Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Chăm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Chăm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

Tết Păng Katê của đồng bào Chăm


Những điệu múa truyền thống nhịp nhàng, uyển chuyển của các cô gái Chăm được hòa cùng động tác quay trống lực lưỡng, dũng mãnh, khoe tài của các chàng trai Chăm là lời trao duyên ước hẹn bền lâu, rồi đến những màn trình diễn múa có động tác hàm chứa tính phồn thực trong quy luật sinh tồn...
Đồng bào Chăm ăn Tết Păng Katê vào tháng 7 Chăm lịch, tức là khoảng tháng 10 dương lịch, đó là lúc giống lúa mùa dài ngày chưa được thu hoạch. Chọn thời điểm cúng cha vào lúc điều kiện kinh tế khó khăn nhất cũng chính là cách để thử thách lòng trung hiếu của con cái đối với cha.
Nghi lễ cúng Păng Kate của người Chăm.
Chuẩn bị trang phục trước khi làm lễ.
Păng Katê là lễ hội dân gian đặc sắc được đồng bào Chăm Bà la môn dày công vun đắp. Hiện nay, ở một số làng Chăm của tỉnh Bình Thuận, Păng Katê được tổ chức kéo dài đến 2 tuần trước ngày trăng rằm.
Biểu diễn nhạc cụ của dân tộc Chăm.
Những điệu múa truyền thống nhịp nhàng, uyển chuyển của các cô gái Chăm được hòa cùng động tác quay trống lực lưỡng, dũng mãnh, khoe tài của các chàng trai Chăm là lời trao duyên ước hẹn bền lâu, rồi đến những màn trình diễn múa có động tác hàm chứa tính phồn thực trong quy luật sinh tồn...
Đồng bào Chăm ăn Tết Păng Katê vào tháng 7 Chăm lịch, tức là khoảng tháng 10 dương lịch, đó là lúc giống lúa mùa dài ngày chưa được thu hoạch. Chọn thời điểm cúng cha vào lúc điều kiện kinh tế khó khăn nhất cũng chính là cách để thử thách lòng trung hiếu của con cái đối với cha.
Sau một mùa bội thu, chuẩn bị bước sang một mùa sản xuất mới, đồng bào Chăm tổ chức nghi lễ tạ ơn các vị Thần nông để tỏ lòng tôn kính các vị Thần đã sinh ra vạn vật và tưởng niệm những người có công khai sơn, lập làng, các vị anh hùng dân tộc. Lễ hội cũng mang ý nguyện cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân sinh vật thịnh, làng palei yên bình.
Đồng bào Chăm xác nhận công cha là rất lớn, nên trong lễ Păng Katê cũng sẽ tổ chức cúng cho vong hồn của cha lúc sinh thời đã phục vụ cho gia đình bên mẹ của mình. Theo chế độ mẫu hệ của đồng bào Chăm, người con gái cưới người con trai về ở rể nhà mình cho đến suốt đời.

Sau phần lễ, là các tiết mục biểu diễn nghệ thuật ca, múa, nhạc dân gian Chăm với phong cách hết sức đặc trưng và độc đáo. Những âm thanh rộn ràng của tiếng trống Ghi năng thôi thúc, tiếng kèn Saranai da diết, tạo nên không khí tưng bừng của ngày hội.

Nguồn TTXVN

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

Thư tịch viết tay của người Chăm

Hầu hết các văn bản của người Chăm trước đây đều được chép tay, điều đó cho thấy người Chăm chưa biết đến kỹ thuật in ấn. Do đó, những văn bản chép tay trên chất liệu giấy dó, giấy xi-măng, vải trắng còn lưu trữ trong dân và chức sắc đang sử dụng là nguồn tư liệu quý hiếm. Đặc biệt là những thư tịch viết trên chất liệu lá buông.
Thư tịch viết trên giấy dó

