Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Ê đê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Ê đê. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

Lễ cúng chặt hạ cây: Sự tôn trọng rừng cây của người Ê-đê

Theo phong tục của người Ê-đê, trước khi chặt hạ một cây cổ thụ, gia chủ hoặc người trông coi rừng thường làm lễ cúng để xin thần linh phù hộ.
Như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyênngười Ê-đê ở Đắk Lắk từ xưa đã dùng gỗ từ cây rừng để tạo ra nhiều vật dụng trong gia đình như ghế kpan, giường phản, cột nhà, cầu thang,… Trước khi chặt hạ một cây rừng về sử dụng, họ thường làm lễ cúng để xin phép thần rừng và các thần cai quản cây. Đây là một tín ngưỡng mang ý nghĩa tâm linh, biểu hiện sự tôn trọng rừng cây của người Êđê.
 
Lễ vật được bày cách cây khoảng 10 mét, thầy cúng sẽ thực hiện nghi thức cúng trước mâm lễ vật

Theo phong tục của người Ê-đê, trước khi chặt hạ một cây cổ thụ, gia chủ hoặc người trông coi rừng cây thường làm lễ cúng để xin thần linh phù hộ cho việc chặt hạ cây được an toàn, gỗ của cây thật đẹp để có thể làm được nhiều vật dụng trong nhà. Trong lễ cúng, thầy cúng thay mặt gia chủ thực hiện nghi thức cúng thần Rừng, thần Núi, thần Sông, xin các thần cho phép gia chủ được đốn, hạ cây gỗ.

Với ý nghĩa này, để tái hiện nghi lễ của người Ê-đê, mới đây, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk đã mời thầy cúng và các nghệ nhân làm lễ cúng trước khi chặt hạ cây long não cổ thụ bị chết trong khuôn viên Biệt Điện Bảo Đại thành phố Buôn Ma Thuột. Thầy cúng Aê Lê, ở buôn Ea Bông, xã Cư Êbur, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk cho biết, đối với người Êđê, đây là việc làm thể hiện sự tôn trọng các loài cây, bởi mỗi cây đều có thần linh cai quản, nên phải được sự cho phép của các thần thì cây được chặt hạ mới có giá trị lâu bền.
 
Mâm lễ vật trong lễ cúng chặt hạ cây

Để thực hiện lễ cúng, gia chủ chuẩn bị một sạp nhỏ bằng tre để đựng lễ vật, một cột rượu; một con heo đực, rượu cần, trầu cau, thuốc lá, cơm, gạo, đèn cầy, … Cạnh mâm lễ, người ta cắm một cành xoan, rồi treo lên đó chiếc vòng đồng và một miếng bông biểu thị sự linh thiêng nơi thần linh trú ngụ.

Khi tiếng chiêng vang lên, thầy cúng bắt đầu làm lễ, khấn gọi các vị thần về chứng giám cho việc xin đốn, chặt cây của gia chủ. Lời khấn có đoạn: "Hỡi các thần linh cai quản rẫy nương, thần linh ở gần buôn làng, cây cổ thụ này gốc nó bên bờ sông, thân nó nơi thung lũng. Sau này khi chặt hạ cho nó mang điều an lành cho con người, không gây sự chết chóc, tang thương. Nên hôm nay gia chủ làm lễ cúng bằng con heo để các thần cùng chứng giám, cùng phù hộ cho gia chủ ngủ gặp nhiều may mắn, không mang điều xấu, phù hộ cho điều tốt điều lành. Để sau này cây này muốn làm giường gia chủ, ghế kpan. Đến khi thành giường ghế rồi mong thần cây vẫn phù hộ cho gia chủ được bình an”.
 
Thầy cúng khấn mời các thần về dự lễ.

Tiếp đó, thầy cúng đi vòng quanh gốc cây, bôi huyết heo và rải chén gạo với ý nghĩa cầu mong sự bình an, thân cây đổ đúng hướng. Đồng thời khấn và đeo vòng đồng cho gia chủ, cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến với gia chủ.

Tham gia nghi lễ cúng hạ cây long não hơn 100 tuổi tại Biệt điện Bảo Đại ở thành phố Buôn Ma Thuột, ông Y Thái Êban cảm thấy rất vui mừng. Vì lâu lắm rồi, ông mới chứng kiến nghi lễ này. Việc tái hiện nguyên bản nghi lễ  rất có ý nghĩa, nhằm lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ tiếp theo.
 
Thầy cúng rót rượu và rải chén gạo quanh gốc cây

Ông Y Chen Niê, cán bộ Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, cho biết trong lễ cúng chặt hạ cây, người Ê-đê còn phân biệt nghi thức chặt hạ đối với cây sống và cây chết. Theo quan niệm của bà con, một cây cổ thụ không may chết đi sẽ mang những điềm không may mắn, do đó cần phải cúng trước khi chặt hạ để ngăn chặn không lây lan sang những cây khác, nhằm bảo vệ rừng cây được phát triển bền vững.

Theo phong tục của người Ê-đê thì đối với những cây mang điềm xấu thì sẽ có những nghi lễ khác nhau và đối với những cây có điềm tốt thì cũng có nghi lễ khác. Ví dụ như đối với cây bị chết thì người dân làm lễ để xua đuổi tà ma, điềm xấu và chặt hạ cây, đồng thời cầu mong cho gia chủ hay người chăm sóc cây đó được khỏe mạnh, may mắn.
 
Thầy cúng khấn và đeo vòng đồng vào tay gia chủ (người trông coi rừng cây) để cầu mong sức khỏe và may mắn

Trong ngày diễn ra lễ cúng, mọi người trong buôn sẽ không vào rừng. Gia chủ dành nguyên ngày để vui với cây, trước khi cây bị chặt hạ. Việc chặt hạ cây sẽ được tiến hành sau lễ cúng một ngày. Khi nhát rìu đầu tiên được bổ vào gốc cây không bị rớt xuống, có nghĩa là thần linh đã đồng ý.
Lễ cúng chặt hạ cây là phong tục tốt đẹp của người Ê-đê, có ý nghĩa giáo dục mọi người gìn giữ, bảo vệ môi trường thiên nhiên, sống hòa hợp với rừng và có ý thức bảo vệ rừng.
 Theo vov.vn

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2019

Canh bột lá yao - món ăn truyền thống của người Ê-đê

Những ngày đầu năm, bên bếp lửa bập bùng, phụ nữ Ê-đê lại thoăn thoắt chuẩn bị các món ăn, trong đó có món canh bột lá yao.
Canh bột lá yao có nhiều nguyên liệu, gia vị kết hợp tạo nên như: thịt/xương lợn (heo) hoặc vếch bò (phần đầu ruột non của bò), cây môn thục, cà đắng phơi khô, đu đủ xanh, gạo, lá yao (một loại lá rừng có vị ngọt, mùi thơm, hình dáng giống lá trầu không), lõi chuối, củ nén, muối, ớt, bột ngọt.
Để nấu món canh bột lá yao, người Ê-đê xào xương trước, sau đó bỏ đu đủ, lõi chuối, môn, cà đắng vào xào chung. Sau khi bỏ nước vào nồi canh, đợi nước sôi, người Ê-đê chắt nước từ hỗn hợp bột gạo với lá yao đã giã nát để bỏ vào nồi canh. Kết thúc, người Ê-đê nêm gia vị để có một món canh bột lá yao hoàn chỉnh, nóng hổi, thơm phức. Trong không khí ấm cúng, sum vầy của những ngày đầu năm, canh bột lá yao - món ăn truyền thống của người Ê-đê lại làm nức lòng những người con xa xứ trở về và gắn kết các thành viên trong gia đình./.
Nguồn: dantocmiennui.vn

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

Đắk Lắk: Độc đáo Lễ cúng ché của người Êđê Mdhur ở Mdrăk

H'Xiu 
(Vanhien.vn) Đối với người Êđê, ché không chỉ là tài sản thể hiện sự giàu có, sung túc mà còn mang tính linh thiêng.

Một buổi sáng đầu mùa khô, khi công việc nhà nông đã tạm vãn, ngôi nhà dài của ông Y Wưt Mlô và bà H’Yươh Niê (ama amí Sem) ở buôn Tai, xã Krông Jing, huyện M’đrắk trở nên đông vui hơn hẳn bởi lễ cúng ché. Trong gian khách, các chàng trai trẻ phụ giúp các nghệ nhân và người già chuẩn bị cột nêu, buộc rượu, treo chiêng. Trong gian bếp, các chị em phụ nữ nhanh tay chuẩn bị các món ăn, đàn ông trung niên làm thịt heo, chuẩn bị lễ vật.

Quang cảnh lễ cúng ché.

Ông Y Wưt Mlô cho biết, gia đình vừa có một năm may mắn, mạnh khỏe. Có chút dư giả, ông đã sắm thêm được chiếc ché Tang mới, nên tổ chức cúng nhập gia cho ché. "Gia đình chúng tôi mua được một cái ché mới nên tổ chức cúng để linh hồn của ché về ở với gia đình. Trước đây thời bố mẹ ngày xưa cũng thường xuyên như thế này nhưng từ đó tới nay bà con cũng ít dùng, các lễ cúng như cúng ché mới hoặc cúng chiêng gì đó cũng ít dùng. Nhưng gia đình chúng tôi vẫn muốn tổ chức để giữ lại truyền thống và sau này cho con cháu mình hiểu biết được truyền thống của cha ông xưa", ông Y Wưt Mlô kể.

