo Hai Mối - chàng trai con cun Mường Trắng tài giỏi, tuấn tú. Từ đây, hai người đã bén duyên nhau, hẹn ước nên duyên vợ chồng nhưng cha mẹ nàng Nga không đồng ý, ép nàng lấy vua Ai Uớc, ở Thượng Lào. Dù sống trong lầu son, gác tía nhưng nàng Nga lúc nào cũng nhớ thương về người yêu của mình. Còn chàng Hai Mối đau buồn, quyết tâm lặn lội, trèo đèo, lội suối đến Thượng Lào để gặp nàng Nga nhưng bị thế lực nhà vua ngăn cản. Không gặp được nàng Nga, chàng Hai Mối trở về và trút hơi thở cuối cùng tại nương dâu của gia đình. Nghe tin này, nàng Nga đau xót và tự kết liễu đời mình. Sau khi chết, người dân xứ Mường đã mang về chôn cất gần ngôi mộ của chàng Hai Mối để muôn đời sau họ được ở bên nhau.
Để tưởng nhớ về chuyện tình yêu thủy chung, son sắc của nàng Nga, chàng Hai Mối, cứ vào mùa xuân trai gái mường trên, bản dưới lại về chợ Quan Hoàng vui xuân, gặp gỡ, hẹn hò và trao duyên. Từ chuyện tình nàng Nga, chàng Hai Mối đã có nhiều sáng tác truyền miệng, được diễn xướng dưới dạng hát ru, xường, rang, hát trong lễ hội Pồôn Pôông của người Mường ca ngợi tình yêu thủy chung, cao đẹp của nàng Nga, chàng Hai Mối. Và những hoạt động tại chợ Quan Hoàng đã tạo nên Lễ hội nàng Nga, chàng Hai Mối.
 lễ hội nàng nga.jpg
Tái hiện cảnh nàng Nga gặp chàng Hai Mối tại phiên chợ Quan Hoàng.
Trao đổi với chúng tôi về những giá trị đặc sắc của Lễ hội nàng Nga, chàng Hai Mối, ông Trần Đức Hùng - Phó Chủ tịch UBND huyện Cẩm Thủy cho biết: Với bà con, Lễ hội nàng Nga, chàng Hai Mối là món ăn tinh thần chứa đựng thông điệp của ông cha nhằm gửi gắm lại thế hệ mai sau. Trong Lễ hội nàng Nga, chàng Hai Mối những điệu hát, truyện thơ cổ còn hàm chứa các giá trị hiện đại và nhân văn khi nói lên quyền tự do yêu đương, khát vọng hạnh phúc. Song hành với truyện lại có một vài câu chuyện mang màu sắc liêu trai, huyền bí được người dân thêu dệt truyền tụng, nhưng mục đích là giúp con người ta hướng đến những điều chân - thiện - mỹ. Những câu chuyện trước tiên nhằm mục đích giữ gìn, bảo vệ di sản của làng, đồng thời mang hàm ý răn đe, giáo dục con người và thế hệ con cháu.
Sự mai một và biến mất của các loại hình văn hóa, tập tục, tín ngưỡng, lễ hội, truyền thuyết lễ hội nàng Nga, chàng Hai Mối đã làm mất đi “hồn cốt” trong sinh hoạt văn hóa của dân tộc Mường. Trong thời gian gần đây, các cơ quan chức năng mà trực tiếp là huyện Cẩm Thủy dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ của Sở VH,TT&DL Thanh Hóa đã phục dựng lại Lễ hội nàng Nga, chàng Hai Mối. Việc phục dựng này có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể còn giúp huyện Cẩm Thủy quảng bá, giới thiệu văn hóa Mường và tạo dựng nên sản phẩm du lịch độc đáo trong chuỗi các sản phẩm văn hóa.
Xuân Cường

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2019

Thanh Hóa: Phục dựng lễ hội Nàng Nga - Hai Mối của người Mường Cẩm Thủy

Chuyện xưa kể rằng, ở vùng Mường Trong có nàng Nga là con gái của ông Đủ Già giàu có và quyền thế vừa đẹp người, đẹp nết nức tiếng cả Mường Trong, Mường Ngoài.
Làn điệu múa cây bông trong lễ hội Nàng Nga - Hai Mối
Khi nàng đi du xuân tại chợ Quan Hoàng, nàng đã gặp đạo Hai Mối -chàng trai Mường Trắng tài giỏi, tuấn tú. Từ đây, đôi trai gái đã trao duyên, trao tình hẹn ước nên duyên vợ chồng.
Biết chuyện, cha mẹ Nàng Nga không đồng ý và ép gả nàng cho vua Ai Ước ở Thượng Lào. Dù sống trong lầu son, gác tía nhưng lòng nàng vẫn đau đáu hướng về chàng Hai Mối và những lời ước nguyện trước kia. Nàng đã âm thầm gửi tin tới Hai Mối và mong muốn chàng cứu nàng khỏi vua Ai Ước. Nhận được tin, Hai Mối vượt ngàn gian khó để giành lại người yêu, nhưng bị các thế lực nhà vua ngăn cản, Hai Mối đành trở về quê hương đợi nàng trong nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Sau bao mùa trăng mong đợi không thấy Nàng Nga trở về, chàng tìm đến cạnh nhà nàng và trút hơi thở cuối bên nương dâu. Nghe tin chàng chết, Nàng Nga đau xót và tự kết liễu đời mình. Sau khi nàng chết, người dân xứ Mường mang thi thể nàng về chôn cất gần mộ Hai Mối để muôn đời họ được ở bên nhau.
Từ đó, cứ vào mùa xuân người dân trong vùng lại tổ chức lễ hội Nàng Nga - Hai Mối để tưởng nhớ mối tình chung thủy, sắc son cùng với sắc màu không gian rực rỡ và các điệu nhạc du dương. Tại lễ hội, cũng là dịp để các đôi trai gái Mường gặp gỡ, hẹn hò, trao duyên thông qua các làn điệu Xường giao duyên. Từ chuyện tình Nàng Nga - Hai Mối, đã có nhiều sáng tác truyền khẩu được diễn xướng, đối đáp dưới hình thức hát ru, xường... đã tạo nên nét riêng của lễ hội. Theo các nghệ nhân Mường, hầu hết các đôi nam nữ đến gặp gỡ, trao duyên tại đây đều trở thành vợ chồng và sống bên nhau hạnh phúc đến trọn đời.
Lễ hội Nàng Nga - Hai Mối là loại hình văn hóa đặc sắc thể hiện đậm nét tập tục, tín ngưỡng văn hóa của người Mường. Theo thời gian, lễ hội dần bị mai một trong đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào dân tộc Mường. Để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội Nàng Nga - Hai Mối, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa phối hợp với UBND huyện Cẩm Thủy điều tra, khảo sát và phục dựng thành công lễ hội này. Qua đó, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể độc đáo của đồng bào Mường Thanh Hóa nói chung và đồng bào dân tộc Mường huyện Cẩm Thủy nói riêng./

Nguồn: baothanhhoa.vn

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Lễ hội Mường Khô ở Thanh Hóa

Ngày 14/2, người Mường ở Thanh Hóa lại nô nức về dự Lễ hội Mường Khô (làng Muỗng Do, xã Điền Trung, huyện Bá Thước) để tri ân Quận công Hà Công Thái và các vị tướng dòng họ Hà đã có công dẹp loạn ở vùng biên giới phía Tây tỉnh, cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.
Lãnh đạo huyện Bá Thước (Thanh Hóa) đánh cồng khai mạc lễ hội.
Ảnh: Khiếu Tư - TTXVN

Đến với lễ hội Mường Khô du khách được hòa mình vào không khí nhộn nhịp của phiên chợ vùng cao, được thưởng thức những món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc Mường như rượu cần, cơm lam, canh đắng… và những trò chơi, trò diễn đặc sắc như tung còn, chơi mảng, chọi gà, đánh đu, đánh cồng chiêng. Người dân tộc Mường ở Thanh Hóa rất coi trọng Lễ hội Mường Khô. Vào ngày chính hội, tất cả người dân xứ Mường xúng xính váy áo truyền thống đi lễ hội, rước kiệu, đánh chiêng cầu mong năm mới an lành. Để chuẩn bị cho lễ hội, những người có uy tín trong làng và nhân dân trong Mường đã chuẩn bị chu đáo những đồ lễ tế như trâu, lợn, gà, cá, bánh chưng, rượu, gạo, hoa quả để dâng lên nơi thờ những người có công với đất nước như: Hà Công Thái, Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt...
 