Người Chăm và người Raglai có mối quan hệ lâu đời trong lịch sử. Hiện nay, kỹ thuật làm giấy của người Chăm đã bị thất truyền, chỉ còn thấy ở người Raglai. Loại giấy mà người Raglai làm ra để trao đổi với người Chăm gọi là giấy dó làm từ vỏ cây, giấy có màu trắng đục, bề mặt giấy mịn và mỏng. Trong khoảng thời gian 7 năm (1994-2001), Tiến sĩ Thành Phần thuộc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam Đông Nam Á của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh đã tiến hành các cuộc điều tra, thống kê, sưu tầm thư tịch người Chăm ở Ninh Thuận. Kết quả làm việc đã sưu tầm được trên 500 tập sách với khoảng 10.000 trang viết tay. Bên cạnh đó, còn có một số cá nhân, gia đình có người làm chức sắc như Po Adhia, Po Basaih, Po Acar, Kadhar và Maduen đang bảo quản tư liệu gia đình đựng trong Ciét sách, hoặc đựng trong túi vải chưa có số liệu khảo sát và thống kế một cách quy mô và toàn diện.

Thư tịch cổ viết trên lá buông được lưu giữ tại đền thờ Pô Klong Girai ở xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước (Ninh Thuận). Ảnh: Sơn Ngọc
 
Từ năm 1993 đến 2015, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm đã sưu tầm được 52 quyển văn bản chép tay với 2.842 trang. Ngoài ra, còn tiến hành sao, chụp Microfilm từ tư liệu viết tay của 17 cá nhân ở các làng Chăm trong tỉnh được 281 cuộn phim với 8.662 trang văn bản. Những tư liệu viết tay của người Chăm đã được sưu tầm chỉ là con số khiêm tốn so với thực tế còn một lượng lớn đang lưu hành trong dân. Nguồn thư tịch viết trên vải trắng có số lượng rất ít và hiếm thấy, nội dung thường vẽ những hình bùa và ma thuật trong chữa bệnh.

Thư tịch viết tay trên chất liệu lá buông

Những thư tịch viết trên lá buông chỉ có thành phần giới chức sắc mới được phép sử dụng. Trong các năm 1997, 1998 và 2000, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm sưu tầm được 12 quyển thư tịch viết bằng chất liệu lá buông, với số lượng 749 trang. Những quyển sách này vốn là bài kinh được sử dụng khi làm các nghi lễ tôn giáo trên đền tháp, đã được sử dụng qua 3 đời Po Dhia trụ trì ngôi đền Pô Inư Nưgar ở thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước. Từ đời Po Adhia Nguyễn Thanh đến Po Adhia Lâm Ai và truyền lại cho Po Adhia Hải Quý. Như vậy, những bộ kinh lá buông có độ tuổi ít nhất cũng khoảng 200-300 năm.

Đặc điểm của thư tịch lá buông thường được khoét một lỗ tròn nhỏ ở hai đầu để xâu dây kết lại thành một quyển kinh sách. Ở bìa ngoài cùng, dùng một thanh gỗ kẹp lại hai đầu và quấn dây chỉ buộc chặt. Chữ Chăm được viết ở 2 mặt, thỉnh thoảng có viết vài kí tự bằng chữ Sanskrit, mỗi một tờ lá buông trung bình viết từ 2 đến 5 dòng chữ bằng ngòi bút có mũi nhọn. Nội dung của thư tịch lá buông đề cập đến kinh sáng thế kí, các nghi thức hành lễ thánh tẩy đất đai, cách tính lịch pháp, xem ngày giờ tốt xấu, nghi lễ dựng Kut và đền tháp, các bài kinh khấn trừ tà ma, thiên văn học, giải thích hiện tượng nhật thực và nguyệt thực...

