Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019

Chuyện người Minh Hương ở Nam bộ

Trong lịch sử khẩn hoang ở Nam bộ, sự đóng góp của người Minh Hương và người Hoa từ xưa đến nay về kinh tế, văn hóa thật là to lớn. Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử có gốc Minh Hương, từ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long… đến những nhân vật có tên tuổi trong văn hóa nghệ thuật gần đây như Hồ Dzếnh, Vương Hồng Sển, Lý Lan. Họ đã hòa nhập thành người Việt.
Đã có nhiều tư liệu viết về Mạc Cửu và xứ Hà Tiên, với văn học Hà Tiên độc đáo, đỉnh cao của người Minh Hương đến khai khẩn Nam bộ. Bài viết chú trọng về người Minh Hương và người Hoa ở những vùng khác trên Nam bộ, chủ yếu là vùng Đồng Nai-Gia Định.
Người Minh Hương

Những nhân vật tiên phong khai phá

Ngoài Hà Tiên, thì nơi phát triển đầu tiên của người Minh Hương là xứ Đồng Nai, gồm Cù lao Phố, Biên Hòa, Bến Nghé-Chợ Lớn. Nông Nại đại phố tức là Chợ Lớn của xứ Đồng Nai. Đồng Nai âm theo tiếng Quảng Đông là Nông Nại.
Một trong những người đến cùng thời với Trần Thượng Xuyên hay còn gọi là Trần Thắng Tài là ông nội của Trịnh Hoài Đức từ tỉnh Phúc Kiến. Trong miếu Quan Đế ngày nay, ông có tên trong danh sách những người sáng lập ra miếu này ở Cù lao Phố năm 1684. Miếu Quan Đế Chùa Ông hiện nay vẫn còn và là miếu thờ cổ nhất ở Nam bộ. Cha của Trịnh Hoài Đức sau đó cũng góp công vào hương khói của chùa Quan Đế.
Trịnh Hoài Đức lúc thiếu thời học với Võ Trường Toản. Tư liệu quí giá và phong phú nhất về lịch sử khai khẩn Nam bộ là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Trong đó, Trịnh Hoài Đức viết về Cù lao Phố như sau:
“Nông Nại (tức Đồng Nai) đại phố, lúc đầu do Trần Thượng Xuyên khai phá, tức Trần Thắng Tài chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng, dọc theo bờ sông liên lạc dài 5 dặm, chia và vạch làm 3 đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lát gạch xanh, đường rộng bằng phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu, ấy là một chỗ đại đô hội mà những nhà buôn bán giàu có ở đây là nhiều nhất hơn thảy những nơi khác”.
Cù lao Phố trở thành một cảng quan trọng đầu tiên của Nam bộ, đón nhận thương thuyền nước ngoài, hưng thịnh suốt khoảng 90 năm từ khi Trần Thượng Xuyên đến với quân đội, suy thoái từ khoảng 1775, tức là khoảng sau 90 năm, để nhường cho Chợ Lớn, Bến Nghé Sài Gòn sau này. Trước khi Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn đưa đến cù lao Phố, đã có người Việt từ miền Trung đến ở núi Dinh (Mô Xoài) vùng Bà Rịa từ năm 1658 và vùng Long Thành. Nhờ vậy, khi Trần Thượng Xuyên đến cù lao Phố đã có dân Việt, dĩ nhiên người dân tộc như người Mạ, người Khmer, Chăm cũng tới lui trao đổi hàng hóa.
Trần Thượng Xuyên đến mang theo gia đình cùng với quân sĩ , nhiều binh sĩ này vẫn tiếp tục cầm vũ khí theo đuổi binh nghiệp nhưng một số lập nghiệp tại vùng đất mới. Sau một thời gian, thêm một số cư dân và thương gia đến sau, với vốn liếng để lập chợ. Cù lao Phố trở thành cảng sầm uất xuất nhập khẩu, với kho dự trữ hàng hóa nhập vào và dự trữ hàng hóa thâu mua từ nhiều nguồn của cư dân sống trong vùng Đồng Nai như lâm sản, ngà voi, nai, heo rừng, sừng tê giác…