Gần 300 thiếu nữ Mường mặc trang phục truyền thống mang theo gần 300 chiếc cồng vừa đi, vừa diễn tấu, hát múa. Ảnh: Khiếu Tư - TTXVN

Nét độc đáo và riêng biệt chỉ có trong lễ hội Mường Khô năm 2019, chính là việc gần 300 thiếu nữ Mường mặc trang phục truyền thống mang theo gần 300 chiếc cồng vừa đi, vừa diễn tấu, hát múa. Tiếng cồng chiêng vang vọng giữa không gian núi rừng là một trong những thứ không thể thiếu trong lễ hội Mường Khô, thể hiện sức mạnh và khát vọng của bà con xứ Mường. Trong quan niệm của người Mường vào dịp lễ hội, ngày Tết, dịp vui của làng, bản, dòng họ hoặc hoạt động văn hóa quần chúng không có tiếng cồng chiêng thì Lễ hội ấy không to, Tết ấy không sung túc.
 
Sôi nổi trong cuộc thi kéo co giữa các xã trong huyện. Ảnh: Khiếu Tư - TTXVN

Tham gia Lễ hội Mường Khô, người dân và du khách như được nghe vọng tiếng của người xưa trong núi đá bên thượng nguồn sông Mã, tiếng vó ngựa phi, tiếng bước chân của nghĩa quân và tiếng hò reo thắng trận của binh Mường. Lễ hội Mường Khô đã làm cho không khí bản làng người Mường ở Thanh Hóa thêm tưng bừng sống động, đồng bào dân tộc Mường thêm phấn khởi, nô nức tham gia các hoạt động văn hóa, nâng cao ý thức cộng đồng, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Mường Việt Nam. Việc chính quyền địa phương duy trì tổ chức lễ hội được xem như là phương thức hữu hiệu để giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Mường, đồng thời cũng là dịp truyền dạy lại cho các thế hệ con cháu hiểu hơn về bản sắc dân tộc mình.

Vùng đất Mường Khô là nơi cư trú của dòng họ Hà Công - một trong những dòng họ có uy tín của người Mường. Nơi đây cũng chính là quê hương của vị thủ lĩnh phong trào Cần Vương Hà Văn Mao, người đã giương cao ngọn cờ yêu nước, tập hợp nghĩa quân, xây dựng căn cứ chống giặc ngoại xâm. Lễ hội Mường Khô lúc đầu chỉ là việc thờ cúng của gia đình, một dòng họ sau này trở thành lễ hội lớn của cả một vùng thể hiện nét đẹp trong đời sống tình cảm, tâm linh của đồng bào dân tộc Mường ở vùng cao xứ Thanh. Ngày nay, Mường Khô được chia tách thành 4 xã Điền Trung, Điền Lư, Điền Quang, Điền Hạ của huyện Bá Thước. Vùng đất Mường Khô hôm nay còn lưu giữ được rất nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Mường, các lễ hội tâm linh các trò chơi, trò diễn dân gian nhạc cụ cồng chiêng...
Đinh Thuận -  Hoa Mai - Khiếu Tư
 

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Lễ cầu mưa của người Mường

Cầu mưa là một nghi lễ nông nghiệp quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào dân tộc Mường ở Hòa Bình. Lễ được tổ chức sau khi gieo hạt, trồng lúa và các loại hoa màu, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cầu mong sự che chở của thần linh và ước muốn về cuộc sống no đủ hạnh phúc.
Theo quan niệm của người Mường, tháng tư âm lịch sau khi gieo trồng các loại hoa màu xong chính là “mùa sấm mọc”, dân làng đợi nước làm ruộng nhưng trời vẫn không cho mưa, lễ Cầu mưa sẽ được tiến hành.Theo truyền thống, mâm lễ ít nhất phải có thịt gà trắng (ngày nay thay vào đó là thịt con gà trống). Con gà trắng thường hay ở đầu nguồn con nước, theo quan niệm của đồng bào, đó là nơi có mó nước chảy từ núi ra. Đồng bào vốn thờ ma núi, với quan niệm, ma ngủ quên không nghe thấy tiếng sấm nên không dậy lấy nước cho dân chúng làm mùa. Vì thế, cần đánh thức bằng lễ Cầu mưa.
Mâm lễ trong lễ Cầu mưa

Từ sáng sớm, bà con đã chuẩn bị lễ vật cúng theo truyền thống như xô nước, tượng trưng cho nguồn nước, mó nước chảy từ trong núi ra; Gáo múc nước (dùng để múc nước té lên trời cầu mưa); Gậy tre (Lấy gậy chọc lên trời để đánh thức ma nước dậy).
Thày mo tiến hành nghi thức cúng trước mâm lễ với 1 chiếc quạt

3 mâm lễ vật không thể thiếu cũng được chuẩn bị (mâm bản mệnh của thầy mo; mâm chủ lễ của đồng bào Mường và mâm đất trời để dâng lên đất trời, thần linh). Trong mỗi mâm cúng gồm: Gà trống 1 con được luộc chín; Các món ăn chế biến từ thịt lợn (thịt hấp, chả bưởi, thịt xiên nướng, lòng dồi...); Ép xôi; Một chai rượu; Oản hương; Hoa quả; Tiền vàng; Trầu cau; Vòng bạc; Vải thổ cẩm…Đầu tiên thầy mo Đinh Công Chửng gọi thần đất (thổ công) dậy và gọi thần gió, thần mưa... về để kêu than tình hình hạn hán do thiếu mưa và cầu mong các thần phù hộ cho mưa thuận gió hòa, nước đầy sông đầy đồng, gia súc gia cầm sinh sôi, thóc lúa đầy kho…
Nghi thức vẩy nước cầu mưa

Sau khi cầu khấn, tế lễ xong và được sự đồng ý của thần linh, thầy mo múc nước té lên trời. Tiếp theo, thày mo, đồng bào lấy gậy chọc lên trời, tượng trưng cho việc đánh thức ma nước, cùng nhau đánh trống chiêng và hô to:“Trời đã cho nước rồi, cho mưa rồi, bà con gọi nhau dậy đi ra đồng ra nương để làm đất, cày cấy làm mùa màng...”.
Nổi chiêng mừng đón mưa về 
Theo vinaculto.vn