Giá trị của các thư tịch viết tay của người Chăm

Thư tịch viết tay nói chung và thư tịch lá buông là tài sản sở hữu chung của chức sắc Po Adhia trụ trì các đền tháp Pô Inư Nưgar, Pô Rômê và Po Klong Garai. Mỗi vị Po Adhia trụ trì đền tháp quản lý và lưu trữ một bộ kinh lá buông. Đây là tài sản thiêng liêng có giá trị về mặt tâm linh tôn giáo. Thư tịch viết tay trên chất liệu giấy dó được người dân sử dụng phổ biến trong giao tiếp, trao đổi thông tin, giải quyết công việc hành chính và lưu truyền tri thức dân gian hay sáng tác văn chương. Thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm khai thác từ văn bản chép tay đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nhưng chưa có công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào chú ý đến khai thác nguồn thư tịch viết tay trên chất liệu lá buông.

Nhằm nâng cao chất lượng bảo quản thư tịch viết tay, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm đã phối hợp với Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II tại TP. Hồ Chí Minh thuộc Bộ Nội vụ thực hiện việc tu bổ, bồi nền theo Đề án “Sưu tầm tài liệu quý, hiếm trong và ngoài nước”. Trong năm 2013, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II đã tiếp nhận từ đơn vị 62 cuốn thư tịch cổ được viết tay bằng chữ Chăm có niên đại cách đây khoảng 150 năm, gồm: 30 cuốn viết trên giấy dó (1.770 trang), 12 cuốn viết trên lá buông (746 trang) và 20 cuốn viết trên giấy bao xi-măng (1.050 trang). Ngoài ra, còn nhận xử lý, bảo quản 281 cuộn micro phim chụp thư tịch.

Hiện nay, các thư tịch đang lưu trữ và trưng bày trong trình trạng tốt vì đã thực hiện việc tu bổ, bồi nền đóng thành tập quyển sách, khử côn trùng gây hại, đọc và dịch đầu mục. Đặc biệt, thư tịch lá buông cũng đã được số hóa lưu trữ bằng đĩa CD-Rom và trong máy vi tính bằng phần mềm chuyên dụng nên rất thuận tiện cho công tác trưng bày giới thiệu và phục vụ nghiên cứu khoa học.
 
Bá Minh Truyền (Theo baoninhthuan.com.vn)

Dấu tích Chăm trên đất Tây Nguyên

Có giả thuyết cho rằng,Tây Nguyên là một vùng cư trú biệt lập, không liên quan với thế giới bên ngoài, ít nhất cho đến thế kỷ 14 - 15 (?!)
Đến nay, điều đó đã được “giải mã” và cho thấy giả thuyết ấy không đứng vững được nữa khi một loạt di chỉ khảo cổ học được phát hiện trên vùng đất kỳ bí này từ những năm 90 thế kỷ trước cho đến nay.

Ngoài những di chỉ tiêu biểu như Buôn Triết (Đắk Lắk), Kiến Đức (Đắk Nông), Lung Leng (Kon Tum) và gần đây nhất là An Khê (Gia Lai)… với hàng nghìn hiện vật đồ đá, đồ gốm, đồ đồng được giới khảo cổ học phát hiện và công bố đã cho thấy hàng vạn năm trước, con người ở đây vốn có sự giao thoa, gần gũi với cư dân vùng đồng bằng Duyên hải miền Trung cũng như vùng Trung du Bắc Bộ trên các mặt văn hóa, xã hội và kinh tế… thì những dấu tích người Chăm còn tồn lưu, phát lộ trên vùng đất Tây Nguyên càng góp phần củng cố vững chắc cho nhận định trên.

Thực tế đã có rất nhiều di tích kiến trúc, văn hóa Chăm được tìm thấy rải rác ở các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và Kon Tum. Ngoài 4 di tích Chăm được khám phá tại Đắk Lắk: Tháp Yang Prông (Ea Súp), quần thể kiến trúc Chăm (Krông Ana), giếng Chăm và phế tích Chăm (chưa xác định chính xác là gì) tại Krông Bông, những nhà nghiên cứu văn hóa và khoa học còn tìm thấy nhiều công trình kiến trúc Chăm tiêu biểu như tháp Yang Mum, đền Drang Lai, thành Quai King (tỉnh Gia Lai) và Kon Klor (TP. Kon Tum). Những cái tên đó được nhiều nhà nghiên cứu (chủ yếu là người Pháp) tiếp cận và mô tả cặn kẽ, chuẩn xác để làm rõ mối quan hệ, giao thoa giữa các cộng đồng người ở khu vực Tây Nguyên – đồng bằng Duyên hải miền Trung trong suốt chiều dài lịch sử.
 