Nguyễn Hữu Cảnh, do chúa Nguyễn gởi vào sau này để cai quản vùng đất mới, đến Cù lao Phố ngay lúc cù lao với cảng đang hưng thịnh, nhưng trụ sở hành chánh và đồn binh đặt ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Hữu Cảnh vào cù lao Phố với thủy quân. Khi ông mất ở Rạch Gầm, quan tài được đưa về Cù lao Phố, rồi từ đấy về miền Trung theo đường thủy, chôn ở quê ông là Quảng Bình. Chứng tỏ Cù lao Phố lúc đó là cảng quan trọng, sầm uất nơi cập bến của tàu bè khi đi và đến Đồng Nai, cửa ngõ của Nam bộ. Hiện nay ở Cù lao Phố còn đền thờ mộ tượng trưng của Nguyễn Hữu Cảnh, do dân chúng thiết lập để nhớ ơn ông.
Cù lao Phố bắt đầu suy thoái khi lưu dân xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long càng nhiều, biến vùng Mỹ Tho và các vùng phụ cận thành nơi sản xuất lúa gạo, cây trái, thủy sản lớn nhất của miền đất mới Gia Định – Đồng Nai. Hơn nữa Cù lao Phố thiếu hàng hóa đưa ra ngoài vì lâm sản dần dần ít đi và không còn là sản phẩm chính cần ở thị trường. Nhiều thương gia lần dời xuống Sài Gòn-Chợ Lớn để mua bán. Nguồn lúa gạo dồi dào của đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu dư để xuất đi nhiều nơi ở Đàng Ngoài và nhiều nơi khác, mà lúa gạo là nhu yếu phẩm chính.
Cù Lao Phố tàn lụi và chấm dứt khi quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đến tấn công, đốt phá phố cù lao và giết rất nhiều người Minh Hương trong vùng. Đại Nam nhất thống chí ghi rõ quân Tây Sơn đến “dỡ lấy hết nhà cửa, gạch đá của cải chở về Quy Nhơn, từ đời Gia Long trung hưng tuy người ta có trở về, nhưng trăm phần chưa được một”. Những người sống sót đều chạy xuống vùng Bến Nghé và Chợ Lớn lập phố xá và chợ mới gần chợ Tân Kiểng. Từ đó Chợ Lớn càng trở nên phát triển hơn và là trung tâm thương mại ở Gia Định và miền Nam. Thương thuyền khắp nơi vào buôn bán và chở sản phẩm như lúa gạo đi các vùng và các nước như Trung Quốc và Mã Lai.
Năm 1822, khi người Anh ỏ Bengal (Ấn Độ) và Singpapore gởi ông John Crawfurd vào Gia Định gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt để tìm hiểu về thương mại, Crawfurd có viết về Chợ Lớn lúc đó gọi là Sài Gòn và Bến Nghé như sau:
“..Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng […] Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây […] Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp.”
Cũng theo Crawfurd thì ở Chợ Lớn nhà cửa của thương gia Trung Hoa đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi John Crawfurd đi thơ thẩn, ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi.
Nếu cảng Cù lao Phố vẫn còn thì đây là khu phố cổ thương mại thứ hai ở Việt Nam sau phố cổ Hội An, được thành lập với sự đóng góp lớn của người Hoa. Cách đây 14 năm (1993), mộ tướng Trần Thượng Xuyên được khám phá nằm ở Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cạnh hữu ngạn sông Đồng Nai, mà tôi có dịp đến thăm. Đình Tân Lân ở thành phố Biên Hòa, cạnh cù lao Phố, là nơi thờ tướng Trần Thượng Xuyên có sắc phong của vua Minh Mạng. Được xếp hạng là một di tích lịch sử văn hóa. Đình ở vị trí rất đẹp, trước măt đền là sông Đồng Nai với cây cổ thụ lớn ngay cạnh sông. Tân Lân là tên gọi của vùng bên phía chợ Biên Hòa nơi tướng Trần Thượng Xuyên xưa kia đóng quân, sử ghi là xứ Bàn Lân, sau đổi là Tân Lân. Bàn Lân có thể là do chữ Bằng Lăng nói trại ra. Cây bằng lăng là cây bản địa, mọc rất nhiều trước đây trong vùng Đồng Nai và Gia Định. Hiện nay cây bằng lăng còn có thể tìm thấy trong các rừng còn lại ở Đông Nam bộ (như rừng Cát Tiên) và một vài tỉnh ở Tây nguyên (Lâm Đồng, Dak Lak).