Thầy cúng chuẩn bị các lễ vật.

Người Êđê quan niệm, vạn vật đều có linh hồn. Ché được xem là một vật thiêng vì ché đựng rượu cần là lễ vật không thể thiếu trong bất kỳ một lễ cúng nào. Mặt khác, rượu cần cũng thể hiện văn hóa giao tiếp của người Êđê, được gia chủ dùng để tiếp đón khách quý đến nhà; dùng làm quà tặng trong những dịp đặc biệt và là hiện vật có giá trị góp vào khi một gia đình trong buôn có lễ, tiệc. Ché vừa thân thiết, gần gũi lại vừa là vật thiêng nên người Êđê xem ché như một thành viên trong gia đình. Vì vậy, lễ cúng ché cũng như là một nghi lễ để ché nhập gia, sống hài hòa và phù hộ, mang lại cho gia chủ những điều tốt đẹp.
Lễ vật để cúng ché bao gồm 1 con heo thiến, 3 ché rượu lớn, 6 vòng đồng, 3 chuỗi hạt, 3 chén đồng, 3 tô đồng, 1 mâm đồng… Nhất định phải có cây xoan, vì đây được xem là vật kết nối giữa con người và thần linh, nơi thần linh ngự về dự lễ.
Khi tất cả đã sẵn sàng, thầy cúng Y Rung Ksơr (aê H’Djuang) ở buôn Hoang xã Krông Jing, huyện Mdrăk thay mặt gia chủ, bắt đầu làm lễ cúng. Lễ cúng được thực hiện theo thứ tự các bước, cúng cho ông bà, tổ tiên, cúng cho các thần, cúng cho ché và cuối cùng là cúng cho gia chủ. Thầy cúng khấn mời thần núi thần sông, tổ tiên, ông bà về chứng giám và cho phép gia đình được tổ chức lễ cúng; sau đó là nghi thức cúng cho ché.
Lời khấn có đoạn: “Ơ dân làng buôn Tai, các Yang gần, Yang xa, gia đình ông Y Wưt dù có khó khăn, vất vả, cũng đã tiết kiệm, tích góp để mua được ché quý về ủ rượu cúng Yang. Gia chủ hôm nay tổ chức lễ đón ché Tang về nhà, xin được thông báo và mời thần ché cùng dự tiệc với gia chủ, từ nay về sau gia đình sẽ coi ché như con cái trong nhà, được đối xử tử tế… vì thế, mong ché hãy chung sống vui vẻ, lâu dài, hòa thuận, đầm ấm và giúp đỡ các thành viên trong gia đình”.

Thầy cúng vừa khấn vừa đeo vòng đồng, chuỗi hạt vào tai và cổ ché, với ngụ ý làm đẹp cho ché, kể từ đây ché đã trở thành thành viên của gia đình, sẽ được đối xử yêu thương, tôn trọng như con cái trong nhà.
Ông Y Phô Niê Kđăm, cán bộ văn hóa xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk cho biết, đã rất lâu rồi trong buôn Tai mới có dịp được chứng kiến lễ cúng ché như thế này. Đây là một nghi lễ độc đáo tiêu biểu của người Êđê nhánh Mdhur và Blô nơi đây nhưng ngày nay ít nhiều đã bị mai một. Nay gia đình ông Y Wưt có điều kiện tổ chức được là một điều rất đáng quý.

"Tôi và người dân trong buôn nghe tin ông Y Wưt Mlô mua được chiếc ché mới. Hôm nay ông tổ chức cúng thì chúng tôi đến mừng với gia đình ông Y Wưt. Trong quá trình ông làm rẫy rồi chăn nuôi gia súc, đến nay có được khoản tiền sắm ché Tang, người dân chúng tôi rất mừng khi ông ấy có được tài sản đó", ông Y Phô Niê Kđăm chia sẻ.
Còn theo anh Y Bon Mlô, ở buôn Tai, xã Krông Jing, huyện M Drăk, tuy được nghe những người già trong buôn kể về lễ cúng ché nhưng đây là lần đầu anh được tận mắt chứng kiến một lễ cúng ché thực sự. Chính vì thế, anh cố gắng dõi theo từng công đoạn của lễ cúng và ghi chép lại để lưu giữ: "Mình là người trẻ thì khi thấy các cụ tiến hành công việc thì mình quan sát theo dõi và phải giữ gìn những truyền thống văn hóa này. Tôi cố gắng quan sát thật kỹ và ghi chép lại, từ cách thịt heo, chuẩn bị mâm cúng, lễ vật cúng rồi cách cột rượu, cách thầy cúng đọc lời khấn để lưu giữ lại và sau này có thể sử dụng, lưu truyền cho các thế hệ tiếp theo".
Khi các nghi lễ kết thúc cũng là lúc tiếng chiêng vang lên thay cho lời cảm ơn của gia chủ tới họ hàng, dòng tộc và bà con đến chung vui. Ấy là khi phần hội chính thức bắt đầu. Trong không khí rộn rã, mọi người quây quần quanh các ché rượu cần, uống chuyền rượu ở các ché, cùng ăn bữa cơm mừng cho gia chủ đã sắm thêm được chiếc ché quý.
Nguồn: VOV -Tây Nguyên

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Lễ cúng lúa giống của đồng bào Ê Đê

Trong đời sống, người dân tộc Ê Đê ở các tỉnh Tây Nguyên tổ chức nhiều nghi lễ (nghi thức và lễ hội) gắn với vòng đời người hoặc chu trình sản xuất, đặc biệt là những lễ thức nông nghiệp liên quan đến vòng đời của lúa. Mà tiêu biểu là lễ cúng lúa giống - một trong những nghi lễ quan trọng nhất gắn liền với phong tục sản xuất của người Ê Đê.
Lễ cúng lúa giống là một trong những nghi lễ không thể thiếu trong nông lịch của người Ê Đê. Sau khi nương rẫy đã được dọn dẹp xong cũng là lúc người Ê Đê tổ chức lễ cúng lúa giống (Trốc mdiê).

Với lễ cúng lúa giống, người Ê Đê cầu mong các vị thần đất, thần nước, thần gió, thần mưa... cho lúa giống khỏe mạnh, cây cối lên nhanh, mưa thuận gió hòa, lúa về trĩu hạt và bội thu. Mong các vị thần che chở, trông nom nương rẫy cho mùa màng bội thu.

Trước đây, để tổ chức lễ cúng lúa giống, từng gia đình đều làm riêng trong nhà sau khi dự lễ Kăm Buh. Người Ê Đê khấn các thần Âe Mtao Tlua, H’Bia Klu, các thần sông núi khác. Sau lễ này, hôm sau người Ê Đê bắt đầu lên rẫy chọc, trỉa lúa. Khi đi, mang theo rượu, gà đến nương cúng. Đổ rượu và tiết gà vào các giống cây trồng. Chiều tối về, lấy ché rượu mà lúc sáng đã cúng mang ra uống, và lấy một ché khác cúng sức khoẻ cho chủ nhà.

Lễ vật dâng cúng trong lễ cúng lúa giống của người Ê Đê.

Hiện nay, lễ cúng có phần đơn giản hơn. Để chuẩn bị cho lễ cúng giống lúa, gia đình chuẩn bị 1 con gà, một ché rượu, 1 bát tiết gà hòa rượu, hạt lúa giống, giống cây trồng, 1 ống bằng nứa, 2 cây chọc tỉa lúa, cuốc.

Thầy cúng đại diện cho gia đình làm lễ cúng lúa giống.

Sau khi lễ vật được chuẩn bị xong đồng bào Ê Đê mang lễ vật dâng cúng đến trước cây nêu trong nhà. Đại diện cho gia chủ, thầy cúng ngồi trước ché rượu cần và bắt đầu khấn: “Ơ Yàng! Hỡi các vị thần đất, thần sông, thần núi, thần mây, thần mưa, thần đông, tây, nam, bắc, hỡi các vị tổ tiên! Rẫy đã phát rồi, mùa màng sắp trỉa, mong cho hạt lúa cùng các loại cây trồng ngô, khoai... được nảy mầm tốt. Nhờ thần đất, thần núi, thần sông, thần mây, thần mưa cùng các vị tổ tiên cho nắng gió vừa phải, mưa thuận gió hòa, cả rẫy đầy lúa, con dế, con giun, con chim, các loại côn trùng không hại lúa, hại rẫy. Nhờ các vị thần cùng ông bà tổ tiên đã khuất giúp chúng con trông nom nương rẫy để cây cối phát triển tốt tươi, mùa màng bội thu. Ơ Yàng!”

Sau khi khấn xong tại ché, thầy cúng sẽ tiến hành khấn lần 2 tại mâm cúng. Mâm cúng bao gồm một bát tiết gà hòa rượu, một con gà luộc chín, lúa giống và giống cây trồng.

Nữ chủ nhân trong gia đình uống rượu cần mừng lễ cúng lúa giống.

Các nghi thức đã được thực hành xong, những nữ chủ nhân của nhà dài Ê Đê sẽ tiến đến cây nêu cùng nhấp hương vị của những ché rượu cần, tiếp đến là các thành viên trong gia đình và những người tham dự.

Màn hòa tấu chiêng tre của các nghệ nhân Ê Đê.