Tháp Chăm Yang Prông (xã Ea Rốk, huyện Ea Súp, Đắk Lắk).

Với tháp Yang Mum thì từ năm 1901, Viện Viễn đông Bác cổ đã có thông tin về nó và cho đó là củangười Chăm, nhưng không gọi tên tháp là gì. Tháng 6-1902, một học giả người Pháp - H. Parmentier đã đến đây và ghi nhận ngôi tháp được xây dựng trên nền đất đá ong, còn có một tấm bia và bức tượng thần Siva cưỡi trên con bò thần Nandin…

Tháng 3-1904, H. Parmentier quay lại thăm tháp, lúc này nó đã có tên là Yang Mum (theo cách gọi của người Jrai là tên một bà tổ của thị tộc Rchăm - dẫn lời của nhà dân tộc học J. Dourner). Còn Drang Lai cũng được nhắc đến như một dấu tích về đền tháp của người Chăm. Tuy vậy, theo tài liệu của Viện Viễn đông Bác cổ thì vào thời điểm đó, Drang Lai đã là phế tích được mô tả như “một cái nền đá ong và một chồng gạch”) cách Yang Mum chừng 4 km về phía tây (thuộc Buôn Đê, thị trấn Phú Thiện, thị xã Ayun Pa ngày nay). Dù vậy, các nhà khoa học Pháp cho rằng, những ký tự mà người ta tìm thấy ở ngôi tháp trên là của người Chăm có từ thế kỷ XV. Mặc dầu đến nay, cả Yang Mum và Drang Lai đều không còn hiện hữu ở Ayun Pa, Gia Lai với những dấu vết rõ ràng của đền tháp, nhưng từ những dấu tích này cho thấy người Chăm đã tồn cư ở Tây Nguyên từ cuối thế kỷ 14 và đầu thế kỷ 15. Và những cộng đồng người ở đây đã có ảnh hưởng lẫn nhau trong qua trình chung sống.

Đáng lưu ý là TS. Nguyễn Thị Kim Vân (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Gia Lai) còn cho biết: Từ những năm 1993, chị đã có những thông tin thực địa về các di tích Chăm ở Ayun Pa, sau đó lần lượt có các bài viết “Bức phù điêu Phật ở Gia Lai”, “Dấu tích văn hóa Chăm ở thị trấn Ayun Pa” và “Bức phù điêu Chăm ở chùa Bửu Tịnh” công bố trong các Hội nghị “Thông báo những phát hiện mới về khảo cổ học” do Viện Khảo cổ học Việt Nam tổ chức, càng minh định thêm một điều: Tây Nguyên không phải là một vùng cư trú, hay một vùng văn hóa biệt lập.

Có thể nói rằng trong quá trình cộng cư hơn 300 năm ấy, các tộc người ở Tây Nguyên đã có điều kiện tiếp xúc, giao thoa với người Chăm để chắt lọc làm nên vốn văn hóa đặc sắc và độc đáo của mình. Vì thế, việc quan tâm, tìm hiểu và nhất là “giải mã” thông điệp từ những dấu tích Chăm trên vùng đất này cần được quan tâm hơn.
 