Văn hóa người Minh Hương

Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa trước đây và hiện nay thì không có gì hơn là đến khu Chợ Lớn. Tôi đi cùng với một người bạn gốc Hoa vào Chợ Lớn thăm viếng các nhà văn hóa người Hoa. Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lãm và các hình ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật. Nhà Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng. Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu nằm ở góc đường Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung tâm Chợ Lớn. Phim “Người Tình”, phỏng theo tự truyện ‘L’Amant‘ của nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xã Tây ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.
Người Minh Hương
Đình Minh Hương Gia Thạnh, quận 5, Sài Gòn. (Ảnh Wikipedia)
Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người biết nhiều về lịch sử người Minh Hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi quyển sách của anh viết về người Hoa ở Nam bộ. Nói chuyện về các địa lý và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lý Ngọc Minh hiện nay. Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra còn có ban bảo trợ văn hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.
Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm. Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác rất trang nhã của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, thì kế bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đã bị phá đi, hiện nay là xí nghiệp in, chỉ còn lại một bức tường. Đây là một mất mát văn hóa to lớn.
Đến Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đình mà năm trước tôi có đến. Đình là tòa nhà cổ nhất Sài Gòn, xây năm 1789, được công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh Hương còn để lại câu ca dao
Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.
Lần trùng tu cuối cùng của đình là vào năm 1921. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và chuyển tên từ làng thành đình. Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời). Đình Minh Hương Gia Thạnh cũng là nơi tề tựu, gặp gỡ của nhóm Bình Dương thi xã, sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.
Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Sài Gòn. Chùa nằm ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình), vẫn còn giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành lập. Chùa được cư sĩ người Minh Hương tên là Lý Thụy Long xây dựng vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai và Gò cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia Định thi xã của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lý Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vì thế chùa còn có tên là Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 hòa thượng Viên Quang tới trụ trì, từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã miêu tả cảnh chùa như sau: “Chùa toạ lạc trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm…, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà nhã thú!…” Chùa hiện nay được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi người Minh Hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đa số các chủ lò gốm là do người Việt gốc Hoa, hay Minh Hương đảm trách. Họ đã làm nghề này cha truyền con nối bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đã tồn tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Lò Gốm ở vùng quận 8 (phía Chợ Lớn) (Xem bài: Những dấu tích thăng trầm của xóm Lò Gốm Sài Gòn xưa). Xung quanh vùng này còn có nhiều địa danh như Lò Rèn, Xóm Lò Siêu, xóm Lò Gạch… Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất đến các tỉnh miền Tây.
Gốm vùng Sài Gòn-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử, khảo cổ trước đây gọi là gốm “Cây Mai” (được biết đến qua những gốm xưa tìm được ở gò Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn) nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Hòa, Sài Gòn. Ngày nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Lò Gốm xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm, trên một gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu… Ngày nay những nơi còn tiếp tục truyền thống gốm cổ truyền của người Hoa hiện nay còn rõ nhất ở những lò làm lu gốm ở Biên Hòa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm gia dụng ở vùng Lái Thiêu.

Ảnh hưởng tới ngôn ngữ

Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh Hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh Hương.
Các từ gốc Triều Châu
  • Lẩu: Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.
  • Tía: Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đã đưa ra danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.
  • Hên: Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh thì đáng lý ta phải viết là Hênh.
  • Xui: Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.
  • Khổ Tai: Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.
Các từ gốc Quảng Đông
  • Xí Mụi: do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.
  • Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.
  • Hủ tiếu: Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.
  • Xíu Mại: Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn đều do Quảng Đông đưa vào.
  • Chạp Phô: Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v. còn các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi là chạp phô.
  • Giò Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong dầu, chỉ loại bánh bột mì chiên mỡ.
  • Ly: Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.
  • Xì Thẩu: Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.
Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh Hương.
Tác giả: Nguyễn Đức Hiệp
Trích từ bài nghiên cứu “Vài nét về lịch sử của người Minh Hương và người Hoa ở Nam Bộ”
Đăng tải trên vanhoahoc.vn
Theo Sai Gòn chuyện chưa kể

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Tết Thanh minh ở 'phố người Hoa' Sài Gòn có gì đặc biệt?

Người Hoa ở Sài Gòn đón Tết Thanh minh không ồn ào, không náo nhiệt như Tết Nguyên Tiêu nhưng vẫn đầy đủ các lễ nghi và ấm cúng trong sự sum họp gia đình.
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 1.
Người Hoa Chợ Lớn tranh thủ mua vàng mã đi tảo mộ. (Ảnh: Bảo Bình)
Theo nghĩa Hán - Việt, "thanh" là khí trong, còn "minh" là sáng sủa. Thanh minh là tiết thứ 5 trong 24 tiết khí hàng năm, được người phương Đông coi là một lễ tiết. Còn Tết Thanh minh là một ngày lễ trong tiết Thanh minh. Thanh minh bắt đầu cho những ngày trong sáng và ấm áp của mùa xuân, hoa bắt đầu nở, cây cối đâm chồi, bắt đầu một cuộc sống mới, người ta chọn những này để sum họp gia đình, tưởng nhớ tổ tiên và vui chơi kết nối.

Tảo mộ dịp Thanh minh dưới cơn mưa đầu mùa mát mẻ

Năm nay Tết Thanh minh còn trùng với ngày mùng 1 tháng 3 Âm lịch nên các hoạt động cũng được chăm chút hơn. Vào rạng sáng nay ngày 5/4, khắp Sài Gòn có mưa lớn, khí trời mát mẻ, nhiều người Hoa Chợ Lớn tranh thủ đi tảo mộ người thân đã khuất, mua sắm đồ về cúng ông bà tổ tiên và nấu bữa ăn gia đình.
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 2.
Nhiều người tranh thủ dịp này để đi tảo mộ. (Ảnh: Thành Nguyễn)
Tuy Tết Thanh minh không phải là một ngày lễ lớn, nhưng với người Hoa ở Sài Gòn vẫn luôn là một dịp quan trọng trong năm. 
Họ đón Thanh minh bằng cách tranh thủ đi tảo mộ, như một hướng vọng về tổ tiên và sự sum họp, kết nối. Trong những ngày này, không khí gia đình trở nên thiêng liêng với những câu chuyện về dòng họ, về ông bà, cha mẹ, những người đã khuất và những người còn sống, tạo sợi dây vô hình kết nối bằng sự yêu thương và các giá trị gia đình tốt đẹp.
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 3.
Đến chùa thắp hương cũng cầu mong bình an. (Ảnh: Bảo Bình)