Theo phong tục của Ê Đê, sau khi uống rượu cần, mọi người sẽ cùng nhau hòa mình vào những tiếng cồng, tiếng chiêng đặc sắc, những câu hát Ayray và nghệ thuật thổi Đing Năm vô cùng độc đáo, những tiếng tù và mang âm hưởng của núi rừng.

Tiết mục thổi Đinh Năm và hát Aray của đồng bào Ê Đê.

Trong nghi lễ nông nghiệp của người Ê Đê lễ cúng lúa giống là một phong tục, tập quán, là bộ phận quan trọng đặc biệt trong hệ thống tín ngưỡng liên quan đến vòng đời lúa của dân tộc, nó có sức mạnh chi phối lớn đến đời sống văn hoá xã hội của người Ê Đê tỉnh Đăk Lăk.
Theo Langvietonline.vn

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Lễ cầu mùa của người Ê Đê

Lễ cầu mùa (kăm buh) rất quan trọng trong đời sống của đồng bào Ê đê. Đây là nghi lễ đánh dấu thời điểm bắt đầu một mùa rẫy mới, thường diễn ra đầu mùa mưa, với mong ước cầu cho mưa thuận, gió hòa, nương rẫy tốt tươi, thóc lúa đầy kho.


Để thực hiện nghi lễ, đồng bào Ê đê chuẩn bị các mô hình, thường được đục, đẽo, ghép từ gỗ, như: kho lúa (ước mong no đủ); khiên, đao (xua đuổi tà ma)... Bên cạnh đó là các dụng cụ sản xuất như: chiếc cào gom cỏ, đôi gậy chọc lỗ, ống đựng thóc giống...
 
Chuẩn bị lễ vật cho lễ cầu mùa
Chủ lễ khấn vái trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, thóc lúa đầy kho… Sau đó, buôn làng cử một số người thực hiện nghi thức trỉa lúa xung quanh cây cột lễ. Chủ lễ té nước ban phước lành, cầu mưa chống hạn. Kết thúc lễ cúng, đồng bào Ê đê về nhà uống rượu mừng một mùa rẫy mới.
Tái hiện hình ảnh chọc lỗ tra hạt trong lễ cầu mùa

Chung vui bên ché rượu cần

Nghi thức trỉa lúa
Dương Giang

Cúng sức khỏe - nghi lễ vòng đời của người Ê Đê

Người Tây Nguyên thực hiện nghi lễ Cúng sức khỏe để tỏ lòng thành kính tới các đấng thần linh và mong muốn, các thần linh che chở phù hộ cho con, cháu, buôn làng.


Chuẩn bị lễ vật dâng cúng

Hàng năm, vào những thời gian rảnh rỗi nông nhàn và của cải trong gia đình đã chuẩn bị đầy đủ, chủ nhà mời anh em bên họ của vợ (Dam adei) để bàn bạc và phân công việc để tổ chức cúng mừng sức khỏe cho con, cháu, anh em họ tộc của mình, lễ cúng mừng sức khỏe này thể hiện lòng yêu quý con cháu, tôn kính những người có công trong họ tộc và kính mong các đấng thần linh, ông bà tổ tiên phù hộ cho con cháu được khỏe mạnh.
 
Lễ vật dâng cúng.

Lễ vật dâng cúng là một ché rượu và vòng Kông một con gà trống, lễ này gọi Cut Kông, trao vòng Kông. Vào lễ, chủ nhà (tức vợ trong gia đình – tượng trưng cho thế lực và uy quyền và mẫu hệ dòng tộc) được ông chủ mời ngồi vào chiếc chiếu hoa đã được trải sẵn bên bếp lửa ngay cột nhà chính. Sau đó già làng (chủ lễ) cầm con gà trống thiến còn sống dâng cúng ông bà tổ tiên quay về phía đông bên hàng ché rượu.

Cúng Phat Mtao (trao vòng Kông)

Ở lần cúng đầu tiên: Lễ vật dâng cúng là một ché rượu và vòng Kông một con gà trống, lễ này gọi Cut Kông, trao vòng Kông. Vào lễ, chủ nhà (tức vợ trong gia đình – tượng trưng cho thế lực và uy quyền và mẫu hệ dòng tộc) được ông chủ mời ngồi vào chiếc chiếu hoa đã được trải sẵn bên bếp lửa ngay cột nhà chính.

Thầy cúng trao vòng sức khỏe cho gia chủ.

Thầy cúng quay về phía đông bên hàng ché rượu khấn ông bà tổ tiên: “Ơ Yàng bên Đông! Ơ Giàng bên Tây! Ơ thần linh, thần tốt! người này đã ở chòi, chòi yên. Đã ở nhà, nhà tốt. Anh ta đã biết đốt rẫy trồng lúa. Trồng chuối, chuối sai. Trồng mía, mía ngọt. người này đã lớn tuổi. Nay nhờ thần phù hộ, giúp cho người này có hơi thở tốt. Có nguồn sức lực tốt. Có bắp thịt bền như gang, dẻo như đồng, cứng như sắt. Nhờ thần linh giúp người này luôn khoẻ mạnh, bình yên.

Già làng mời người được cúng sức khỏe uống rượu cần.

Già làng khấn xong, bước đến ché rượu đầu tiên cầm lấy cần rượu và trao cho người được cúng sức khỏe. Tiếp đến chủ nhà (người vợ) trao cần rượu cho các con và dì, cậu, cô… trong dòng họ để cầu chúc cho người được cúng sức khỏe.

Cúng Yang Êsêi (thần ban sức khỏe)

Ở lần cúng thứ hai lễ vật dâng cúng tiết heo, thịt băm, tim, gan, ba chén cơm, ban chén rượu (trong đó có hai chén rượu nhỏ cho thần linh) tiếng chiêng và trống nổi lên thầy cũng cầm cần hút rượu vào chén đồng, đặt trước mặt chủ nhân: người nhận lễ: “Hỡi thần mẹ đẻ ra, thần cha sinh thành, thần bản mệnh, thần tạo ra muôn loài, thần ngự dưới đất, thần ở trên trời, hãy ban cho con cháu mọi điều tốt lành, để cho con cháu mạnh giỏi như tổ tiên xưa, có một cái bát phải giữ không bị mẻ, có một cái vòng phải trồng cho khỏe, không được ốm đau, để cho con cháu được sống vui vẽ mạnh khỏe, có sức cầm cái chày cái cối, nuôi cháu được khỏe nuôi con được tốt”.

Lần lượt từng người trong gia đình uống rượu và ăn thịt mừng sức khỏe cho gia chủ.

Thay mặt thần linh, thầy cúng trao cho anh chiếc khiên và thanh kiếm (sà gạc). thầy cúng cho chàng trai ăn thịt và cầm cần ba ché tiếp theo, lần lượt ông bà, cha mẹ ăn thịt cầm cần rượu nhấp những ngụm rượu cần cùng cầu chúc sức khỏe cho gia chủ.

Các thành viên trong gia đình cùng nhấp những ngụm rượu cần.

Dàn chiêng trổ tài diễn tấu, thầy cúng ngửa mặt lên trời, hai bàn tay nắm lại, khấn: Ơ Yàng ở phía Đông, Yàng ở phía Tây, Yàng trên mây, Yàng dưới nước, các Yàng đất, Yàng rừng… Yàng hãy ban cho chúng tôi nơi trú ngụ yên lành. Nay tôi cột ché rượu này mời các Yàng về ăn cơm. Rượu này thần uống. Cơm này thần ăn. Hãy bảo vệ ngôi nhà mới cho chúng tôi vững chắc mạnh khỏe, xua đuổi ma quỷ, hãy cho cuộc sống bình yên, lao động sản xuất lúa bắp tràn đến nóc đầy khắp nhà. Lời tôi ước xin các Yàng hãy nhận. Lời tôi cầu xin các Yàng hãy nghe. Ơ Yàng!”. Thầy cũng mời người phụ nữ chủ gia đình cầm cần ché rượu đầu tiên. Sau đó mới trao cần cho chồng, sang tay nối tiếp cần rượu các ché thứ 1, thứ 2, thứ 3… Từ lúc này trở đi, cần rượu không được buông khỏi tay người.

Cúng Yang Hleang (thần linh phụ hộ)

Với lần cúng thứ ba, Thầy cúng cầu khấn thần nuôi dưỡng, thần hộ mệnh, nếu chàng trai này bị đe dọa mong thần bảo vệ, nếu thần ác làm hại mong thần giúp đở để có sức mạnh, đừng cho thần Briêng nhập vào thân thể, chân tay của con người này, cầu cho người này có sức khỏe mạnh mẽ.
Thầy cúng cầu xin thần linh phù hộ.

Đây rượu cần đã cúng, con heo đã dâng, chàng trai này đã to thành như con ngựa, nhanh như con hổ, này rượu cần đã mời, thần hãy xuống cùng chúng con...Hỡi thần. Người được cúng cầm cân rượu ba ché rượu tiếp theo và mọi người cùng tiến hành nghi thức uống rượu mừng.

Cúng Yang Kleang Kông (thần trời, thần đất, sông, suối, núi, đồi…)

Sau ba lần dâng cúng, Thầy cúng ngửa mặt trời, hai bàn tay nắm lại khấn: "Ơ Yàng ờ phía đông, Yàng ở phía tây, Yàng dưới nước, các Yàng đất, Yàng rừng... Yàng về ăn cơm. Rượu này thần uống khỏe, xua đuổi ma quỷ, hãy cho cuộc sống bình yên, lao động sản xuất lúa bắp tràn đến nóc đầy khắp nhà. Lời tôi xin ước các Yàng hãy nhận. Lời tôi xin các Yàng hãy nghe. Ơ Yàng!".