Hòa Bình: Người Mường đánh thức ma Khú cầu mưa

Lê Minh Đức 
Vanhien.vn - Cầu mưa là một nghi lễ nông nghiệp quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào dân tộc Mường ở Hòa Bình. Lễ được tổ chức sau khi gieo hạt, trồng lúa và các loại hoa màu, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cầu mong sự che chở của thần linh và ước muốn về cuộc sống no đủ hạnh phúc.
Lễ vật cúng được chuẩn bị chu đáo.
Người Mường và tín ngưỡng thờ ma Nước
Với người Mường cư trú ở các tỉnh miền núi phía Bắc, tín ngưỡng giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần cũng như sinh hoạt, lao động của họ. Đối diện cuộc sống nơi núi cao hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, họ càng cần nhiều hơn niềm tin tâm linh, làm chỗ dựa để vượt qua những khó khăn. Trong số đó, phải kể đến các tín ngưỡng thờ mó nước của dân tộc Mường. Tín ngưỡng thờ mó nước (vó rác) Xuất phát từ nền văn hóa lúa nước và sống ở miền núi, nên các nguồn nước, mạch nước có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của người Mường.
Tín ngưỡng dân gian đã tác động vào mọi mặt đời sống của người Mường, hình thành một hệ thống nghi lễ, phong tục tập quán bền vững trong sản xuất, đời sống xã hội và tâm thức, tình cảm, nếp nghĩ của mỗi người dân Mường. Tín ngưỡng đã đóng vai trò thiết yếu trong cuộc sống của con người và cộng đồng dân tộc. Lễ hội dân gian truyền thống giúp đời sống văn hóa tinh thần trở nên phong phú, góp phần quan trọng xây dựng kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc của người Mường.
Dâng gà trắng cầu mưa
Theo quan niệm của người Mường, tháng tư âm lịch sau khi gieo trồng các loại hoa màu xong chính là “mùa sấm mọc”, dân làng đợi nước làm ruộng nhưng trời vẫn không cho mưa, khi đó, lễ cầu mưa sẽ được tiến hành.
Theo truyền thống, mâm lễ không thể thiếu thịt gà trắng. Người Mường quan niệm, gà trắng thường hay ở đầu nguồn con nước, ở đâu có gà trắng, ở đó là nơi có mó nước chảy từ núi ra. Cùng với tín ngưỡng thờ ma Núi, đồng bào quan niệm, ma ngủ quên không nghe thấy tiếng sấm nên không dậy lấy nước cho dân chúng làm mùa. Vì thế, cần đánh thức ma Khú bằng lễ cầu mưa.
Phần hội được diễn ra trong niềm vui phấn khởi.
Từ sáng sớm, bà con đã chuẩn bị lễ vật cúng theo truyền thống như xô nước, tượng trưng cho nguồn nước, mó nước chảy từ trong núi ra; Gáo múc nước (dùng để múc nước té lên trời cầu mưa); Gậy tre (Lấy gậy chọc lên trời để đánh thức ma nước dậy). Ba mâm lễ vật không thể thiếu cũng được chuẩn bị (mâm bản mệnh của thầy mo; mâm chủ lễ của đồng bào Mường và mâm đất trời để dâng lên đất trời, thần linh). Trong mỗi mâm cúng gồm: Gà trống 1 con được luộc chín; Các món ăn chế biến từ thịt lợn (thịt hấp, chả bưởi, thịt xiên nướng, lòng dồi...); Ép xôi; Một chai rượu; Oản hương; Hoa quả; Tiền vàng; Trầu cau; Vòng bạc; Vải thổ cẩm…
Đánh thức ma Khú đợi nước về Mường
Đầu tiên thầy cúng gọi thần đất (thổ công) dậy và gọi thần gió, thần mưa... về để kêu than cho dân chúng bản: “Hỡi trời đất, con người dưới gầm trời này đã chịu đói, chịu khát đã mấy tháng nay ruộng đồng khô hạn nứt nẻ vạn vật chạy ngược không nước, chạy xuôi hạn hán cạn khô, cây cối đang chết dần chết mòn...
Khấn mong đất trời phù hộ độ trì cho mưa thuận gió hòa cho nước đầy đồng, cho sông đầy nước cho dân chúng được uống được ăn, cho trâu bò đẻ đầy nhà cho gà lợn đẻ đầy chuồng, cho thóc lúa đầy kho. cho trâu bò no đủ... Hỡi trời hỡi đất, Mo Mường cất tiếng van xin!”.
Sau khi cầu khấn, tế lễ xong và được sự đồng ý của thần linh, thầy Mo múc nước té lên trời. Tiếp theo, đồng bào hô hoán nhau lấy gậy chọc lên trời để đánh thức ma nước dậy, cùng nhau đánh trống chiêng vang dội và cùng nhau hô to:“Trời đã cho nước rồi, cho mưa rồi, bà con gọi nhau dậy đi ra đồng ra nương để làm đất, cày cấy làm mùa màng...”.
Trước đây, người Mường còn bày binh diễn trận, trong đó một bên đóng vai bên giặc và hai bên đánh trận giả với nhau. Khi đó chủ tế cầu khấn vua nước gây ra mưa để tiêu diệt quân của đối phương.
Các lễ thức của phần nghi lễ kết thúc, phần hội diễn ra trong niềm vui phấn khởi, ước vọng về một vụ mùa mới đầy khởi sắc và những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Những chàng trai, cô gái trong bản ngoài làng nô nức về chơi hội để được dịp thể hiện tài năng qua các lời ca, tiếng hát, điệu múa, trò chơi dân gian truyền thống đậm đà sắc thái bản địa.
Thông qua lễ hội cầu mưa của người Mường đã phần nào cho thấy sự nỗ lực của các ngành các cấp trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mình. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Mường chưa được gìn giữ và phát huy đúng mức, việc phát triển những giá trị mới còn nhiều hạn chế, thiếu bền vững.
Nguồn: langvietonline.vn

Độc đáo lễ quạt ma người Mường Bi ở Hòa Bình

Khi người ốm tắt thở, cả họ phải đứng ra cùng nhau lo mọi việc tang tế. Tang lễ Mường có vai trò tư tưởng quan trọng nhất là khẳng định lòng tin của con cháu đối với tổ tiên và khẳng định thần thoại về tổ tiên của mình. Trong đó, nghi thức quạt ma vô cùng độc đáo.
Chuẩn bị làm ma

Khi có người sắp chết, người nhà gióng 3 hồi chiêng, mỗi hồi 3 tiếng (chơm chiêng) để báo cho họ hàng biết trước mà tụ tập nhìn mặt người sắp qua đời lần cuối cùng. Khi người đó chết hẳn thì chiêng trống gõ liên hồi. Người chết được tắm rửa bằng nước là bưởi và đặt nằm ở gian giữa, trên lá chiếu và 4 tấm vải trắng. Người ta còn đắp cho người chết một chiếc chăn bông và hàng chục chiếc chăn đơn, và trải hai tấm lụa tơ tằm ở 2 bên. Một người cao tuổi trong họ cầm một hòn than vạch lên sàn và đọc lời bàn giao số vải vóc quần áo cho người chết. Trong khi người nhà mắc màn ở xung quanh chỗ người chết nằm, thì bà con họ hàng, làng xóm đến đầy nhà. Những người thân thì mặc quần áo tang, người con trai cả tới cửa sổ( nơi thờ cúng tổ tiên), rút dao chặt ba nhát lên thành cửa như để nhác rằng từ nay anh ta là người đảm nhiệm việc thờ cúng tổ tiên.

Sau đó, chiêng trống nổi lên và thân nhân bắt đầu khóc. Người nhà mời thầy mo tới chuẩn bị cho tối mo Tần tịch- tang lễ chính thức bắt đầu. Một thầy mo chính và hai thầy mo phụ làm lễ khẳng định cái chết là một việc đó được số phận sắp đặt, tránh cho người chết sự luyến tiếc băn khoăn khi phải từ bỏ thế giới người sống.
 

Người thứ hai làm lễ Tống trùng, thầy mo dùng pháp thuật xua đuổi những ma xấu đang lẩn quất bên người chết. Lễ nghi này không được đánh chiêng. Tiếp theo là lễ Tấng dây: cắt sợi dây vải nối chân người chết với một chiếc cọc cắm giữa nhà. Lễ này mang ý nghĩa cắt đứt sự dây dưa, truyền nhiễm bệnh tật sang con cháu. Buổi chiều làm lễ nhập quan( pao khăng) cho ngươi. Một con gà luộc được bày lên bàn thờ để người chết ăn. Quan tài được làm bằng các loại gỗ tốt: cây được ngả trong rừng, cắt dài khoảng 1,9m, xẻ làm đôi, khoét ở giữa rồi mới đưa về nhà. Quan tài đẻ dọc nhà , người nhà đặt chăn, quần áo( phải là số lẻ) vào đó để chôn theo người chết . Lễ nhập quan bắt đầu vào buổi tối, người ta mổ một con lợn nhỏ, luộc rồi thái nhỏ, bày lên lá chuối để lên bàn thờ. Chiêng và trống đánh bài “ túc nược” mời người chết ăn.

Tiếp theo, thầy mo ca thiên trường ca “đẻ đất đẻ nước”. Thông qua trường ca, mọi người ôn lại cho người chết quá trình hình thành đất nước và con người để thêm lòng tin vào sự trường tồn của đất nước, mà vượt qua tổn thất lớn lao này.

Đêm thứ ba – mo nghỡn họ. Tiếng trống linh hồn dẫn người chết ra nghĩa địa, và thầy mo dẫn người chết đi tìm họ hàng trong giới những người chết.

Ngày thứ tư là ngày đưa người chết ra mộ địa. Đi đầu đám tang là giàn nhạc, đánh những bản nhạc chia tay với người chết. Buổi tối, thầy mo tiếp tục mo những bài thay mặt người chết dặn dò, và lìa bỏ con cháu.

Người Mường làm lễ quat ma

Khi ông Trượng xướng roóng khấn đầu, các nàng dâu trong nhà làm lễ Quạt ma. Quạt ma là một điệu múa khoan thai, nhẹ nhàng, tỏ tình yêu quý, xót thương người ra đi. Dâu cả múa trước, các con dâu lần lượt múa theo. Động tác đuổi giống như sóng lượn, hoặc động tác xèo đuôi xèo cánh của con công.