Nhiều người sắm sửa đồ cúng ở chợ Phùng Hưng

Thanh Minh bắt đầu từ sáng ngày 4/4 - 6/4, trên các con đường ở khu vực Chợ Lớn với lễ cúng, thức cúng được bày bán ở khắp các khu chợ, con phố. Mỗi gia đình đều tất bật chuẩn bị cho ngày này.
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 4.
Một quầy hàng bánh đủ loại phục vụ người dân dịp Tết Thanh Minh. (Ảnh: Bảo Bình)
Chú Minh, một người Hoa ở khu Chợ Lớn chia sẻ: "Cuộc sống hiện đại hơn nên mọi người cũng làm tối giản với ngày lễ này. Tuy nhiên, một ít món bánh truyền thống của người Hoa vẫn luôn được chuẩn bị đầy đủ, sáng sớm có nhiều người đã lo đi tảo mộ, quét dọn và thắp nhang, đốt tiền vàng cho người thân đã khuất".
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 5.
Hàng thịt quay được bán trong khu chợ. (Ảnh: Bảo Bình)
Lễ cúng ngày Thanh minh đơn giản là một mâm cơm đón ông bà, cúng mặn và cúng ngọt đều được. Ngoài các lễ vật thông thường như hương, đèn, hoa quả, trà, rượu... người Hoa ở Sài Gòn vẫn dùng những món đặc trưng như các loại bánh cúng và vịt quay, heo sữa quay.
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 6.
Các loại bánh được làm chỉnh chu đẹp mắt. (Ảnh: Bảo Bình)
Sáng ra chợ Phùng Hưng ở khu Chợ Lớn có thể thấy các gian hàng bánh cúng đặc trưng như bánh bò "khổng lồ", bánh tài lộc - bánh thuẫn, bánh trái đào - bánh bao nhân đậu xanh, bánh cam, bánh bông lan,… tất cả đều được làm chỉnh chu đẹp mắt, kích thước lớn hơn bình thường, gửi gắm các ước vọng sung túc, bình an.
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 7.
Gian hàng bánh đủ loại. (Ảnh: Bảo Bình)
Với những nhà cúng đồ mặn, món chính sẽ là vịt quay hoặc heo sữa quay. Đây là món ăn truyền thống của người Hoa trong tất cả các dịp lễ tết; tượng trưng cho mong ước thịnh vượng, phúc lộc, an khang.
Tết Thanh minh ở phố người Hoa Sài Gòn có gì đặc biệt? - Ảnh 8.
Món thịt heo, thịt vịt quay được làm theo công thức truyền thống. (Ảnh: Bảo Bình)
Những cơn mưa đầu tiên ở Sài Gòn làm thời tiết dễ chịu hơn, cây cối xanh tốt và đâm chồi nảy lộc. Thông qua những lễ nghi truyền thống còn lưu giữ vào ngày Tết Thanh Minh, người Hoa Chợ Lớn vẫn lưu giữ đạo lí "uống nước nhớ nguồn", hướng về người thân đã khuất trong ngày "trong sáng" này.g & Pháp lý

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Lễ cúng cuối năm

Lễ cúng cuối năm (Lễ Tạ thần) được cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu rất coi trọng, là dịp để tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho gia đình một năm bình an, kinh doanh thuận lợi, đồng thời cũng là dịp để nhắn nhủ mọi người có trách nhiệm với ông bà, cha mẹ và cộng đồng.
Lễ cúng cuối năm được tổ chức vào tháng 12 âm lịch ở các chùa, miếu và tại gia đình.

Lễ cúng cuối năm là dịp để nhắn nhủ mọi người có trách nhiệm với ông bà, cha mẹ và cộng đồng. 

Lễ thường tập trung theo khu vực gắn với nơi sinh sống của người Hoa.

Lễ cúng cuối năm là dịp để người Hoa tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho gia đình một năm bình an, làm ăn thuận lợi. 

Lễ không thể thiếu các lễ vật, như: heo quay, heo trắng, trái cây, bánh củ cải, bánh bò, bánh tổ và nhiều thức ăn ngon khác do bà con đem đến.

Lễ cúng cuối năm được tổ chức theo khu vực gắn với nơi sinh sống của người Hoa. 
 
Khi lễ cúng diễn ra, Ban Trị sự tổ chức lễ và bà con cùng thực hiện nghi thức tạ thần.

Hòa tấu mừng Lễ cúng cuối năm tại chùa Bà Địa Mẫu ở phường 2, thành phố Bạc Liêu. 