Thầy cúng mời phụ nữ chủ gia đình cầm rượu ché thứ 1, thứ 2, thứ 3... lần lượt từng người vừa cần cân chúc phúc cho người khỏe manh vừa ăn thịt.
Các thành viên trong gia đình lên đeo vòng và cầu sức khỏe cho gia chủ.

Phần cuối cùng của buổi lễ, thầy cúng mời các thành viên trong gia đình lên chúc mừng nhân vật chính của buổi lễ. Người Ê Đê theo mẫu hệ nên trước hết là các cô, dì, các chị em trong họ, rồi đến bà con hàng xóm. Hết lượt của phụ nữ thì đàn ông đến chúc mừng. Người đến chúc mừng cầm theo chiếc vòng đồng và món quà nhỏ đi tặng.

Hòa theo nhịp chiêng đồng bào múa hát mừng sức khỏe.

Đồng bào múa khiên mừng lễ cúng.
Theo Langvietonline.vn

Lễ dời hẹn của người Ê Đê

Người Ê Đê rất coi trọng lời hứa, đặc biệt là lời hứa với các vị thần và tổ tiên. Do vậy, một khi đã hứa nhưng chưa thể thực hiện, người Ê Đê sẽ làm lễ cúng để nhắc nhớ lời đã hứa và dời hẹn lại vào một ngày tháng cụ thể khác. Nghi lễ này được gọi là lễ cúng nhắc vòng đồng hay lễ dời hẹn.


Một ngày trời quang mây tạnh, thời tiết mát mẻ, gia đình ông Y Thim Byă (ở buôn Ea Bông, xã Cư Êbur, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) mời anh em họ hàng ở các buôn về tụ họp để làm lễ cúng nhắc vòng đồng, dời hẹn làm lễ cúng sức khỏe vào tháng 3 năm tới.
 
Thầy cúng cầm vòng đồng đeo trên tay gia chủ và đọc lời khấn cầu sức khỏe, nhắc lại lời hẹn. Ảnh: H.H
 
Tiếng chiêng, tiếng trống vang lên rộn rã cũng là lúc con heo cúng đã được làm thịt xong, các ché rượu cần đã được nén lá và đổ đầy nước. Mọi thứ đã sẵn sàng cho lễ cúng. Tiếng chiêng là lời mời gọi, thôi thúc khách quý ở các buôn gần, buôn xa cùng tập trung tại ngôi nhà dài của ông Y Thim Byă. Ông Y Thim cho biết, năm nay nhờ được ông bà tổ tiên và các thần phù hộ nên gia đình ông có nhiều sức khỏe và may mắn. Trong năm, ông đã sắm thêm được chiếc ghế kpan, bộ chiêng cổ, ché tuk, ché tang. Theo như lời hứa thì gia đình sẽ làm lễ cúng tạ ơn với một con trâu đực và 7 ché rượu cần, nhưng do chưa lựa chọn được thời điểm thích hợp nên gia đình làm lễ cúng nhắc, dời hẹn đến tháng 3 năm sau. Lễ vật là một con heo đực và 3 ché rượu cần.
 
Trong vòng đời của người Ê Đê có nhiều lễ cúng, những lễ cúng này liên quan mật thiết đến chiếc vòng đồng. Sau mỗi lễ cúng, chiếc vòng đồng lại được đánh dấu bằng một khắc trên thân vòng. Riêng với lễ cúng nhắc vòng đồng thì không thực hiện khắc vòng khi làm lễ, thầy cúng chỉ khấn nhắc hẹn và xin dời hẹn cho gia chủ vào một thời điểm khác thích hợp để tổ chức theo lời hứa trước đó.
 
Lễ vật cúng được bày ra đầy đủ. Nghi lễ do thầy cúng Aê Lê ở buôn Ea Bông thực hiện. Cầm chiếc vòng đồng đeo lên cổ tay gia chủ, ông lầm rầm đọc lời khấn. Nội dung lời khấn là mời tổ tiên, ông bà về chứng kiến lễ, nhắc lại lời đã hẹn và dời hẹn; bày tỏ lòng biết ơn của gia chủ đối với tổ tiên và các thần, mong tổ tiên và các thần tiếp tục phù hộ cho gia chủ được khỏe mạnh, gặp nhiều may mắn. Kết thúc lời khấn, vợ chồng gia chủ cùng thầy cúng nếm thử các lễ vật để cầu mong mọi điều may mắn. Các thành viên tham dự lần lượt nâng cần rượu, phụ nữ trước, nam giới sau, người già trước, người trẻ sau. Trong không khí rộn ràng lời chúc tụng, chung vui của cả chủ và khách, tiếng chiêng tiếng trống vang lên liên tục tạo nên không khí tưng bừng náo nhiệt. Ấy là khi phần hội chính thức bắt đầu.
 
Tiếng chiêng ngân vang trong suốt thời gian làm lễ và trong phần hội. Ảnh: H.H
 
Dự lễ cúng tại nhà ông Y Thim Byă hôm ấy, ngoài họ hàng 2 bên và bà con trong buôn còn có khách mời từ các buôn khác, huyện khác đến. Ông Y Hơ Êban, nghệ nhân buôn Knia 4 (xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn) vinh dự được mời cùng với đội nghệ nhân của buôn Knia đánh chiêng trong lễ cúng. Ông Y Hơ Êban chia sẻ, lâu lắm rồi người Ê Đê ở các buôn mới có dịp gặp nhau, hỏi thăm nhau và cùng tấu chiêng rộn rã như thế. Ngày xưa, khi các lễ các hội còn nhiều, mỗi năm người Ê Đê làm không biết bao nhiêu lễ cúng vòng đời. Từ lễ nếm giọt sương, lễ thổi tai dành cho trẻ nhỏ... đến lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ cúng sức khỏe, lễ tạ ơn… Nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển và hòa nhập, người Ê Đê đã bỏ đi gần hết các nghi lễ như vậy. Có gia đình tkhông có điều kiện để làm nhưng có gia đình thì không còn quan tâm tổ chức các lễ như vậy nữa. “Mừng cho gia đình Y Thim Byă vẫn còn gìn giữ nếp phong tục của dân tộc mình”-ông Y Hơ Êban nói.
 
Trong khi đó, anh Y Nal Êban-con trai ông Y Thim Byă-chia sẻ: Từ nhỏ, anh đã được chứng kiến rất nhiều nghi lễ, lễ cúng do ông bà, cha mẹ mình tổ chức. Nếu như trước kia chỉ là sự tò mò, hiếu kỳ đơn thuần thì nay anh quyết tâm tìm hiểu các nghi lễ này với mong muốn gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Y Nal Êban cho biết, anh đã ghi hình lại tất cả các nghi lễ được tổ chức tại gia đình, vừa để chia sẻ với bạn bè, du khách và tạo sự lan tỏa trên các trang mạng xã hội, vừa làm tư liệu để sau này anh có thể tự mình tổ chức và tiến hành theo đúng các nghi thức mà cha ông để lại.
 
Giữa không gian rộn ràng tiếng chiêng, bên bếp lửa bập bùng, cả chủ và khách lại cùng vít cần rượu chung vui, hỏi thăm nhau. Những câu chuyện cứ dài ra mãi...
Theo baogialai.com.vn
 

Lễ kết nghĩa anh em giữa hai dân tộc Ê Đê - Tà Ôi

Lễ kết nghĩa anh em được dân tộc Ê Đê và Tà Ôi trân trọng, gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang ý nghĩa tốt đẹp, mong muốn mọi người sống chan hòa thân thiết, gắn bó với nhau như anh em một nhà, cùng chia sẻ, giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn để xây dựng buôn làng ngày càng no ấm, giàu đẹp.
Lễ vật dâng cúng gồm có 1 cây nêu, 1 ché rượu cần, 1 con gà trống, 2 chiếc vòng đồng, 1 cây kơ nia. Cây nêu không thể thiếu trong các nghi lễ của người Ê Đê và Tà Ôi bởi nó cũng như bàn thờ của người Việt gửi những điều con người mong muốn và cầu khấn đến tổ tiên, thần linh phù hộ, chở che.
Con gà được coi là vật chứng cho lễ kết nghĩa anh em và làm cầu nối giữa con người với thần linh, mời các vị thần linh và tổ tiên về chứng giám cho lễ kết nghĩa của hai người. Ché rượu là cầu nối là sự giao tiếp giữa con người và thần linh. Bên cạnh đó, với người Ê Đê rượu cần đem lại niềm vui sự tốt lành. Hai chiếc vòng đồng như tín vật chứng minh kể từ đây hai người đã trở thành anh em một nhà, sống chết có nhau.

Già làng Ama Loan dân tộc Ê Đê làm lễ cúng Yàng.