Tùy theo hoàn cảnh kinh tế và địa vị xã hội của từng gia đình, người ta tổ chức các đêm mo. Đối với người Mường không mo thì không thể mai táng. Nếu không có tiền của để mo thì phải quấn xác trong nhà Bao giờ có tiền thì mới phát tang Mỗi đêm mo thường có: mo chính, mo phụ và chí chuốc. Mo phụ thay mo chính những lúc mo chính mệt, khản tiếng….Chí chuốc giúp mo điểm cồng, chiêng, trống…trên chuyến đi của mo và hồn. Nếu gia đình nghèo chỉ mượn mo một đêm thì điều cốt tử là hướng dẫn hồn ma đi gặp tổ tiên và thu xếp nơi ăn chốn ở.
Các nàng dâu mặc trang phục đỏ quạt ma trong một đám tang.
 

Đêm đầu, thầy mo đưa hồn người chết lên gặp lang cun chạo Hẹ (viên quan lo việc sổ sách để người chết lên trời đi kiện). Đêm thứ hai người chết tiếp tục đi đến nhà Thiêng Mư, mượn áo xem cách dệt vải của người Mường, và lên nhà ông nội (tộ) keo Heng, mượn một số tiền để đi tiếp. Đêm thứ ba, Mo đi kiện. Đêm thứ tư, Mo lên trời bên bông lấy tiền trả nợ Keo Heng. Kiện xong Mo xin được xá tội và xin nhập vào sổ ma, xin được cấp phương tiện để đi lại trên trời. Đêm thứ năm Mo xuống sông Ty (con sông ngăn cách người chết với người sống) sắm sửa đồ đạc. Đêm thứ sáu, làm lễ tế nhà tang (cao 12 tầng) và nhà xe (3 tầng) ở giữa đồng. Những người tế xếp hàng theo thứ tự: trước tiên là Mo rồi đến ông bà ngoại, 3-4 người đàn bà, các cháu nội ngoại. Con trai đội mũ tlooc, chống gậy, con gái đội mũ nón. Dàn nhạc gồm chiêng trống đánh gióng ba, kốn sáo chơi những bản tang lễ. Tất cả đi quanh nhà xe bảy vòng. Ngày thứ bảy (tảng sáng): gọi hồn về (hụôc wêl): Nỗi lưu luyến của người chết đến với vườn tược, nhà cửa, đồng thời chọn đất cắm nhà cho ma. Buổi chiều làm lễ cơn đi (nước ti)-bữa cơm cuối cùng của người chết tại gia đình trước khi về mường của người đó chết.

Áo tang của mỗi nàng dâu .
Theo phong tục ba hôm sau người ta còn làm lễ dẫn đường cho hồn về (là lại wải wềl)-chỉ cho hồn biết nơi thờ cúng và biết lối về. Con cháu ra nghĩa địa xây mộ, chôn vò đựng rượu ở đầu mộ. Đến đây tang ma kết thúc.

Trong thời gian (100 ngày), thân nhân người chết không được tham dự các cuộc vui chơi, nếu buộc phải có mặt thì luôn cúi nhìn xuống đất, mà không được nhìn lên.

Trước kia những gia đình nghèo khó chưa đủ điều kiện để tiến hành ma chay, hoặc nhà giàu có muốn phụ trương thế lực, người ta làm ma khô-bỏ người chết vào quan tài và để nơi thoáng mát trong nhà. Cho đến bao giờ gia đình thấy có thể tổ chức tang lễ được, thì khi đó mời tiến hành nghi thức tang lễ và đem chôn.Ma khô có thể để vài tháng hoặc hàng năm nên xác khô hẳn đi.
 
Theo Langvietonline.vn

Bếp lửa - linh hồn trong ngôi nhà sàn của người Mường Hòa Bình

Đặc biệt và quan trọng nhất của một ngôi nhà sàn của người Mường (Hòa Bình) lại chính là bếp lửa. Khách đến nhà chơi cũng được gia chủ thân tình tiếp chuyện bên bếp lửa. Trong những ngày đông giá rét, mâm cơm thường được dọn ngay cạnh bếp lửa. ông bà, con cháu cùng ngồi quây quần bên bếp lửa sưởi ấm, trò chuyện.
Bếp chính được đặt ở pên cloong (bên trong) và pên đượi (bên dưới nhà sàn). Nơi đây ít có cửa voóng (cửa sổ) và gần vại nước (khạp khau). ở gian ngoài, gian khách cũng có một bếp phụ ở pên đượi (bên dưới). Bếp ở gian khách chỉ dùng để sưởi, hong khô các vật dụng... và đun nước pha trà. Trên bếp lò chính ở gian trong, người ta làm một cái giá to và vững chắc (khưa) để sấy khô các lương thực, thực phẩm như: ngô giống, lúa giống và sấy khô thịt trâu, bò. Lò bếp là một cái khung hình vuông, cũng có thể là hình chữ nhật rộng chừng hơn 1m2, ghép bằng những tấm ván dày, bên trong có nện đất, đặt ngay trên mặt sàn. Trong lò bếp người Mường, dù cho đến khi có kiềng sắt, người ta vẫn dùng ba hòn nục (còn gọi là ba ông đầu rau - người Kinh). Ba hòn nục tượng trưng cho vua bếp (bua bêp). Việc dâng cúng vua bếp, người dân làm vào các dịp có nấu nướng lớn, còn mâm cúng không nhất thiết đặt cạnh bếp lò, có thể đặt ở ôông côông (thần thổ địa).


Điều đặc biệt, người Mường rất cẩn thận trong sử dụng bếp, tuyệt đối kiêng kỵ không được làm ô uế lò bếp. Khách đến nhà chơi cũng được gia chủ thân tình tiếp chuyện bên bếp lửa. Trong những ngày đông giá rét, mâm cơm thường được dọn ngay cạnh bếp lửa. ông bà, con cháu cùng ngồi quây quần bên bếp lửa sưởi ấm, trò chuyện.

Thường người Mường ít khi để bếp tắt, nếu không đun nấu thì sẽ ủ than dưới lớp tro, khi cần chỉ thổi lên là được và như vậy, bếp luôn có hơi ấm. Ngọn lửa ấm áp của bếp nhà sàn thể hiện nét sinh hoạt văn hoá đoàn kết, ấm cúng và thân thiện của bà con dân tộc Mường đã được lưu giữ qua bao thế hệ từ hàng trăm năm nay.

Nếu một lần đặt chân đến Hòa Bình chắc hẳn bạn sẽ bị hút hồn bởi kiến trúc độc đáo của những ngôi nhà sàn của người Mường nơi đây. Có một điều đặc biệt, những ngôi nhà sàn của người Mừng đều ở vị trí dựa lưng vào thế đất cao như sườn đồi, sườn núi. Bởi họ quan niệm, xây nhà như thế sẽ để đón nhận tiết trời trong lành và tiện cho việc sinh hoạt, săn bắn, đi rừng.

Cấu trúc một ngôi nhà sàn của người Mường thường được thiết kế như sau: Mặt trên cùng là gác để đựng lương thực, đồ dùng gia đình; sàn nhà là nơi sinh hoạt nghỉ ngơi; còn gầm sàn nhà dùng để các dụng cụ sản xuất, nhốt gia súc, gia cầm. Nguyên liệu cơ bản được bà con sử dụng để dựng nhà sàn là gỗ, thường là các loại gỗ trai, chò chỉ, nghiến, sến, táu, dổi, de, đinh, lát... Ngoài gỗ để làm các chi tiết chính, nhà sàn của người Mường cần sử dụng các loại tre, bương, hóp để làm đòn tay, đan vách... Cột nhà làm bằng gỗ tròn hoặc vuông nhưng phổ biến là tròn; chân cột thường được chôn xuống đất nhưng cũng có nơi dùng các hòn đá tảng để kê. Vì chân cột nhà sàn thường được chôn sâu xuống đất từ 80cm - 1m nên phải làm cột bằng thứ gỗ không bị mối ăn, không mục, không mọt.

Mùa đông người già được ưu tiên nằm gần bếp

Theo phong tục của người Mường khi làm cầu thang thì bậc thang nhất thiết phải là số lẻ và được dựng ở các thế đất khác nhau. Theo quan niệm của người Mường, số lẻ của bậc thang thể hiện ước nguyện quy luật vào - ra - vào thì của cải sẽ không đi ra ngoài, gia đình luôn được êm ấm, đoàn tụ, con cháu thành đạt. Số lượng bậc có thể là 3, 5, 7, 9… nhưng tuyệt đối không được là số chẵn.