Kết thúc phần lễ, mọi người chế biến các món ăn và cùng hưởng lộc, tạo nên không gian văn hóa gắn kết cộng đồng, với hy vọng làm ăn thuận lợi, đón Tết Nguyên đán an khang, phát tài.
Lư Dũng

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Nét văn hóa độc đáo của cộng đồng dân tộc Xạ Phang

Bản Thèn Pả ở xã Sa Lông (Mường Chà, Điện Biên) là nơi sinh sống của hơn 60 hộ dân người dân tộc Xạ Phang - một nhóm nhỏ của dân tộc Hoa ở Việt Nam.
Vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, đồng bào Xạ Phang đã về định cư ở đây và trở thành 1 trong 19 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Trải qua quá trình phát triển, nét văn hóa độc đáo trong cuộc sống, sinh hoạt của cộng đồng dân tộc người Xạ Phang ở Thèn Pả vẫn đang được bảo lưu, gìn giữ.
Một góc thung lũng Thèn Pả (xã Sa Lông, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên) nơi cộng đồng dân tộc Xạ Phang đang sinh sống. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Chuẩn bị đồ cúng lễ ông bà, tổ tiên của người dân tộc Xạ Phang.
Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Thiếu nữ Xạ Phang thêu thùa, may vá. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Trang phục truyền thống của người phụ nữ Xạ Phang.
Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

 Đôi giày hoa thêu thủ công truyền thống của phụ nữ Xạ Phang.
Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Thiếu nữ Xạ Phang trong trang phục truyền thống. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Phụ nữ dân tộc Xạ Phang nấu những món ăn truyền thống.
Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN


Độc đáo trang phục truyền thống đồng bào Xạ Phang

Xạ Phang là một nhóm thuộc dân tộc Hoa, sinh sống chủ yếu ở vùng sâu vùng xa, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Tại tỉnh Điện Biên, người Xạ Phang sống tập trung ở 10 bản thuộc 6 xã của các huyện Mường Chà, Nậm Pồ, Mường Nhé, Tủa Chùa với dân số hơn 2.000 người. Người Xạ Phang vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa của dân tộc mình, trong đó phải kể đến nét độc đáo của trang phục, giày thêu truyền thống thể hiện trong từng họa tiết, hoa văn được làm cẩn thận, tỉ mỉ.
Những hoa văn tinh tế được thêu nổi bật trong trang phục áo truyền thống của người phụ nữ Xạ Phang. Ảnh: Văn Dũng - TTXVN

Đến với thôn Tả Sìn Thàng (xã Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa) vào những tháng giáp Tết, khi những nụ đào còn e ấp chờ ngày nở rộ, du khách sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh chị em người Xạ Phang đang cần mẫn may trang phục bên hiên cửa để chuẩn bị cho các thành viên trong gia đình đón Tết, vui hội ngày Xuân.

Trang phục của người Xạ Phang mới nhìn có vẻ đơn giản nhưng khi quan sát kỹ từng chi tiết hoa văn, đường thêu mới thấy được sự công phu, tinh xảo. Áo của người phụ nữ được may theo kiểu cổ tròn ôm sát người. Khuy áo chéo xuống nách dọc theo sườn áo xuống gấu áo được tô điểm bởi họa tiết hoa văn, hòa trộn sắc màu rực rỡ của các loại chỉ màu. Phần cổ áo và tay áo luôn là phần nổi bật nhất bởi người may thường chọn những họa tiết tinh tế, cầu kỳ để thêu lên. Ngoài ra, từng chi tiết hoa văn còn được người thợ khéo léo đính thêm những hạt bạc nhỏ làm tôn lên nét đẹp, quý phái của trang phục. Người Xạ Phang thường kết hợp trang phục truyền thống với khăn quấn đầu và giày thêu thủ công.

Giày thêu trong bộ trang phục của nam và nữ ở người Xạ Phang.
Ảnh: Văn Dũng - TTXVN

Đôi giày của người Xạ Phang cũng không kém phần cầu kỳ, từ những bộ phận tạo nên chiếc giày. Đế giày được làm bằng mo tre và dán thành nhiều lớp bằng chất keo làm từ từ củ môn giả nhuyễn. Để tạo độ ma sát và bền, người thợ thường khâu thêm sợi dù ở phía dưới. Tấm lót giày thường dùng vải nhung có in hình hoa lá. Phần vải phía trên giày được thêu hoa văn cân xứng nhau, với họa tiết hoa lá, hình khối bắt mắt. Viền giày cũng được may chi tiết, cẩn thận, gam màu để thêu thường dùng là xanh, đỏ, đen, hồng… Giày của người Xạ Phang có cả nam và nữ. Giày cho nữ  bịt kín mũi, ôm sát chân, còn giày cho nam để thoáng ở mũi giày và có dây quai để thắt vào. Đôi giày sau khi hoàn thiện có hình dáng thanh thoát, gọn nhẹ.