Lễ vật được chuẩn bị xong, già làng A Ma Loan (dân tộc Ê Đê) tiến hành lễ cúng. Hai người đại diện cho đồng bào hai dân tộc kết nghĩa ngồi sau ché rượu cần, thầy cúng ngồi trước ché rượu tay cầm con gà, vừa cúng vừa vuốt cánh gà 7 lần rồi khấn: "Ơ Yàng! Hôm nay chúng con cầu khấn các vị thần linh, các vị thần đất, thần núi, thần sông, thần rừng và tổ tiên, ông bà đã khuất hãy về đây chứng giám cho lễ kết nghĩa anh em của hai người đại diện cho dân tộc Ê Đê và Tà Ôi kể từ nay cho đến hết cuộc đời, đến hơi thở cuối cùng, mãi mãi là anh em một nhà, sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau...". Sau đó thầy cúng cầm vòng đồng trao hai người kết nghĩa. Vòng đồng thể hiện tình cảm được gắn bó mật thiết, keo sơn giữa hai dân tộc.

Thầy cúng trao vòng đồng cho hai người đại diện cho hai dân tộc kết nghĩa.

Theo phong tục Ê Đê, hai người kết nghĩa được chủ lễ mời uống rượu trước, người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ cho nên, tiếp đến là mẹ của hai bên gia đình kết nghĩa để tỏ lòng thân thiết, sau đó tới những người trong gia đình và những người chứng kiến. Sau khi kết thúc nghi lễ trong nhà, thầy cúng cùng hai người kết nghĩa và mọi người di chuyển ra sân để trồng cây Kơ nia với biểu tượng cho sự vững chắc và bền chặt tình anh em.

Hai gia đình cùng nhấp rượu cần để tỏ lòng thân thiết.

Cây Kơ nia rất quan trọng đối với mỗi người dân Tây nguyên nói chung và dân tộc Ê Đê nói riêng. Họ coi cây Kơ nia là nơi trú ngụ của thần linh. Không chỉ có vậy, loài cây này còn có sức sống mãnh liệt, bám rễ sâu, chịu được hạn hán nên nó còn biểu tượng cho tình anh em bền chặt một nhà, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, sống chết có nhau.

Hai dân tộc kết nghĩa cùng trồng cây Kơ nia tượng trưng cho tình cảm gắn kết.

Sau khi phần lễ tại nhà dài Ê Đê kết thúc, đồng bào cùng du khách tham dự lễ di chuyển nhà dân tộc Tà Ôi để làm lễ cúng với ý nghĩa thông báo cho Yang và tổ tiên biết rằng hôm nay đại diện hai nhà Tà Ôi và nhà Ê Đê đã kết nghĩa và trở thành anh em một nhà. Từ đây, sẽ cùng nhau chia sẻ mọi vui buồn, hoạn nạn có nhau có Yàng chứng giám.
Sau phần Lễ, phần Hội được diễn ra với những âm hưởng cồng chiêng rộn rang của người Ê Đê, hòa tấu nhạc cụ của đồng bào Tà Ôi và cộng đồng các dân tộc mừng cho hai người đại diện làng dân tộc Ê Đê và Tà Ôi đã trở thành anh em một nhà. Nghi lễ này mang ý nghĩa tốt đẹp, mong muốn mọi người sống chan hòa, gắn bó với nhau như anh em một nhà, cùng chia sẻ, giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn, hoạn nạn để xây dựng buôn làng ngày càng ấm no, giàu đẹp.

 
 
Tố Oanh (langvietonline.vn)

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

Con mang họ mẹ, cháu lấy tên ông bà!

TP - Ngoài cách đặt tên theo cấu trúc “tên trước, họ sau” duy nhất ở Việt Nam, người Ê Đê còn khiến nhiều người tò mò khi con cái sinh ra mang họ mẹ, tên con cháu được lấy từ tên ông bà trong dòng họ quá cố theo quan niệm luân hồi tái sinh.
Nữ chủ nhà luôn ngồi ở vị trí đầu mâm cơm.
Nữ chủ nhà luôn ngồi ở vị trí đầu mâm cơm.