Theo baodaklak.vn
 
 

Mối quan hệ giữa hai tộc người Raglai và Chăm

Hai tộc người Raglai và Chăm không những tương quan về ngôn ngữ mà còn có những mối quan hệ thâm giao khác như tín ngưỡng dân gian, sự phân công trong quá khứ.
Người Chăm và Raglai là hai tộc người bản địa, sinh tụ ở tỉnh Ninh Thuận từ rất lâu đời. Theo TS. Nguyễn Tuấn Triết, tổ tiên hai tộc người này có mặt ở miền Trung Việt Nam từ thời kỳ “Đồ đá mới”, khoảng hơn 10.000 năm TCN. Họ là tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronésien) vì một lý do nào đó mà thiên di về miền Trung Việt Nam. Hiện nay, các tộc người thuộc ngữ hệ này gồm Chăm, Raglai, Churu, Ê đê và Gia Rai. Ngoài tộc người Chăm, tất cả còn lại đều cư trú trên miệt rừng núi cao phía Tây mà chúng ta thường gọi là Tây Nguyên. Người Ê đê ở cao nguyên Đắc Lắc, người Gia Rai ở cao nguyên Gia Lai, người Churu ở cao nguyên Lâm Viên và người Raglai sinh tụ trên miệt rừng núi cao và hiểm trở phía Tây các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay.

Người Raglai trong lễ hội Katê của người Chăm. Ảnh: Minh Hùng.
Quan hệ về tín ngưỡng
Tộc người Chăm tuy có hai giáo phái Awal và Ahiér nhưng vẫn còn tôn thờ những vị thần dân gian như Thổ thần (Po Bhum), Thần Núi (Yang Cek), Thủy thần (Yang Patao Aia)… hiện đang tồn tại quan niệm “Vạn vật hữu linh” như tộc người Raglai, hai tộc người cùng có những “cái chung” trong hoạt động lễ tục. Lễ cúng Po Nai Tang ở làng Ú Tà Lâm (Uk Dalam) do ông Mâduen (Hữu Đức) và thầy cúng địa phương cùng thực hiện trong ngôi đền gần làng là một minh chứng. Trong cuộc lễ, các vị thần Pô Klaong Giarai, Pô Romê… được thỉnh mời trong nghi lễ này.

Trong hệ thống Pô Nâgar (Bà Chúa xứ) có các Pô Nâgar Hamu Giér, Pô Nâgar Mâruw (Bà Râu), Patuw Asah (Đá Mài), Pô Nâgar Kachiak (tên làng tiếp giáp với huyện Đơn Dương - Lâm Đồng)… là những vùng cư trú của tộc người Raglai. Trong nghi lễ “Mbek akaok padai” (ăn lúa mới) của người Raglai ở làng Ú, xã Ma Nới, trong cuộc đối thoại giữa hai người đàn ông giữ nhà và mang “Lúa Mẹ” trên rẫy về bằng giọng và tiếng Chăm vùng Hoài Trung, xã Phước Thái, huyện Ninh Phước cũng là minh chứng nói lên mối quan hệ giữa hai tộc người. Những bộ trang phục truyền thống của người phụ nữ Chăm (áo dài - tha baong và váy hoa thổ cẩm - aban) được treo trên dây nơi đàn thờ trong lễ “ăn lúa mới” của các dòng tộc trong làng Raglai ở thôn Tà Dương, xã Phước Thái, huyện Ninh Phước lại là minh chứng nói lên mối quan hệ đồng tộc của hai tộc người Chăm và Raglai trong suốt quá trình lịch sử đã qua.

Những mối quan hệ thâm giao khác

Hai tộc người Raglai và Chăm còn có những mối quan hệ thâm giao khác như tín ngưỡng dân gian, sự phân công trong quá khứ. Nếu lấy quốc lộ 27 chạy theo trục Đông - Tây thì tộc người Raglai Ninh Thuận có hai mảng sắc thái văn hóa: Văn hóa Raglai Bắc và văn hóa Raglai Nam.