Điều thú vị nhất trong tổng thể cách xây dựng nhà sàn của người Mường, thì đó là những kết cấu hoàn chỉnh không chỉ tạo dựng nên một ngôi nhà sàn đặc trưng từ cổ kim đến giờ vẫn nguyên vẹn. Lý thú hơn cả, là ở mỗi bộ phận cấu thành nên nhà sàn nó lại mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc gắn kết chặt chẽ với con người hàng nghìn năm không thay đổi.

Ngoài ra, nhà sàn còn có sạp nước và sạp phơi. Sạp nước là một bộ phận rất cần thiết và không tách rời của nhà sàn Mường cổ truyền. Đó là một cái sạp được làm bằng tre già nguyên cây hoặc loại bắp ván gỗ tốt như nghiến, trai..., cũng có thể làm bằng gỗ tròn. Sạp được làm thấp hơn sàn nhà chính thường từ 20-30 cm. Sạp là nơi dựng các ống bương to để vác nước, chum đựng nước, vại đựng nước, đá mài dao và các dụng cụ nấu bếp như xoong nồi, dao rựa, thớt, chậu rửa, đồng thời cũng là nơi chế biến thức ăn trước khi đem lên bếp để đun nấu. Còn sạp phơi được dựng phía ngoài cửa voóng, tránh voóng tôông. Nó chính là cái sân trời của ngôi nhà sàn nên nó được làm chắc chắn bằng những thứ vật liệu tốt. Sạp phơi thường được làm rộng rãi và chắc chắn nên ngoài việc phơi khô nông sản, sạp còn là nơi kéo sợi vào đêm trăng, nơi trái gái ngồi hát thường rang, bộ mẹng, hát ví, nơi các mế ngồi kể truyện cổ, truyện thơ cho con trẻ nghe, khi quá đông khách còn có thể dọn mâm cỗ ngoài trời.

Ở giữa màu xanh thiên nhiên núi rừng, những nếp nhà sàn của người Mường vẫn tồn tại như một minh chứng rõ nét nhất về sức sống lâu bền của văn hoá Mường hàng nghìn năm qua.
Theo dantocviet.vn

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Độc đáo Lễ hội Đâm đuống của người Mường

Nhằm góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) đã tổ chức tái hiện Lễ hội Đâm đuống của đồng bào dân tộc Mường.


Mở đầu buổi lễ là màn trình diễn của đội cồng chiêng. Ảnh: Hoàng Tâm 

Đâm đuống là hình thức giã gạo, nhưng là giã gạo trong lễ hội và chỉ có phụ nữ biểu diễn, có tính nghệ thuật và tính tổ chức. Đâm đuống là tục lệ có nguồn gốc từ lâu đời ở các vùng đồng bào dân tộc Mường sinh sống như tỉnh Hòa Bình và huyện Thanh Sơn (tỉnh Phú Thọ).
 
Thày mo và cô gái Mường làm lễ khấn thần, phật, tổ tiên trước khi vào lễ hội.
Ảnh: Hoàng Tâm  

Thày mo làm lễ khấn mát nhà, vẩy nước xung quanh sân lễ.
Ảnh: Hoàng Tâm

Đồng bào Mường thường giã gạo bằng chiếc cối gỗ hình chiếc thuyền độc mộc dài từ hai tới ba sải tay, chiếc chày giã dài như đòn gánh, giữa thân thon để vừa tay cầm. Đâm đuống thường được người Mường tổ chức vào dịp Tết, hội mùa, cưới xin và dựng nhà. Nó được hình thành từ cuộc sống lao động của cư dân nông nghiệp vùng trung du, từ công việc giã gạo bằng cối và chày gỗ của phụ nữ. Người Mường tin rằng tiếng đuống càng vang, càng rộn ràng bao nhiêu thì năm đó sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và dân làng gặp nhiều may mắn.
 
Chiếc đuống của người Mường làm bằng gỗ, có hình chiếc thuyền độc mộc, dài từ hai đến ba sải tay. Ảnh Hoàng Tâm 

Khi đâm đuống, đồng bào Mường thường chia thành các đôi đứng đối diện nhau qua đuống. Số đôi phụ thuộc vào chiều dài của đuống, thường người phụ nữ nhiều tuổi nhất đứng đầu cối, giã ba tiếng “Kênh, keng, kinh” mở màn, tiếp theo đến những đôi sau sắp sếp theo thứ tự trong nhà hoặc theo tuổi tác. Âm thanh đuống trầm, chắc nịch là khi chày được đâm thẳng xuống lòng đuống. Âm thanh đuống cao, hơi đanh là khi chày gõ vào thành đuống. Thông thường, gõ vào thành đuống là để dồn những hạt lúa đã tách ra khỏi bông rơi xuống đáy đuống. Chính cách làm cho hạt lúa rơi xuống đáy đuống đã làm nên những âm thanh khác nhau. Người Mường đã sáng tạo nên cách phối hợp các âm thanh đó thành âm nhạc, thành những bài bản chàm đuống thú vị.
 
Các cô gái Mường thực hiện đâm đuống rất nghệ thuật, tạo thành bản nhạc đặc trưng. Ảnh Hoàng Tâm

Tục đâm đuống đã trở thành tục lệ đẹp của đồng bào dân tộc Mường.
Ảnh: Hoàng Tâm 

Hình thức giã gạo đã được nghệ thuật hóa để làm đẹp, mua vui. Tục đâm đuống của đồng bào dân tộc Mường là một tục lệ đẹp, thiết thực, biểu hiện tấm lòng trân trọng thành quả lao động của con người trong sản xuất nông nghiệp và sự đoàn kết giữa người với người ở bản Mường.
         Hoàng Tâm

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2019

“Góp phường” ở đồng bào Mường Hòa Bình

Mai Hoa Người dân tộc Mường cư trú tại Hòa Bình có nhiều phong tục tập quán độc đáo, một trong số đó là tục “góp phường”.

“Góp phường” ở đồng bào Mường Hòa Bình
"Góp phường” được hiểu là đem gửi những vật giá trị cho phường hội, khi gia đình có việc cần sẽ được hoàn trả. Nhưng nét độc đáo của phong tục này là phần lớn đồng bào Mường khi gia đình nào trong làng bản, thôn xóm có việc cưới xin, ma chay, lễ lạt... họ đều tự động mang gạo, gà, rượu và sức lực đến với gia chủ đến góp với gia chủ. Đây là một nét văn hóa đặc sắc thể hiện rất rõ quan niệm về tính cộng đồng, sự đoàn kết, tương trợ của đồng bào.
Đối với đồng bào Mường, đôi lứa yêu nhau không sợ không đến được với nhau vì gia đình khó khăn; gia đình có việc hiếu không sợ điều tiếng với làng xóm vì làm cỗ không được tươm tất... tất cả nhờ mỹ tục này. Tự bản thân mỗi người con xứ Mường sinh ra đã ý thức được cần phải đóng góp để việc làng, việc bản được diễn ra suôn sẻ, để phần nào bớt được gánh nặng về vật chất cho gia chủ. Người có của, người có công, cứ vậy kéo đến giúp sức. Tháng 11/2008, trước sự khắc nghiệp của thời tiết căn nhà ba trái của anh Bùi Văn Muôn, ở xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn giữa đêm bị thiêu trụi, toàn bộ của cải có giá trị đều bị ngọn lửa cuốn đi, một gia đình với hai đứa con nhỏ không còn nhà để ở. Vậy mà như một phép màu, chỉ sau một ngày ngôi nhà lợp mái mới đã mọc lên nhờ sự chung tay của bà con trong xã, người giúp gạo, tiền, người giúp bương, tre, người giúp công sức. Theo tục lệ, trước khi có việc, gia chủ thông báo với bà con họ hàng, chòm bản trước vài ngày. Nhưng trường hợp của gia đình anh Muôn, chỉ cần có lời của gia đình là tất cả dân làng đã không quản ngại giúp sức.
Theo người già kể lại, tục “góp phường” của đồng bào dân tộc Mường quy định, gia đình có việc nhỏ không tính, nhưng nếu có việc lớn như ma chay, cưới xin... đều phải báo cho làng xóm biết trước 9 ngày vừa đủ để nhớ, không quên và cũng đủ thời gian để bà con chuẩn bị mà giúp đỡ. Trong thời gian 9 ngày đó, gia chủ nhận được sự giúp đỡ bằng hiện vật, bằng sức lao động. Người trong làng cùng chung tay dựng rạp, lấy củi làm mặt bằng... gia chủ lúc này chỉ phải lo những cái chính như mua sắm, làm lễ, rồi mời họ hàng, đón thầy mo.
Trong những năm gần đây, đồng bào dân tộc Mường ở nhiều thị trấn thuộc các huyện vùng cao tỉnh Hòa Bình không còn ở nhà sàn thay vào đó là các ngôi nhà xây mọc lên kiên cố; những dịp lễ, tết, hiếu, hỉ không còn nhiều thủ tục rườm rà, ăn uống vài ba ngày như trước đây nhưng tục “góp phường” vẫn được bà con đồng bào dân tộc Mường duy trì. Bởi vậy, vào bất cứ dịp quan trọng nào của bất cứ gia đình nào trong làng, bản đều có sự góp mặt không thể thiếu của họ hàng, làng xóm như một lẽ tất yếu. Ông Đinh Văn Ngữ, Bí thư chi bộ xóm Ngọc Xạ, xã Hợp Thành, huyện Kỳ Sơn cho biết: “Góp phường là việc làm thường xuyên mà người dân trong xã. Đối với bất cứ gia đình nào cần giúp đỡ, dù việc lớn, hay nhỏ đều có sự giúp sức của bà con, làng xóm. Từ đó, mọi công việc cũng được thuận lợi, dễ dàng hơn”.
Đối với người dân tộc Mường ở Hòa Bình, phong tục "góp phường" chính sợi dây cố kết cộng đồng, giúp tình cảm của những người trong bản Mường, trong họ tộc càng trở nên khăng khít, giúp họ đủ sức vượt qua những khó khăn, khắc nghiệt của cuộc sống.