Đặt tên - thổi tai gọi hồn cho trẻ
Lễ đặt tên cho trẻ mới sinh ở nhiều dân tộc khác được làm khi tròn 1 tháng tuổi, còn người Ê Đê thì làm sau 1 ngày bé cất tiếng chào đời. Bởi họ quan niệm trẻ mới sinh ra chưa có hồn nên cần làm lễ đặt tên, gọi hồn cho trẻ càng sớm càng tốt. Chị H’Bur Niê (ở buôn K’bu, xã Hòa Khánh, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) kể: Chị có 3 người con, trong đó con gái đầu tên là H’Jin Niê được lấy theo tên của bà cụ quá cố. Mẹ chị kể lại rằng, cụ H’ Jin xưa kia là người hiền lành, tốt bụng được dân làng yêu quý. Chị lấy lại tên cụ đặt cho con gái mình để giữ tên của dòng họ và mong con lớn lên giống tính tốt của cụ. Theo chị H’Bur, tên của trẻ thường do ông bà ngoại, bà đỡ hoặc bố mẹ bé trong lúc mang bầu được tổ tiên báo mộng chỉ tên. Dù ai đặt đi nữa vẫn tuân thủ quy định là chọn tên của hai bên dòng tộc quá cố của bé. Vì người Ê Đê luôn tin có kiếp luân hồi tái sinh, ông bà sau khi mất sẽ đầu thai tiếp tục làm con cháu. Vì thế, tên người được chọn đặt phải tài giỏi, có đức tính tốt, giàu có...
Lễ đặt tên, thổi tai tổ chức vào buổi sáng sớm tinh mơ khi mặt trời ló rạng để cầu mong mọi điều tốt lành đến với bé (người Ê Đê rất kiêng kỵ tổ chức lễ vào buổi chiều- chỉ làm cho người chết). Bố chị H’Bur là thầy cúng, khi người trong làng sinh em bé, họ đều đến nhờ ông làm lễ đặt tên, gọi hồn. Lễ vật cúng gồm 1 ché rượu, 1 bát đồng (bên trong đựng ít nước sương và 1 củ gừng), 1 lá mía (hoặc lá tranh), 1 con gà và 1 sợi chỉ màu đen to được bện chặt. Đến giờ cúng, em bé được tắm rửa sạch sẽ, quấn chăn ấm đặt cạnh ché rượu. Lúc này, thầy cúng bắt đầu thực hiện nghi thức cúng.
Thầy khấn: “Ơ Yàng (thần linh), hiện gia đình đã dâng lên 1 con gà, 1 ché rượu để làm lễ đặt tên cho con. Mời tất cả các Yàng về uống rượu, ăn thịt, giúp trẻ ăn no, chóng lớn”.
Dứt lời, thầy cúng thì thầm vào tai trẻ: “Này cháu, ta sẽ gọi tên cho cháu. Cháu ưng tên nào thì mở miệng cười hoặc khua tay ra hiệu, tên nào không thích cháu hãy khóc thật to nhé”. Nói rồi thầy cúng đọc lần lượt các tên gia đình muốn đặt. Tên nào trẻ không khóc, khua tay chân tỏ vẻ thích thú, gia đình sẽ lấy tên đó đặt cho trẻ. Xong rồi, thầy cúng lấy một ít gan gà đã luộc chín cho bé ăn, lấy lá mía nhúng nước sương trong chén đồng bôi lên miệng, tay chân bé. Tay vừa làm, miệng thầy vừa khấn cầu cho cháu sau lớn lên sẽ thành người gan dạ, có sức khỏe tốt, siêng năng, chăm chỉ, dẫu dầm sương dãi gió vẫn không sợ.
Con mang họ mẹ, cháu lấy tên ông bà! - ảnh 1Chị H’ Bur Niê yêu thương con cháu.
Tiếp đến thầy cúng làm lễ thổi tai cho trẻ. Thầy nhai củ gừng rồi phả vào hai lỗ tai của bé với ý nghĩa để tai cháu được thính, mắt sáng, thông minh, biết vâng lời cha mẹ, hiếu kính với ông bà, cô bác trong dòng tộc. Nếu bé là trai, thầy cúng làm thêm động tác cầm cái dùi, cái đục hoặc con dao đã chuẩn bị sẵn, gõ ra tiếng kêu cầu cho cháu lớn lên có đôi bàn tay khéo léo, biết trui rèn miếng sắt thành dao, xà gạt, cuốc xẻng…; biết chặt cây làm nhà, chẻ tre đan gùi, làm rổ… Cuối cùng, thầy lấy một sợi chỉ đen cột vào tay bé để chứng tỏ từ đây bé đã có tên, có hồn. Chị H’ Bur tin rằng, các con của chị được đặt tên - thổi tai theo đúng phong tục Ê Đê sẽ được Yàng che chở, có sức khỏe tốt, học hành giỏi giang, thành đạt.
Đặt tên xong, đứa trẻ hiển nhiên mang họ mẹ. Đây là phong tục truyền thống có từ xa xưa của người Ê Đê. Anh Y Chen Niê - Phó trưởng phòng Quản lý Di sản - Sở VH-TT&DL Đắk Lắk, cho biết: Chế độ mẫu hệ người Ê Đê, con mang họ mẹ xuất phát từ xã hội nguyên thủy trong quá khứ. Khi ấy, người đàn ông có nhiệm vụ vào rừng săn thú, chim chóc, còn phụ nữ làm công việc hái lượm. Phụ nữ siêng năng, chăm chỉ kiếm ra nhiều lương thực nên có tiếng nói hơn. Hơn nữa, khi người đàn ông đi săn nhiều ngày không trở về, đứa trẻ sinh ra không biết mặt cha đẻ, suốt ngày quấn quýt bên mẹ. Chế độ mẫu hệ thiết lập từ đó và ảnh hưởng đến ngày nay.
Phụ nữ là “trụ cột gia đình”
Có trong tay nhiều đặc quyền như được quyền hỏi chồng, được chia của cải và con sinh ra mang họ mẹ, nhưng đằng sau đặc quyền đó thì phụ nữ Ê Đê cũng phải chịu nhiều vất vả, gian truân khi gánh trên vai trách nhiệm trụ cột trong gia đình.
Nếu như trong chế độ phụ hệ, mọi việc nặng nhọc trong nhà đều do đàn ông gánh, còn phụ nữ làm việc nhẹ hơn, chăm sóc con cái là chính. Ở chế độ mẫu hệ, phụ nữ Ê Đê gánh trên vai nhiều trách nhiệm hơn khi vừa lo việc trong nhà, dòng tộc, cộng đồng. Tranh thủ lúc đàn bò gặm cỏ trên đồng, Amí Nin (xã Hòa Phong, huyện Krông Bông, Đắk Lắk) nhặt phân bò bán kiếm thêm thu nhập. Amí Nin cho biết, phụ nữ như bà việc gì cũng phải biết làm từ gùi nước, nấu ăn, lên nương làm rẫy nên vất vả lắm. Khi con gà rừng vừa cất tiếng gáy, phụ nữ đã lật đật dậy lo cơm nước cho cả nhà. Ăn xong, phụ nữ dọn dẹp, gói thức ăn trưa bỏ vào gùi rồi cầm thêm con dao, cái cuốc, xà gạt… cuốc bộ lên rẫy. Ở đó, phụ nữ cuốc đất, trồng cây, chặt củi… như cánh đàn ông. Hết buổi rẫy, họ lại gùi đồ đạc về nhà, đôi vai còng xuống khi đèo thêm bó củi bên người. Đến nhà, họ phải lao vào nấu cơm chuẩn bị bữa tối, loay hoay lo cho con cái đến khi ngọn lửa trong bếp sắp tàn họ mới được nghỉ ngơi.
Con mang họ mẹ, cháu lấy tên ông bà! - ảnh 2Phụ nữ là chủ nhân bếp lửa.
“Thời chưa có máy xay gạo, già phải dậy sớm hơn để giã gạo. Giã gạo xong thì vào rừng sâu lấy nước về. Phải đi sớm thì lấy nước mới trong, sạch, nấu cơm ngon. Làm nhiều đến nỗi hai bàn tay chai sạn, cái vai u sần vì đeo nặng. Thời nay đỡ hơn thời ông bà mình nhiều rồi”, Amí Nin cho hay. Công việc mệt nhọc, vất vả là thế nhưng Amí Nin và chị em người Ê Đê không than vãn, không kêu la trách chồng. Họ âm thầm đón nhận quy luật tự nhiên như loài hoa Pơ Lang chỉ nở trong rừng, như dòng sông Srêpốk tuôn chảy quanh năm suốt tháng.
Một điều dễ nhận thấy, trong buôn làng Ê Đê hiếm khi xảy ra các vụ bạo hành. Theo già Y Bly Niê (người uy tín ở buôn Yang Lành, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) cho hay trong buôn ít có gia đình cãi nhau vì đàn ông rất coi trọng phụ nữ. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa, sẽ có dòng họ hai bên đứng ra can thiệp hòa giải. Nếu còn tái phạm, dù chồng hay vợ sai cũng sẽ chiếu theo luật tục để phạt. Mức phạt dựa vào nội dung thỏa thuận ghi trong tờ giấy hôn ước của hai vợ chồng trước kia. Thông thường mức phạt là đốt 1 con gà hoặc một con heo to để tạ lỗi với dòng họ.
Chung sống với nhau hơn 40 năm, vợ chồng già Y Bly chưa khi nào to tiếng đến mức dòng tộc, xóm làng đến phân giải. Già Y Bly tâm sự: “Vợ của già rất hiền, siêng năng, chăm chỉ lên nương rẫy làm ra nhiều thóc gạo nuôi gia đình. Mua con gì nuôi, trồng cây gì, vợ cũng bàn với già trước khi quyết định”. Thấy vợ đảm đang chu toàn mọi việc lớn nhỏ trong nhà nên già Y Bly rất yên tâm. Những khi xảy ra mâu thuẫn, già luôn là người kiềm chế, không phải vì “lếp vế” mà đơn giản vì ông thương vợ.
Thời nay, công việc của người phụ nữ Ê Đê được san sẻ đi ít nhiều. Các ông chồng trẻ biết phụ vợ nấu ăn, chăm sóc con cái. Người vợ cùng chồng bàn cách làm ăn, nuôi con ăn học… Nhưng người vợ vẫn là “tay hòm chìa khóa”, quản lý tiền nong và là người đưa ra quyết định cuối cùng về các công việc quan trọng trong gia đình. 
Một điều dễ nhận thấy, trong buôn làng Ê Đê hiếm khi xảy ra các vụ bạo hành. Theo già Y Bly Niê (người uy tín ở buôn Yang Lành, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) cho hay trong buôn ít có gia đình cãi nhau vì đàn ông rất coi trọng phụ nữ. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa, sẽ có dòng họ hai bên đứng ra can thiệp hòa giải.
Một điều dễ nhận thấy, trong buôn làng Ê Đê hiếm khi xảy ra các vụ bạo hành. Theo già Y Bly Niê (người uy tín ở buôn Yang Lành, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) cho hay trong buôn ít có gia đình cãi nhau vì đàn ông rất coi trọng phụ nữ. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa, sẽ có dòng họ hai bên đứng ra can thiệp hòa giải.

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Lễ chia ly của người Êđê

Trong các nghi lễ liên quan đến vòng đời người của người Êđê thì lễ chia ly (Chia tay với người chết) là một nghi lễ độc đáo trong văn hóa của người Êđê. Lễ chia ly được thực hiện ngay trong đám tang của chồng hoặc vợ tại nghĩa địa, sau khi việc chôn cất được thực hiện xong.
Để thực hiện nghi lễ này chồng hoặc vợ mặc một chiếc áo truyền thống, trên tay áo buộc một vòng đồng (gọi là vòng ly biệt) và 2 ché rượu (1 ché cúng cho người vợ hoặc người chồng góa – ché rượu này khi kết thúc lễ những người đã lớn tuổi mà chưa lập gia đình, những người góa vợ hoặc góa chồng mới được uống và 1 ché cho 2 bên gia đình và khách đến dự lễ tang). Nếu không có áo thì có thể thay thế bằng chiếc khăn truyền thống khoác lên người.
 
Lễ cúng chia ly. Ảnh tư liệu

 
Sau lễ cúng, chồng hoặc vợ sẽ ăn miếng thịt cuối cùng với người chết, người sống ăn một miếng và ném xuống mộ một miếng, người đại diện của hai họ ăn theo sau. Tiếp đến sẽ lần lượt uống rượu cần tiễn biệt người chết tại mộ. Đây là thủ tục cuối cùng trước khi mọi người về nhà.

Sau lễ này, người còn sống hoàn toàn được tự do có thể lập gia đình mới cho riêng mình. Theo Luật tục của người Êđê (tục nối dây) nếu người chồng hoặc vợ chết trước thì người sống vẫn phải hỏi bên anh em (bên chồng hoặc vợ), cháu của người đó. Nếu họ chưa có gia đình thì lấy người vợ, hoặc chồng còn sống.

Ngày xưa theo luật tục thì chồng hoặc vợ còn sống phải tuân thủ nghiêm ngặt, nếu không sẽ không có ai nuôi những đứa con. Tuy nhiên, hiện nay tục nối dây chỉ thể hiện tượng trưng chứ không còn ép buộc.

Lễ chia ly là một trong những phong tục thuộc hệ thống nghi lễ vòng đời người của dân tộc Êđê. Nghi lễ cuối cùng của người ở lại, gia đình, dòng họ đối với người ra đi, là sự trọn nghĩa vẹn tình cho đến hơi thở cuối cùng. Đây là nét văn hóa độc đáo cần được gìn giữ, bảo tồn trong đời sống văn hóa của người Êđê.
Thanh Hải

Lễ kết nghĩa anh em của đồng bào M'nông và Ê - đê

Lễ kết nghĩa anh em của đồng bào M’Nông và Ê-đê là một nét văn hóa đặc sắc. thể hiện tinh thần đoàn kết trong cuộc sống, sinh hoạt giữa các cộng đồng dân tộc.
Sau nghi thức cúng cầu sức khỏe, thầy cúng lấy vòng đồng đeo vào tay từng người và đeo chuỗi hạt cho phụ nữ

Lễ vật dâng lên Yàng

Lễ kết nghĩa có sự chứng kiến của Yàng núi Tản Viên, Yàng Đăk Sông Đà cùng các Yàng siêu nhiên khác. Khi hành lễ, thầy cúng trong trang phục truyền thống đứng trang nghiêm, quay mặt về hướng Đông đón những luồng ánh sáng tinh túy từ mặt trời để truyền lại cho những người kết nghĩa.