Chị Thàng Thiều Hóa, người Xạ Phang ở thôn Tả Sìn Thàng cho hay, lúc chị 12 tuổi đã được bà, mẹ dạy may trang phục, thêu giày. Một cái áo hoàn thành phải mất hai tuần, trong đó thời gian lâu nhất vẫn là công đoạn thêu họa tiết. Khi mới tập làm, chị phải vẽ ra để thêu cho chính xác, tuy vậy vẫn vụng về, đường chỉ còn sai, rất khó để phối màu. Hiện tại, chị có thể thêu mà không cần vẽ, mọi họa tiết đều được ghi nhớ và cứ thế thêu lên.

Chị Hoàng Lao Tú người dân tộc Xạ Phang đang thêu những đôi giày.
Ảnh: Văn Dũng - TTXVN

Cũng như chị Hóa, chị Hoàng Lao Tú ở xã Tả Sìn Thàng từ nhỏ đã biết may trang phục và thêu giày. Chị Tú cho biết, một chiếc giày được hoàn thiện phải mất gần một tháng. Người thợ may giày rất cẩn thận trong việc chọn nguyên liệu làm đế giày và may đúng kích cỡ. Đặc biệt, từng họa tiết thêu lên giày phải thật khéo léo, bởi đôi giày có đẹp, nổi bật cũng là nhờ những đường nét trang trí. Theo chị Tú, giày chỉ làm cho những người trong gia đình, nếu bán ra thị trường, trị giá mỗi đôi phải hơn 1 triệu đồng. Người dân tộc Xạ Phang thường mang giày thêu kết hợp với bộ trang phục truyền thống vào những ngày lễ tết, cưới hỏi.

Phụ nữ Xạ Phang may trang phục truyền thống. Ảnh: Văn Dũng - TTXVN

Ông Lò Triển Sấn, Trưởng thôn Tả Sìn chia sẻ, thôn Tả Sìn Thàng hiện có 97 hộ, 458 khẩu, 100% là đồng bào Xạ Phang. Người Xạ Phang xem trang phục truyền thống và đôi giày thêu như là hồn của dân tộc mình. Trải qua bao nhiêu thế hệ, người dân luôn muốn lưu giữ, bảo tồn. Đặc biệt, hầu như tất cả phụ nữ Xạ Phang trước khi lấy chồng đều phải biết may áo quần và thêu giày. Để phát huy và giữ gìn giá trị văn hóa này, ông thường tuyên truyền, vận động bà con gìn giữ, truyền dạy cho lớp trẻ sau này.

Ông Dương Thanh Sơn, Phó Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin huyện Tủa Chùa cho biết, cộng đồng người Xạ Phang luôn lưu giữ nhiều loại hình văn hóa truyền thống riêng. Đặc biệt là trang phục truyền thống và giày thêu vẫn còn bảo tồn nguyên vẹn cho đến tận ngày nay. Huyện Tủa Chùa thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân bảo tồn gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa vốn có. Địa phương đang khảo sát, lập hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa đối với trang phục và giày thêu truyền thống của người Xạ Phang.

Những bộ áo quần truyền thống của người Xạ Phang.
Ảnh: Văn Dũng - TTXVN

Hình ảnh các chị em Xạ Phang xúng xính bên bộ trang phục truyền thống, đôi giày thêu trong đời sống hằng ngày hay những dịp lễ tết đã tôn lên vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ. Những bộ áo quần, giày thêu truyền thống không đơn thuần chỉ để làm đẹp mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh mà người Xạ Phang gửi gắm vào trong từng họa tiết, đường kim mũi chỉ. Vì vậy, để bảo lưu giá trị văn hóa này, trách nhiệm không chỉ của người Xạ Phang mà cần có sự tham gia, quan tâm của chính quyền cũng như các cấp, ngành liên quan.

Võ Văn Dũn
g

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Phong tục đẹp trong đám cưới của người Hoa


 Dựng lại cảnh đaacute;m cưới của người Hoa. Ảnh Internet
Dựng lại cảnh đaacute;m cưới của người Hoa. Ảnh Internet
Người Hoa xuất hiện ở Thái Nguyên trên dưới 150 năm, họ là lưu dân có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Cộng đồng người Hoa có nhiều nét văn hóa độc đáo, góp phần làm phong phú nét văn hóa chung của Thái Nguyên. Một trong những nét văn hóa đó là các tập tục trong lễ cưới.

Đối với người Hoa, trai gái được tự do tìm hiểu để đi đến hôn nhân nên vai trò của người làm mối không được đề cao. Tuy nhiên, để đi đến hôn nhân  trai gái người Hoa vẫn phải trải qua bốn bước chính. Bước 1 lấy lá số so tuổi: Khi hai bên nam, nữ đã ưng nhau, chàng trai về thưa với cha mẹ để nhờ người sang nhà cô gái đánh tiếng và lấy lá số của cô gái về so. Nếu tuổi không hợp nhau nằm trong tứ hành xung thì không được kết hôn với nhau. Việc so tuổi được thực hiện vào đầu xuân năm mới.