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018

Những nét văn hóa độc đáo trong đám cưới của đồng bào dân tộc Mường

Văn hóa Mường là một nền văn hóa đã sớm khẳng định bản sắc riêng, qua lối sống, nếp sống và phong tục tập quán, tín ngưỡng truyền thống. Trong đó tục cưới xin của người Mường ở Hòa Bình là một nét văn hóa đặc sắc, có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, phát triển gia đình, dòng tộc dân tộc Mường qua hàng nghìn năm lịch sử.

Hiện nay, đám cưới của người Mường đã đơn giản hơn xưa, nhưng về cơ bản vẫn giữ được những nét truyền thống. Ngày xưa, việc dựng vợ gả chồng là do cha mẹ xếp đặt, con cái không có quyền lựa chọn, nhất là con gái. Tuy nhiên hiện nay, trai gái được tự do tìm hiểu, lựa chọn bạn đời và hôn nhân hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện.
Chính vì lẽ đó, đám cưới của người Mường được chuẩn bị rất công phu từ vài tháng, một năm, thậm chí đến một vài năm. Khi mọi khâu chuẩn bị được hoàn tất người ta tiến hành làm đám cưới. Đầu tiên là chọn ngày lành tháng tốt để cử hành hôn lễ, chọn được ngày gia chủ họp gia đình để thông báo hôn sự và cắt cử công việc. Ông Bùi Văn Bân, xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, cho biết: “Đám cưới, ăn hỏi trong đám cười người Mường chúng tôi, đối với nhà trai, trước tiên là họp anh em trong gia đình, để xem các thành viên trong gia đình có đồng ý hay không. Khi các thành viên trong gia đình nhà trai đồng ý thì chọn một người uy tín trong gia đình làm người mai mối cho đám cưới (ông mối hoặc bà mối). Khi mời “Ông mối” đến phải bày ra mâm cơm, ăn cơm xong thì trao cho “Ông mối” hai chai rượu, một gói chè để mang đến nhà gái. Khi đến nhà gái, nhà gái sẽ tiếp đón “Ông mối” và lại họp anh em trong gia đình xem có đồng ý cho nhà trai xây dựng mối quan hệ hay không”.
Trong đám cưới của người Mường không thể thiếu được vai trò của người mai mối. Ông mối được nhà trai chọn làm đại diện để đến nhà gái dạm hỏi, thương thảo công việc chuẩn bị cho hôn sự của đôi trai gái. Hôn sự được sắp xếp vừa ý, hợp lòng của hai họ có sự đóng góp rất lớn của ông mối. Người Mường vẫn có tục thách cưới. Đại diện của nhà trai, ông mối sẽ thỏa thuận với nhà gái về việc thách cưới, nếu việc thỏa thuận chưa ngả ngũ, ông mối sẽ xin phép được về trao đổi lại với họ nhà trai. Nhà gái sẽ trình bày các yêu cầu của mình và đồ thách cưới nhà gái yêu cầu thường là: Một con trâu nhỏ, tai (dài) bằng sừng. Một gánh bánh dày không nhân (ám chỉ sự trinh trắng của cô dâu). Một ít tiền (có thể chỉ để làm của hồi môn cho cô dâu sau này khi về nhà chồng). Một vò rượu cần hoặc 60 lít rượu. 60 kg gạo tẻ. 40 kg gạo nếp. Một gánh trầu cau.

Đám cưới của người Mường ngày nay đã bớt cầu kỳ hơn ngày xưa.

Nếu nhà trai đồng ý thì về chuẩn bị, nếu không đồng ý thì có thể thông qua ông mối sang nhà gái thoả thuận lại. Song, mỗi lần sang phải mang theo một chai rượu. Sau khi đã thống nhất việc thách cưới với họ nhà gái, nhà trai sẽ phải mang lễ vật quy định đến nhà gái; thông thường là lợn hơi, gạo nếp, gạo tẻ, rượu…số lượng ít nhiều tùy theo sự thống nhất của hai bên.
Ông Bùi Văn Viện, ở xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, một người có uy tín, khéo ăn nói, hay được mời làm “Ông mối” cho các đám cưới, cho biết: “Tôi cũng làm mai mối cho các con cháu đã hơn 20 năm. Đi làm mai mối thì tôi nhận lễ của gia đình nhà trai mang đến nhà gái và trình bày việc thành hôn của các cháu. Khi đến thì gia đình nhà gái có mặt đông đủ tiếp đón để đợi người mai mối nói những ý kiến của nhà trai về việc thành hôn như thế nào. Sau đó bàn bạc với nhà gái xem ngày giờ, lễ cưới như thế nào. Khi đã xong thì tôi về nhà trai thống nhất là các lễ vật cho đám cưới như thế nào rồi lại qua nhà gái thống nhất lại lần cuối với nhà gái. Vai trò của ông/bà mối rất quan trọng vì tất cả các thủ tục, liên quan đến việc của hai gia đình thì ông/bà mối phải chịu trách nhiệm và gián xếp cho êm đẹp”.
Sau khi thống nhất việc thách cưới và ấn định ngày cưới, hai họ tiến hành chuẩn bị đám cưới. Sính lễ được nhà trai chuẩn bị mang đến nhà gái trước ngày cưới một ngày. Tuy nhiên ở một số địa phương như người Mường Bi, huyện Tân Lạc, trong ngày cưới chú rể và đoàn rước dâu sẽ mang lễ vật, quà cưới đến nhà gái.
Đặc biệt chú rể phải là người gánh trầu cau đến nhà cô dâu. Tục đi đón dâu của người Mường cũng rất độc đáo. Số lượng người đi đón dâu được quy định về số người và phân công nhiệm vụ cụ thể. Trưởng đoàn là bậc cao niên trong dòng họ dẫn đầu; đoàn nhà trai đến đón dâu dù ở xa hay gần đều được nhà gái mời ở lại ăn cỗ. Ở Mường bi, huyện Tân Lạc, lại có tục rất hay đó là sau khi mang sính lễ đến nhà gái, chú rể phải đi về trước còn đoàn nhà trai vẫn ở lại ăn cỗ. Ông Bùi Văn Bân, xã Địch Giáo, huyện  Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, cho biết: “Thủ tục đám cưới nhất quyết theo quy luật của dân tộc Mường phải có trầu cau, cây mía và một số thứ như: lợn, gà. Ngoài ra phải có quà khác gọi là “tiền đầu” với một ít tiền tượng trưng cho nhà gái”.
Cuối Lễ đón dâu, nhà trai bao giờ cũng phải có quà tặng ông mối và các thành viên tham gia đưa, đón dâu. Nếu nhà gái cách xa nhà trai thì những người đưa dâu thường ngủ qua đêm ở nhà trai và ra về vào sáng hôm sau. Lúc này nhà trai sẽ làm một mâm cơm để tiễn họ hàng nhà gái và chuẩn bị thức ăn đi đường cho họ. Theo truyền thống, sau Lễ đón dâu, cô dâu chưa ở ngay nhà chồng, mà trở về nhà mình, nhưng ban ngày phải sang nhà chồng để làm việc, chỉ tối mới về nhà ngủ. Một thời gian sau mới lại ở hẳn nhà chồng, thường là sau khi sinh con đầu lòng. Hiện nay, người Mường ở mường Vang (huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình) còn giữ phong tục này qua lệ cô dâu thường về nhà bố mẹ ở vài ba ngày sau lễ cưới.
Theo VOV5