Một nghi thức trong Lễ kết nghĩa anh em của đồng bào M'Nông và Ê-đê

Đồng bào M’Nông ở buôn Jiê Juk, xã Đăk Phơi, huyện Lắk và đồng bào Ê-đê, buôn Kô Siêr, thành phố Buôn Mê Thuột trong Lễ kết nghĩa anh em

Lễ vật bao gồm gà trống sống, ché rượu, cơm nếp, chuối chín, vòng đeo tay, chuỗi hạt đeo cổ... Người kết nghĩa sẽ cùng ăn cơm nếp, trứng gà và chuối, tiết heo trộn tim để bày tỏ lòng trung thành giữa hai người, xem nhau như người trong một nhà.

Dân làng ăn, uống và múa hát giao lưu để chúc phúc cho những người được kết nghĩa

Lễ kết nghĩa anh em của đồng bào M’Nông và Ê-đê diễn ra hoàn toàn tự nguyện với mong muốn mọi người sống gắn bó như anh em một nhà, cùng giúp đỡ nhau để xây dựng buôn làng ngày càng ấm no, giàu đẹp.
XUÂN DƯƠN

Dân tộc Ê Đê

Dân tộc Ê-đê có gần 40 vạn người, sống tập trung chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk và một phần ở các huyện phía tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên. Người Ê-đê có các tên gọi khác là Ănăk Êđê, Rađê, Êđê – Egar, Đê. Người Ê-đê có tới 17 nhóm địa phương. Tiếng nói người Ê-đê thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo.

Cửa nhà sàn của người Ê Đê

Trước đây, người Ê-đê làm nương rẫy là chính, một số ít làm ruộng nước. Ngày nay, hầu heat đồng bào đã canh tác trồng các loại cây đặc sản, cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, đặc biệt là cây cà phê nên nhiều hộ đã có cuộc sống giàu có và khá giả.

                      
Cà phê là cây xóa đói giảm nghèo của đồng bào  Ê Đê 

Ngoài trồng trọt, đồng bào còn chú ý phát triển chăn nuôi. Người Ê-đê có truyền thống sống trong những ngôi nhà sàn dài, nhiều thế hệ. Gia đình càng đông người sẵn của, nhà càng dài, có nhà dài tới cả trăm mét. Nhà được làm bằng gỗ, tre, lợp mái tranh. Những năm gần đây nhiều nhà dài đã tách hộ và lợp tôn, lợp ngói. Nhà sàn dài truyền thống của người Ê-đê có 2 cửa ở hai đầu hồi, cửa chính nhìn về hướng Nam, cửa còn lại trông về hướng Bắc. Không gian trong nhà chia làm hai phần dọc theo chiều dài của nhà, phần sinh hoạt chung nằm ở phía cửa chính của ngôi nhà và cũng là nơi ngủ của con trai chưa vợ, phần còn lại chủ yếu làm bếp nấu ăn và ngăn thành các buồng ngủ cho các cặp vợ chồng.

 
Dây thừng được làm băng da trâu dùng để bắt voi

Trong gia đình Ê-đê, chủ nhà là phụ nữ, theo chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, con trai không được hưởng thừa kế. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Y phục cổ truyền của người Ê-đê thường dùng là màu chàm. Đàn ông đóng khố, người khá giả mặc áo có mảng hoa văn đỏ trên ngực. Phụ nữ mặc váy dài có hoa văn ở vùng gấu, sát dưới eo, mặc áo chui đầu, trang trí hoa văn sặc sỡ ở phần vai và cổ. Phụ nữ Ê-đê giỏi trồng bông, dệt vải, ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng, hạt cườm. Trước kia, người Ê-đê có tục cà răng nhưng lớp trẻ ngày nay không cà răng nữa. Người Ê-đê có nhiều thần linh nên trong cuộc sống thực hiện nhiều kiêng cữ, nghi lễ cúng bái. Người Ê-đê có đời sống văn hóa khá phong phú. Đồng bào yêu ca hát và thích tấu nhạc.

Voi là động vật gần gũi với người Ê đê ở Tây Nguyên

Nhạc cụ của người Ê-đê có hàng chục loại, nhưng tiêu biểu nhất là cồng, chiêng kèm theo trống cái. Âm thanh cồng chiêng luôn gắn liền với cuộc sống của người Ê-đê. Kho tàng văn học truyền miệng với nhiều thể loại như than thoại, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là những truyện cổ dài mang đậm chất sử thi, còn gọi là trường ca, như trường ca Đam San, trường ca Đam Kteh Mlan... ngợi ca tình yêu đôi lứa, những nhân vật anh hùng cũng như khát vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Kỳ lạ tục nối dây trong hôn nhân của người Ê Đê

Ngày nay tập tục này dù có nhiều thay đổi, nhưng tục Juê Nuê (nối dây) vẫn tồn tại trong cộng đồng người Ê Đê.

Tục Juê Nuê (nối dây) là một luật tục cổ truyền trong hôn nhân của người Ê Đê. Tục này quy định khi chồng chết, người phụ nữ có quyền đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng và ngược lại khi vợ chết, người chồng phải lấy một người con gái trong gia đình vợ, miễn là người đó chưa có chồng. Ngày nay tập tục này dù có nhiều thay đổi, nhưng vẫn tồn tại trong cộng đồng người Ê Đê.
Tục Juê Nuê là một kiểu tập quán hôn nhân truyền thống và được cộng đồng dân tộc Ê Đê thực hiện một cách tự nguyện. Luật tục này được duy trì bền vững qua thời gian, được quy định rõ:“rầm sàn gẫy thì phải thay, giát sàn nát thì phải thế, chết người này phải nối bằng người khác.
Cộng đồng dân tộc Ê Đê trước đây sống biệt lập ở những vùng núi cao, cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên và luôn phải đối phó với thiên tai, dịch bệnh, nên tục này cho phép duy trì nòi giống, sức lao động để bảo vệ buôn làng, đảm bảo cuộc sống cộng đồng. Đồng bào Ê Đê sợ rằng: “gia đình sẽ tan tác ngoài nương rẫy, dòng họ sẽ kiệt quệ, giống nòi sẽ khô kiệt như những dòng suối cạn nước, kẻo tuyệt nòi không còn con cháu nữa. Người Ê Đê  theo chế độ Mẫu hệ, người phụ nữ có quyền lực và quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Vì thế, trong trường hợp chồng chết, người phụ nữ có quyền đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng mình.

Người Ê Đê quy định rõ trường hợp chồng chết, người phụ nữ có quyền đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng mình và ngược lại (Ảnh: Thời đại).

Ngược lại, nếu người vợ chết, thì chồng người phụ nữ ấy buộc phải lấy em gái vợ (em ruột hoặc em họ của vợ) để nối giống nòi. Những người này được gọi là “ nuê”. Ông Nguyễn Cao Thiện, nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc, cho biết:" Người  Ê Đê luôn xem gia đình là một “hrú mđao”(tổ ấm), nơi để cho ông bà cha mẹ và con cái cùng chia sẻ vui buồn. Trong đó bố mẹ là nguồn sống, là nơi nương tựa của trẻ. Việc tìm cho những đứa trẻ bất hạnh ấy một người “kế” để thay thế người qua đời nuôi dạy chúng là điều cần thiết."
Tục Juê nuê không những tìm mẹ (hoặc cha) làm chỗ dựa tinh thần cho những đứa trẻ mất cha, mẹ, tìm bạn đời cho người còn lại, mà người này có nhiệm vụ thay người xấu số chăm sóc con cái, quản lý tài sản, đất đai và duy trì gia đình như nó vốn có. Đồng thời, tiếp tục giữ mối quan hệ thân tình, bền vững mà hai gia đình đã tạo dựng.
Có lẽ bởi vậy, tục juê nuê được xem như là một luật tục bình thường, hiển nhiên được cộng đồng thực hiện một cách tự nguyện. Trong trường hợp người “nuê” quá chênh lệch về tuổi tác, chỉ là vợ chồng trên danh nghĩa cũng đã được luật tục điều chỉnh và quy định rõ ràng: “Nếu người goá đã đứng tuổi mà người thay thế còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu làm vợ (chồng), thì người goá phải có trách nhiệm nuôi nấng, dạy bảo “nuê” như một đứa trẻ bình thường khác”. Luật cũng quy định người góa phải: “Biết che chở, chờ đợi nuê, đến một lúc nào đó nuê sẽ làm được nhiệm vụ nối tiếp giống nòi”. Tục cũng có những quy định về trường hợp vợ nuê, chồng nuê quá nhỏ, hoặc người còn lại đã quá già yếu thì phải tìm một người tương xứng với nuê để thay thế mình làm chồng (hoặc vợ) nuê. Nếu ai vi phạm những điều đã quy định trên thì coi như đã vi phạm luật tục.

Một đám cưới của người Ê Đê.