Người Raglai Nam, gồm các palei của các xã Ma Nới, Phước Hà. Đặc điểm đời sống văn hóa của người Raglai ở đây gần gũi với đời sống văn hóa của người Chăm. Đây là địa bàn cư trú mà tộc người Raglai “được xem là con út” nên được các vua - thần Chăm xứ Panduranga xưa gởi gắm bảo vật. Hẳn chúng ta còn biết những địa phương người Raglai đã và đang lưu giữ bảo vật như ở thôn Giá (Njak) xã Phước Hà, huyện Thuận Nam lưu giữ bảo vật của Pô Inâ Nâgar - Hữu Đức; thôn Tân Điền, xã Phan Diền, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận lưu giữ bảo vật Pô Dam. Hàng năm đến ngày lễ Katé, họ lại đưa về làng Chăm.

Ở khu vực phía Nam này, người Raglai sống gần gũi với người Chăm ở đồng bằng, nên đời sống văn hóa của họ có sự giao thoa, ảnh hưởng khá lớn, được chứng minh qua cuộc trao đổi của hai người (đi cắm nêu rẫy về và người giữ nhà) trong lễ Cúng “ăn lúa mới” (Mbak padai baruw) ở thôn Ú, xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn bằng tiếng Chăm; cũng trong lễ này ở thôn Tà Dương, xã Phước Thái, huyện Ninh Phước những bộ trang phục tổ tiên treo trên dây nơi đàn cúng là trang phục truyền thống của phụ nữ Chăm và ở Ma Nới cũng vậy, trang phục của tổ tiên là những tấm váy hoa aban bayôn (loại váy hoa có băng đỏ hai đầu tấm váy) của bà Pajuw Chăm và chiếc akhan mbram của người phụ nữ Chăm Hồi giáo Bàni.

Người Raglai Bắc chiếm số lượng dân cư lớn, tập trung đông đảo ở huyện Bác Ái, ngoài ra còn ở các huyện: Ninh Sơn, Thuận Bắc cũng có người Raglai sinh sống tương đối đông. Rất thú vị là làng ở các huyện đó có dòng họ trùng tên với một tộc họ lớn ở làng Chăm này, đó là dòng tộc Aia Mâthin. Người Raglai gọi tên dòng tộc này là Aia Masit, tên một loại cỏ có bộ rễ rất cứng. Ông Thành Mây, Chủ tịch Hội người Cao tuổi xã Bắc Sơn cũng đã xác nhận rằng, hiện nay ở làng Xóm Bằng có một số người trong tộc họ anh sinh sống từ mấy chục năm qua.

Hai tộc người Chăm và Raglai trong quá trình tồn tại đã có những mối quan hệ sâu sắc, câu tục ngữ ngàn đời vẫn còn lưu “Cam sa-ai Raglai adei” nói lên quan hệ ruột thịt. Hai tộc người cùng nói thứ tiếng Mã Lai Đa Đảo, cùng số lượng hệ thống ngữ âm. Cái đáng nói hơn cả là hai cộng đồng cùng tôn thờ Pô Inâ Nâgar (Bà Chúa xứ) và Pô Nai Tang mà hai loại hình chức sắc của hai dân tộc tham gia cúng tế trên ngôi đền của thôn Ú Tà Lâm, xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn mà người Chăm gọi là palei Uk Dalam-Hamu Ranâc.
Theo langvietonline.vn
 

Đặc sắc lễ hội cầu mưa của dân tộc Chăm H’roi

Lễ cầu mưa của đồng bào Chăm H’roi tỉnh Bình Định là một nghi thức mang ý nghĩa tạ ơn trời đất đã ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đời sống đồng bào no đủ, mọi người được bình an khỏe mạnh.