Bước hai là lễ ăn hỏi và báo cưới: Khi đôi trai gái hợp tuổi, chàng trai cùng bố mẹ và người mối mang lễ vật gồm 1 đôi gà, hai chai rượu, một khoanh thịt lợn và 10 bơ gạo nếp sang nhà gái. Nếu nhà gái ưng thuận sẽ mời nhà trai ở lại ăn cơm. Sau đó chàng trai và bố mẹ ra về riêng ông mối ở lại cùng nhà gái thỏa thuận lễ vật và tiền dẫn cưới. Bước ba là lễ cưới: Lễ cưới của người Hoa thường được tổ chức vào cuối năm cũ đầu năm mới. Trong đám cuới cổ truyền cô dâu mặc xiêm áo màu hồng bằng gấm thêu. Cô dâu bới tóc, thoa dầu bóng, dắt trâm hình cành hoa đỏ và lá trắc bá diệp tươi trên đầu đội mũ phụng. Chú rể mặc xiêm áo bằng gấm hồng thêu hình rồng, trên đầu đội mũ quả bí trên ngực cài bông hoa to màu đỏ.
Ngày cưới, chú rể đến nhà cô dâu từ chiều hôm trước. Theo phong tục, nhà trai có một con lợn quay để cúng tổ tiên nhà gái. Ở nhà gái, chú rể phải tự rót nước mời họ hàng thân thích của cô dâu. Sau các thủ tục đó chú rể trở về nhà chỉ có hai cô gái chưa chồng và ông mối ở lại nhà gái để hôm sau đưa dâu về.

Ngày đón dâu chú rể và phù rể dón dâu ở giữa đường, khi cô dâu về tới nhà trai bố mẹ chồng nếu có tuổi không xung khắc với cô dâu thì ra đón, nếu có tuổi xung khắc thì tránh gặp mặt và đợi cô dâu bước vào nhà mới xuất hiện. Khi đến nhà trai cô dâu và chú rể phải thực hiện ba lễ bắt buộc: nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phu thê giao bái (bái lậy trời đất, bái lậy tổ tiên và hai vợ chồng bái lạy nhau). Sau khi thực hiện xong các nghi lễ trước bàn thờ tổ tiên, cô dâu chú rể đi chào cô bác bên chồng. Đêm động phòng hai vợ chồng phải uống rượu hợp cẩn gọi là giao bôi (chén chéo). Bước bốn là lại mặt: Thường tiến hành sau lễ cuới một ngày. Trong lễ lại mặt, ông mối và đôi vợ chồng trẻ phải mang một đôi gà hai chai rượu và một mâm xôi sang nhà gái thưa chuyện. Sau lễ lại mặt cha mẹ cô gái mới chia hồi môn cho con.

Đám cưới của người Hoa ngày nay đã giảm bớt nhiều thủ tục phiền hà nhưng vẫn giữ nét truyền thống riêng biệt.
TNĐT (b/s)

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2018

Độc đáo tục thờ Bao Công của người Hoa ở Chợ Lớn

Trải qua nhiều thế hệ, công đức của Bao Công đã được ca tụng và lưu truyền cùng với sự khát khao về công lý của người dân đen. Điều này là nguồn gốc tục thờ Bao Công của cộng đồng người Việt gốc Hoa khu vực Chợ Lớn

Khi ghé thăm một số hội quán, đền, miếu của người Hoa ở Chợ Lớn, du khách phương xa có thể sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp bàn thờ Bao Công một nhân vật quen thuộc từng khuấy đảo truyền hình Việt Nam. (Ảnh trong bài chụp tại hội quán Hà Chương, quận 5 TP.HCM).

Theo sử liệu Trung Hoa cổ, Bao Công húy là Bao Chửng (999-1062) là vị quan ở phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam - nơi từng là kinh đô của triều đại nhà Tống bên Trung Quốc.

Làm quan dưới thời hoàng đế Tống Nhân Tông (1022-1063), Bao Công nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chấp pháp nghiêm chỉnh, không khiếp sợ quyền uy hay vị nể tư tình.

Trong suốt thời gian làm quan, ông đã phá được nhiều vụ án, giúp dân cư an hưởng thái bình. Đó là giai đoạn người dân sống trong hạnh phúc với bối cảnh nền kinh tế, trị an xã hộiphát triển vượt bậc.

Người đời yêu quí gọi Bao Công là Bao Thanh Thiên (người có đức độ sáng như trời xanh) vì sự công minh tuyệt đối của ông. Từ một nhân vật lịch sử có thật, sự nghiệp Bao Công được khoác lên các giai thoại mang màu sắc kỳ bí.

Theo một truyền thuyết, Bao Công chính là Sao Văn Khúc trên trời giáng trần đáp ứng nguyện vọng của người dân. Vì vậy, ngoài việc xử án ban ngày ở dương gian ban đêm ông còn phải xử án ở âm ty.