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

Tục đắp bếp mới của người Mường

Tộc người Mường ví bếp lửa như linh hồn trong ngôi nhà sàn, là nơi giữ lửa và bảo vệ con người nên tục đắp bếp trước khi vào ở một ngôi nhà mới được tổ chức rất cầu kỳ với nhiều nghi lễ huyền bí. 
Mường là tộc người sinh sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa có dân số trên 1,2 triệu người.
Đến thăm những bản làng của đồng bào Mường có thể thấy những ngôi nhà sàn truyền thống có không gian thoáng đãng và đặc biệt tiện lợi cho việc sinh hoạt gia đình. Trong nhà có hai bếp lửa đặt ở hai gian khác nhau phù hợp với điều kiện khí hậu, phong tục tập quán sinh hoạt của người dân. Những chiếc bếp lửa đó là một không gian văn hóa đặc sắc cả về phương diện vật chất cũng như tinh thần được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Cùng là bếp lửa, hoàn toàn giống nhau về cấu tạo và cách bố trí nhưng công năng sử dụng của mỗi bếp lại khác nhau. Một bếp ở gian trong được gọi là bếp đàn bà, dùng để đun nấu thức ăn, nấu nướng chính trong gia đình. Một bếp được bố trí ở gian ngoài, gần cầu thang đi lên có kích thước nhỏ hơn, người Mường gọi đó là bếp đàn ông, để đàn ông trong nhà ngồi ở đó tiếp khách mỗi khi có khách đến chơi nhà.

Bếp lửa được linh thiêng hóa trong đời sống tinh thần của người Mường. Khi một ngôi nhà đã dựng xong, người Mường sẽ tiến hành nghi lễ đắp bếp. Từ sáng sớm, mọi công việc cần thiết cho nghi lễ này được gia đình chuẩn bị chu đáo, những bẹ chuối đã được mang về, bóc ra từng lớp để chuẩn bị lót mặt bếp. Bẹ chuối là vật dẫn nhiệt kém nên có tác dụng cách nhiệt giữa mặt bếp với sàn nhà, tránh gây hỏa hoạn. Trong lúc đó tại nơi làm lễ các mâm lễ cũng đã được bày ra, trong đó có một mâm lễ để cúng tổ tiên của gia chủ và các sư phụ của thầy mo. Một mâm lễ khác là để cúng thổ công thổ địa cai quản vùng đất này. 

Khi giờ lành đến, thầy mo thay mặt gia đình khấn xin tổ tiên thổ công thổ địa và các vị thần cho phép gia đình thực hiện việc đắp bếp để vào nhà mới. Công việc đắp bếp sẽ được tiến hành khi có sự đồng ý của thầy cúng.



Những bẹ chuối được bóc ra từng lớp để chuẩn bị lót mặt bếp. Ảnh: Trần Thanh Giang


Những tấm bẹ chuối tươi được đem lên lót dưới đáy bếp. Bẹ chuối là vật dẫn nhiệt kém
nên có tác dụng cách nhiệt giữa mặt bếp với sàn nhà, tránh gây hỏa hoạn. Ảnh: Trần Thanh Giang


Sau khi đã làm xong phần đáy bếp, người ta mới bắt đầu đổ đất vào. Ảnh: Trần Thanh Giang


Khi giờ lành đến, thầy mo thay mặt gia đình khấn xin tổ tiên, thổ công, thổ địa và các vị thần
cho phép gia đình thực hiện việc đắp bếp để vào nhà mới. Ảnh: Trần Thanh Giang


Việc đắp bếp có sự chủ trì của một người đàn ông có uy tín trong cộng đồng, đứng đếm số xô đất đổ vào bếp
và đánh dấu số lượng xô đất bằng việc bẻ que tre. Khi khuôn bếp đã đầy đất,
xô đất cuối cùng đổ vào phải là số lẻ mới đạt yêu cầu. Ảnh: Trần Thanh Giang


Trong lúc làm mặt bếp và đổ đất thì tại nơi làm lễ các mâm lễ cũng đã được bày ra. Ảnh: Trần Thanh Giang


Trong đó có một mâm lễ để cúng tổ tiên của gia chủ và các sư phụ của thầy mo. Ảnh: Trần Thanh Giang


Một mâm lễ khác là để cúng thổ công, thổ địa cai quản vùng đất này. Ảnh: Trần Thanh Giang


Thầy mo làm lễ trong lúc đổ đất vào mặt bếp. Ảnh: Trần Thanh Giang


Trong bếp của người Mường, dù đã có kiềng sắt, người  ta vẫn dùng  3 hòn đá, hay còn gọi là 3 hòn lục
để tượng trưng cho ba vua bếp. Ảnh: Trần Thanh Giang


Sau khi đắp xong bếp lớp (bếp đàn bà), người Mường sẽ chuyển sang đắp luôn chiếc bếp nhỏ (bếp đàn ông).
Ảnh: Trần Thanh Giang

Việc đắp bếp cho ngôi nhà sàn phải chọn đúng vào ngày giờ tốt, giờ lành thì mới được tiến hành. Và khi nhà sàn có thể chưa dựng xong nhưng được ngày giờ tốt thì người Mường vẫn cho tiến hành đắp bếp rồi sau đó mới hoàn thiện ngôi nhà sau. Tục đắp bếp được hình thành từ tập tục thờ thần lửa đã có từ rất lâu đời trong đời sống người dân”.
Ông Bùi Huy Vọng (Hội Văn nghệ dân gian Hòa Bình)
Đầu tiên, người Mường sẽ đắp chiếc bếp lớn, hay còn gọi là bếp đàn bà. Những tấm bẹ chuối tươi được đem lên lót dưới đáy bếp để cách nhiệt. Sau khi đã làm xong phần đáy bếp, người ta mới bắt đầu đổ đất vào. Đất ở đây không được lấy ở phần lớp đất trên, mà người dân phải lấy đất ở lớp dưới qua một lần xúc xẻng, đất ở dưới ít rễ cây và ít các chất hữu cơ hơn, lớp đất thịt này sẽ có công dụng phòng tránh hỏa hoạn tốt hơn. Hơn nữa, các lớp đất ở trên thì do các sinh vật thải vào, uế tạp nên phải lấy lớp đất tinh khiết ở bên dưới.

Việc đắp bếp có sự chủ trì của một người đàn ông có uy tín trong cộng đồng, có con cháu trai gái đề huề, làm ăn phát đạt để chủ nhà có thể hưởng phúc lộc từ người đó. Người chủ trì sẽ đứng cạnh, đếm số xô đất đổ vào bếp và đánh dấu số lượng xô đất bằng việc bẻ que tre. Khi khuôn bếp đã đầy đất, xô đất cuối cùng đổ vào phải là số lẻ mới đạt yêu cầu.

Trong bếp của người Mường, dù đã có kiềng sắt, người  ta vẫn dùng  3 hòn đá, hay còn gọi là 3 hòn lục để tượng trưng cho ba vua bếp. Người chủ trì vừa châm lửa vào bếp vừa nói lời chúc mừng bếp mới của nhà mới luôn có cơm trắng rượu ngon, dưới sàn gà lợn đầy đàn, trên nhà con người khỏe mạnh, ăn nên làm ra. Khi ngọn lửa đã cháy, người Mường sẽ đặt cá lên để nướng, cá là con vật tượng trưng cho thế giới dưới nước, cũng là biểu tượng cho sự may mắn. Bởi vậy người Mường chọn cá nướng để gửi gắm ước mong về sự mát lành yên ấm cho ngôi nhà mới, cho gia đình của mình. Sau khi đắp bếp xong là người ta phải nhóm lửa ngay, và về mặt nguyên tắc thì bếp lửa trên nhà sàn sau khi đắp xong thì ba ngày ba đêm không được tắt lửa, đốt liên tục, không phải đốt cho cháy to mà phải ủ than cho bếp lửa không được tắt trong ba ngày ba đêm. Đó cũng như một sự bố cáo với trời đất, bố cáo với xung quanh để biết rằng một ngôi nhà mới đã được dựng lên.” – ông Bùi Huy Vọng chia sẻ.