Ngày nay, tục Juê Nuê (nối dây) của người Ê Đê đã có nhiều chuyển biến. Tục này không còn ép buộc mà trên cơ sở tự nguyện của những người còn sống. Nếu người trong dòng họ đồng ý thì việc "nối dây" mới được diễn ra. Người được họ hàng chọn lựa để kết hôn với chị, em vợ hoặc anh, em rể  có thể từ chối cuộc hôn nhân nếu cảm thấy không phù hợp với mình. Thay vì lấy anh rể, cô gái hoặc gia đình cô sẽ nuôi dưỡng những đứa con của chị gái để anh rể đi tìm hạnh phúc mới. Và người anh rể phải để lại toàn bộ tài sản và con cái mà trước đó hai vợ chồng gây dựng được cho gia đình bên vợ.
Tuy nhiên, hiện nay luật tục này đã có nhiều thay đổi. Ông Nguyễn Trọng Hùng, nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Tây Nguyên, cho rằng: "Nên để tự bà con quyết định. Bà con thấy không cần thiết thì người ta không duy trì, nhưng những gì người ta thấy là nên và cần với cuộc sống, sinh hoạt của họ, thì chắc chắn vẫn duy trì, chỉ làm sao nó tác động để họ biết rằng điều ấy rất có ý nghĩa đối với một cộng đồng, tộc người."
Thực tế hiện nay, việc duy trì và bảo vệ gia đình mẫu hệ của người Ê Đê không chỉ biểu hiện ở tục Juê Nuê mà còn thể hiện trong quan hệ giữa các chị em gái ruột và con cái của họ nữa. Trong tộc mẹ, những người phụ nữ luôn luôn xem những đứa con của các chị em gái ruột hoặc chị em gái họ như con đẻ. Không những thế, những người phụ nữ, những người đàn ông thay thế theo luật tục còn nuôi nấng, yêu thương và chăm sóc những đứa trẻ như chính con đẻ của mình.
Như vậy, việc những người phụ nữ, đàn ông chấp nhận làm vợ, chồng “nuê” không những xuất phát từ tình yêu thương, mà còn có trách nhiệm và tình thương đối với những đứa trẻ của mình.Theo VOV5

Chuyên gia văn hóa nói gì về tục nối dây của người Ê Đê?

TP - “Dầm sàn gẫy thì phải thay, giát sàn nát thì phải thế, chết người này phải nối bằng người khác”, tục nối dây (Juê Nuê) của đồng bào Ê Đê quy định rõ như thế. Nhiều người bảo tục này lạc hậu, cần loại bỏ. Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu văn hóa lại cho rằng đây là tập quán nhân văn.
Rượu cần Ê đê ngày lễ.
Rượu cần Ê đê ngày lễ.

Gian nan tìm “Nuê”           
Già H’Doen MLô (60 tuổi, xã Ea Tar, huyện Cư Mgar, Đắk Lắk) cho biết: Juê nuê có nghĩa là nối, để chỉ người vợ (hoặc chồng) thay thế. Với người Ê đê, gia đình được xem là một tổ ấm. 
Bố mẹ chính là nguồn sống, là nơi nương tựa cho những đứa trẻ. Khi một trong hai mất đi, việc tìm cho những đứa trẻ bất hạnh ấy một người để nuôi dạy chúng là điều cần thiết. 
Thường trước khi di quan một ngày, người ta phải thông qua ý kiến này trước dòng họ, còn việc được chấp nhận hay không và sẽ chấp nhận với đối tượng nào, điều đó lại phụ thuộc vào người góa. Dĩ nhiên người góa phải thật sự xứng đáng là người mẹ, người cha của những đứa trẻ khi dòng họ tìm cho một Nuê.
Chị gái của bà H’Doen là bà H’Dim Mlô sinh được 2 người con, bị bệnh nặng qua đời. Bà H’Doen phải nối dây với anh rể, nhưng anh rể có tình cảm với một người đàn bà khác. Vì thế bà H’Doen thay chị gái chăm sóc nuôi dạy hai đứa con của chị gái để anh rể đi tìm hạnh phúc riêng.
Ông Y Bhiao M’lô, buôn trưởng buôn Tring (thị xã Buôn Hồ, Đắk Lắk) cho biết: Cuộc sống hiện tại tiến bộ hơn xưa về tính tự nguyện trong hôn nhân của tục nối dây. 
Theo luật tục, người được họ hàng chọn lựa để kết hôn với chị/em vợ hoặc anh/em rể  có thể từ chối cuộc hôn nhân nếu cảm thấy không phù hợp với mình. 
Thay vì lấy anh rể, cô gái hoặc gia đình cô sẽ nuôi dưỡng những đứa con của chị gái để anh rể đi tìm hạnh phúc mới. Và người anh rể phải để lại toàn bộ tài sản và con cái mà trước đó hai vợ chồng gây dựng được cho gia đình bên vợ.
Bà H’Len (45 tuổi, huyện Krông Ana, Đắk Lắk) khi chồng mất, lẽ ra em trai chồng là anh Y Nghiêm (30 tuổi) phải nối dây thay anh trai. Nhưng Y Nghiêm lại yêu chị H’Tâm cùng huyện. 
“Để cưới người con gái mình yêu, tôi và H’Tâm phải đi vay 20 triệu nộp đủ cho gia đình nhà chị dâu sau đó mới được tổ chức lễ cưới nếu không sẽ bị phạt. Những năm trở lại đây, tục Juê Nuê đổi khác nhiều, không hà khắc như xưa”, Y Nghiêm cho biết.
Tiến sĩ Buôn Krông Tuyết Nhung, Trưởng bộ môn Ngữ văn khoa Sư phạm, kiêm Phó giám đốc trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Trường đại học Tây Nguyên nhận xét: “Lâu nay, nhiều người nhìn nhận, đánh giá một chiều, chưa hiểu hết nội hàm cũng như giá trị nhân văn của tục nối dây. 
Luật tục Juê nuê không lạc hậu, ấu trĩ mà mang tính nhân văn rất cao trong việc bảo vệ sự bền vững trong hôn nhân, đồng thời bảo vệ quyền lợi bên dòng mẹ, cũng có nghĩa bảo vệ quyền lợi của những đứa trẻ. 
Nếu chẳng may chị gái mất thì em gái tự nguyện nuôi con của chị mình, coi đó là nghĩa cử với người đã khuất, đảm bảo tuyệt đối quyền lợi của trẻ về vật chất lẫn tinh thần. 
Tiến sĩ Tuyết Nhung dẫn chứng từ chính gia đình mình: “Khi bố cô mới biết bò thì bà nội mất, ông nội của cô đã kết hôn với em gái của vợ, bà đã chăm sóc, yêu thương các con của anh rể và chị gái như con đẻ của mình. Bà nội của cô là người bà nối dây của ông nội”.
Nối dây tự nguyện
Theo đồng bào Ê Đê, trong tộc mẹ, những người phụ nữ luôn xem những đứa con của các chị, em gái ruột hoặc chị, em gái họ hàng như con đẻ. 
Việc người phụ nữ trong dòng họ của vợ chấp nhận làm vợ Nuê không những xuất phát từ tình yêu thương với người góa kia mà còn có trách nhiệm và tình thương đối với những đứa trẻ bất hạnh, mang lại hạnh phúc cho con cháu, dòng họ và gìn giữ truyền thống mẫu hệ.
Tiến sĩ Tuyết Nhung kể: Khi Juê Nuê, người chồng được phép lấy chị hoặc em gái trong dòng họ của vợ khi vợ mất, người vợ được phép lấy anh hoặc em trai trong dòng họ của chồng khi chồng chết. 
Cuộc hôn nhân mới sẽ đem lại cho những đứa trẻ mất cha, hoặc mất mẹ sự nuôi dưỡng ân cần và chu đáo từ chính người có chung dòng máu với cha hoặc mẹ chúng. Người còn sống sẽ có nơi nương tựa để tiếp tục nối dòng, cũng như bảo đảm sự nguyên vẹn tài sản đã gây dựng nên. 
Chuyên gia văn hóa nói gì về tục nối dây của người Ê Đê? - ảnh 1Bà H’Lil (thứ hai từ trái sang) đang nói về tục nối dây của người Ê Đê.
Bà H’Lil Niê Kđăm, ở buôn Tring chia sẻ: “Tục nối dây của người Ê đê biến chuyển linh hoạt theo thời thế, khác xưa. Trước đây, người con gái rất nhỏ tuổi cũng có thể bị ép kết hôn. Ngày nay phải dựa trên sự tự nguyện của hai bên. 

Nếu người góa đã đứng tuổi mà người thay thế còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu làm vợ (chồng), thì người góa phải có trách nhiệm nuôi nấng, dạy bảo Nuê như một đứa trẻ bình thường khác, và che chở, chờ đợi Nuê, để khi trưởng thành Nuê đồng ý nhận nhiệm vụ nối tiếp giống nòi. Nếu em gái không chịu lấy anh rể, thì anh rể có quyền lấy vợ nơi khác. Đây là sự tiến bộ rất nhiều so với ngày xưa”.
Bà H’Lil nêu ví dụ về trường hợp dì của bà: Bà H’Grâo Niê (48 tuổi), chưa lập gia đình. Sau khi người chị con bác qua đời, bà đã lấy anh rể, tự nguyện chăm sóc các con của anh chị. Sau hai năm chung sống, hai ông bà có với nhau một cô con gái và sống hạnh phúc. 
Hiện nay, trong hôn nhân của đồng bào Ê đê, tục Juê nuê vẫn còn tồn tại và được bà con áp dụng ở mức độ khác nhau, nhưng luôn dựa trên nguyên tắc một vợ một chồng, tự nguyện.
Tiến sĩ Lương Thanh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk cho biết: “Nối dây mà đôi bên đều vui vẻ chấp nhận, tự nguyện thì nên khuyến khích bởi đạt được mục đích nhân văn, để chăm sóc cho những đứa trẻ không cha, hoặc không mẹ, nhưng nối dây không phù hợp với lứa tuổi thì nên bỏ”.