Theo quan niệm dân gian Trung Hoa, biểu tượng vầng trăng trên trán của Bao Công tựa như ánh trăng công lý soi sáng ngay cả ở những nơi tăm tối nhất.

Trải qua nhiều thế hệ, công đức của Bao Công đã được ca tụng và lưu truyền cùng với sự khát khao về công lý của người dân đen. Điều này khiến Bao Công trở thành một nhân vật được thờ cúng trong các đền miếu.

Hình tượng Bao Công được tạo hình với những sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi điểm thờ tự. Điểm chung là ông luôn được thể hiện với nước da đen bóng, trên trán có hình vầng trăng khuyết, như những gì được miêu tả trong dân gian.

Nơi thờ Bao Công còn có cả các vệ binh từng sát cánh cùng ông ở phủ Khai Phong, được thể hiện trong phim ảnh qua các nhân vật Chiển Triêu, Vương Triều, Mã Hán, Trương Long, Triệu Hổ.

Ở hội quán Hà Chương, Bao Công được phối thờ với Thái Tuế Gia Gia và Ông Thành Hoàng, những vị thần trong tín ngường truyền thống của người Hoa.

Ngoài hội quán Hà Chương, những địa điểm nổi tiếng khác của người Hoa tại TP.HCM có thờ Bao Công là hội quán Ôn Lăng (quận 5) và miếu Phù Châu (quận Gò Vấp).

Theo Kiến thức

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

Rộn ràng Tết Nguyên tiêu của người Hoa ở Chợ Lớn

Chiều 11/2 (rằm tháng Giêng), hàng nghìn người đổ về khu vực Chợ Lớn, quận 5, TP.HCM, để tham gia lễ hội Tết Nguyên tiêu của cộng đồng người Hoa.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 1
Gần 1.000 diễn viên tham gia diễu hành, tái hiện văn hóa của cộng đồng người Hoa ở khu vực Chợ Lớn, quận 5, trong ngày Tết Nguyên tiêu chiều nay. Lễ hội còn là dịp đón mừng đêm trăng tròn đầu tiên trong năm để mọi người cầu mong mưa thuận gió hòa.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 2
Lễ hội diễu hành qua các tuyến đường quanh khu vực Chợ Lớn. Các đoàn diễn viên hóa trang thành Thần tài, các vị tướng, Tiên nữ, Bát Tiên, các ông Phúc, Lộc, Thọ, thầy trò Đường Tăng... tái hiện văn hóa của cộng đồng người Hoa.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 3
Hình ảnh các vị tướng được tái hiện trên đường.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 4
Đoàn diễu hành đi qua các tuyến đường như Hải Thượng Lãn Ông, Châu Văn Liêm, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo… sau đó về Trung tâm văn hóa quận 5 để tổ chức đêm hội Nguyên tiêu.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 5
Hình ảnh Bát tiên quen thuộc với nhiều người được tái hiện lại.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 6
Trong đó có cả hình ảnh thầy trò đường Tăng trong phim Tây Du Ký.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 7
Các em học sinh quận 5 hòa mình cùng đoàn biểu diễn.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 8
Hàng nghìn người dân đứng chật hai bên đường dõi theo màn biểu diễn của các diễn viên. CSGT cùng lực lượng dân phòng làm nhiệm vụ điều tiết giao thông để đoàn diễu hành được thuận lợi.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 9
Tiếc mục đứng trên vai múa rồng nhận được nhiều lời khen ngợi từ người dân.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 10
Các công nhân trên công trình cũng tranh thủ dõi theo màn biểu diễn.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 11
Buổi biểu diễn vào cuối giờ chiều nhưng thời tiết khá nóng. Nhiều "binh sĩ", "tiên nữ" đã tranh thủ lúc chương trình chưa bắt đầu để uống nước giải nhiệt.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 12
Ông Nguyễn Hoàng Hợp (61 tuổi, nhà ở quận 8) cho biết ông rất hào hứng khi được chọn làm diễn viên năm nay.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 13
Các diễn viên trong vai Phúc - Lộc - Thọ chụp ảnh cùng người dân trên đường Hải Thượng Lãn Ông.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 14
Những con cá trong tiếc mục múa rồng.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 15
Một du khách người Đức chụp lại những khoảnh khắc hiếm có trong ngày Nguyên tiêu.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 16
Những đạo cụ được dùng trong lễ hội.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 17
Nhật Huy (4 tuổi) lần đầu tham gia múa lân trong đoàn Hào Quang Đường.
Ron rang Tet Nguyen tieu cua nguoi Hoa o Cho Lon hinh anh 18Phóng to
Huỳnh Thị Minh Trang (học sinh lớp 12A1, trường THPT Ngô Gia Tự), cười tươi khi đi diễu hành. Trang cho biết em không phải người Hoa nhưng được bạn bè rủ tham gia nên đã nhận lời.
Tùng Tin