Sau khi đắp xong bếp lớp, người Mường sẽ chuyển sang đắp luôn chiếc bếp nhỏ. Mọi công đoạn cũng giống như khi đắp chiếc bếp lớn. Khi khuôn bếp đã đầy đất, xô đất cuối cùng cũng phải là số lẻ và phải đổ trả lại khoảng một phần ba số đất trong xô ra ngoài gọi là “trả đất”. Điều này cũng có nghĩa là sự thơm thảo, ai cho cái gì không nên lấy hết.



Người chủ trì vừa châm lửa vào bếp vừa nói lời chúc mừng bếp mới của nhà mới luôn có cơm trắng rượu ngon,
dưới sàn gà lợn đầy đàn, trên nhà con người khỏe mạnh, ăn nên làm ra. Ảnh: Trần Thanh Giang


Khi ngọn lửa đã cháy, người Mường sẽ đặt cá lên để nướng, cá là con vật tượng trưng cho thế giới dưới nước,
cũng là biểu tượng cho sự may mắn. Ảnh: Trần Thanh Giang


Thầy cúng đọc bài khấn để gửi gắm ước mong về sự mát lành yên ấm cho ngôi nhà mới,
cho gia đình của mình. Ảnh: Trần Thanh Giang


Người chủ trì vừa châm lửa vào bếp vừa nói lời chúc mừng gia chủ. Ảnh: Trần Thanh Giang


Theo quan niệm của người Mường, ngôi nhà sàn được làm từ những thân gỗ, thân tre lấy trong rừng
thì có thể đưa theo về nhà mình những điềm dữ, điềm gở với con người. Ảnh: Trần Thanh Giang


Những điều xấu xa ấy được tượng trư bằng những sợi chỉ trắng được chăng khắp nới trong ngôi nhà mới.
Và sau khi cúng xong, thầy cúng sẽ làm động tác cắt sợi dây ấy đi, tượng trưng cho việc cắt đi mối liên hệ
giữa các vật liệu làm nhà mới với nơi sinh nó ra để xua đuổi cái xấu, ngôi nhà trở nên yên lành, yên ấm với con người.
Ảnh: Trần Thanh Giang


Những thủ tục cuối cùng thầy mo tiến hành để kết thúc nghi lễ đắp bếp trong ngôi nhà mới. Ảnh: Trần Thanh Giang


Từ sự trân trọng bếp lửa đã thể hiện nét sinh hoạt văn hóa đoàn kết, ấm cúng
và thân thiện của bà con dân tộc Mường được lưu giữ từ hàng trăm năm nay. Ảnh: Trần Thanh Giang

Theo quan niệm của người Mường, ngôi nhà sàn được làm từ những thân gỗ, thân tre lấy trong rừng thì có thể đưa theo về nhà mình những điềm dữ, điềm gở với con người. Những điều xấu xa ấy được tượng trư bằng những sợi chỉ trắng được chăng khắp nới trong ngôi nhà mới. Và sau khi cúng xong, thầy cúng sẽ làm động tác cắt sợi dây ấy đi, tượng trưng cho việc cắt đi mối liên hệ giữa các vật liệu làm nhà mới với nơi sinh nó ra để xua đuổi cái xấu, ngôi nhà trở nên yên lành, yên ấm với con người. Đây là một trong những thủ tục cuối cùng thầy mo tiến hành để kết thúc nghi lễ đắp bếp.

Từ xa xưa, đời sống người Mường đã gắn liền với chiếc bếp lửa, không chỉ giúp nấu chín các món ăn mà bếp lửa còn đặc biệt quan trọng trong việc thắp sáng, sưởi ấm và bảo vệ con người khỏi thú dữ. Từ sự trân trọng bếp lửa đã thể hiện nét sinh hoạt văn hóa đoàn kết, ấm cúng và thân thiện của bà con dân tộc Mường được lưu giữ từ hàng nghìn đời nay./.

Thực hiện: Trần Công Đạt – Trần Thanh Giang

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Cơm Đe Mường Rậm

(HBĐT) - Hàng năm vào dịp trước Tết Nguyên đán, bà con Mường Rậm, xã Lạc Thịnh (Yên Thủy) tổ chức lễ cúng cơm Đe.
 

Ngày nay bà con Mường Rậm còn làm bánh chưng để cúng trong lễ cơm Đe.
Lễ cơm Đe có từ bao giờ, không ai nhớ, chỉ biết trong cộng đồng người Mường Rậm ở bản Lạc Tề (xã Lạc Thịnh) vẫn còn lưu truyền tích cổ: Thuở ấy, chiến tranh loạn lạc, có vị võ tướng thất trận, vượt rừng chạy qua đất này. Đến Mường Rậm (xã Lạc Thịnh ngày nay) đã quá nửa đêm, vị tướng và tùy tùng gõ cửa nhà một người Mường xin nghỉ lại.


Thương vị tướng và quân sĩ nhưng chẳng có gạo, ngô, muối dự trữ, chủ nhà đành luộc đu đủ, bí xanh, măng giang, đọt vầu rồi giã vừng không có muối để họ chấm ăn đỡ đói lòng. Khách đang ăn, chủ nhà mới nhớ ra còn ít cơm Đe đang ủ chuẩn bị nấu rượu uống Tết bèn mang ra mời thay cơm.
Sáng hôm sau, trước lúc lên đường, cảm động trước tấm lòng của bà con và thương cuộc sống khó nghèo vì hạn hán quanh năm, vị tướng đã lập đàn cầu mưa. Lạ kỳ thay, trời đổ mưa lớn.
Từ đó trở đi, để tưởng nhớ công lao người đã chinh biên cứu nước, cầu mưa cho dân, hàng năm vào dịp trước Tết Nguyên đán, bà con Mường Rậm tổ chức lễ cúng cơm Đe.
Vào ngày này, mọi người đều gác lại công việc đồng áng, nương rẫy để chuẩn bị đồ chay cúng. Trên mâm lễ vẫn là những nông phẩm mà vị tướng thuở nào đã thưởng thức: Đu đủ luộc, mướp, măng đồ chín, vừng rang không muối giã nhỏ và đặc biệt không thể thiếu món cơm Đe.
"Phải chọn gạo nếp nương ngon nhất, ngâm kỹ, vo sạch rồi đồ lên, khi nguội trộn với men lá cây rừng rồi ủ kỹ 7 ngày, khi mở ra nó không còn là cơm nhưng cũng chưa thành rượu, ấy là cơm Đe. Người Mường ở đất Lạc Thịnh này có một ngày riêng dịp cuối năm để cúng cơm Đe. Tết cơm Đe không có hội, chỉ có phần lễ, chỉ ăn chay nhưng bao giờ cũng đông hơn, nhộn nhịp, háo hức hơn Tết Nguyên đán..." - Nâng chén rượu rừng lên môi, già Bùi Văn Loát chia sẻ.
Với quan niệm lúc tinh mơ là khoảng thời gian linh thiêng, mát mẻ nhất, nên bao giờ lễ cúng của người Mường cũng diễn ra trước khi mặt trời ló rạng.

Mâm lễ được đặt chính giữa hướng nhà, tùy điều kiện từng gia đình mà có thể biện một, hai hoặc ba mâm. Chuẩn bị xong, chủ gia đình mời thầy mo vào vị trí làm lễ. Thầy mo thắp hương, kính cẩn đọc bài tế cầu cho mưa thuận, gió hòa, gia chủ khỏe mạnh, làm ăn tấn tới, mùa màng bội thu, trong êm ngoài ấm, các thành viên trong gia đình cung kính ngồi trong nhà sàn để nhập tâm thông điệp thần linh qua lời cúng.

Thời gian lễ nhanh hay chậm phụ thuộc vào việc thầy mo gieo quẻ, xin đài có được ngay hay không. Lễ cúng kết thúc, cả gia đình ùa ra mở cổng để đón khách vào cùng ăn uống, hưởng lộc. Ai cũng phải thưởng thức một chút cơm Đe để lấy may.


                                                                             HBĐT tổng hợp