Những phong tục truyền thống độc đáo

Lễ cầu mưa, theo tiếng Chăm gọi là Quai Yang Plâyq achan, là một nghi thức lễ độc đáo, quan trọng của đồng bào Chăm H’roi tỉnh Bình Định. Khi trời hạn hán kéo dài, nắng nóng, không có nước để tưới lúa, tưới cây, đồng bào sẽ làm lễ cầu mưa. Đồng bào có thể làm lễ riêng ở trên rẫy của mình theo từng hộ gia đình hoặc cả làng làm chung một lễ, dân làng cùng nhau chuẩn bị và đóng góp lễ vật để cúng.
Thầy cúng (Oi quai) vừa hành lễ vừa vãi gạo để mời các vị thần Mây, thần Sấm, thần Chớp và thần Gió.
Lễ hội cầu mưa thường được tổ chức vào ngày 16 - 20/2 (Âm lịch) hàng năm, già làng là người chỉ đạo mọi việc trong lễ hội, từ việc chọn ngày làm lễ đến việc họp người dân trong làng cùng nhau đóng góp đồ lễ. Tùy vào điều kiện của mỗi làng hay tình hình hạn hán kéo dài mà có thể lễ vật cúng là trâu hoặc heo, nhưng trên đài tế luôn luôn phải có đầy đủ một đôi gà trống, hai ché rượu, một vòng sáp ong, một chén gạo và trầu cau... để dâng lên các vị thần ban sức khoẻ (PoTang PôYa), thần mưa (PôNai), thần thuỷ lợi (PôYang).
Chủ lễ đăng đàn làm lễ, dưới đài cúng là các già làng khác giúp việc. Sau khi khấn xong, già làng sẽ tung đồng xu xin keo lên, nếu đồng xu xin keo có hai mặt âm dương khác nhau là Yàng và các vị thần đã đồng ý. Ảnh: Thanh Hà

Việc tiến hành nghi lễ cúng cầu mưa được tổ chức tại trung tâm của làng. Tất cả người dân trong làng phải có mặt, đại diện cho mỗi gia đình đến chạm tay và khấn trước món đồ cúng, người Chăm H’roi quan niệm phải làm như vậy thì mới được thần biết đó là người của làng nên thần sẽ phù hộ cho.

Chị La Thị Huyền Giang (Làng Hiệp Hội, thị trấn Vân Canh, tỉnh Bình Định) cho biết: “Đàn cúng, cây nêu được đồng bào Chăm làm từ cây tre và gỗ được trang trí với hai màu chủ đạo là màu đen, đỏ là hai màu đặc trưng của đồng bào Chăm H'roi, xung quanh là những sợi chỉ treo những hình thù độc đáo, mô phỏng lại những hình tượng, dụng cụ thường xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của dân tộc Chăm nơi đây. Sau khi đất nước giành độc lập, cây nêu của đồng bào dân tộc Chăm H'roi có thêm lá cờ Tổ quốc thể hiện lòng biết ơn với Đảng, với Bác Hồ. Có Người cuộc sống của người Chăm H'roi mới được như ngày hôm nay”.

Nơi gắn kết cộng đồng

Trong nghi thức cúng của người Chăm H’roi, dân làng sẽ chọn một người có uy tín mặc trang phục truyền thống của dân tộc tượng trưng cho người của Yàng (còn gọi là Oi quai) cử xuống nghe lời khấn nguyện và nhận lễ vật của dân làng. Thầy cúng phải do dân làng chọn ra từ các già làng, thường là 3 - 5 người (hay 7 - 9 người), lễ vật cũng vậy đều phải là số lẻ vì người Chăm H’roi quan niệm đồ lễ là số lẻ, thần cho một phần nữa là đủ. Trong lễ cúng người Chăm H’roi cầu chỉ vừa đủ không bao giờ xin nhiều vì họ sợ lòng tham sẽ làm thần nổi giận không cho nữa.

Gõ trống K’toang, nổi cồng chiêng tạo âm thanh của sấm chớp. Ảnh: Minh Tiến

Trong buổi lễ thầy cúng khấn: “Yàng ơi! Chỉ có Yàng mới cho người có nước để trồng cây lúa. Ơi Yàng! Yàng hãy mau mưa xuống - mưa hạt nhỏ cây bắp trổ, mưa hạt lớn lúa nẩy cây...”. Khi khấn xong thầy cúng dùng hai đồng tiền xu gieo quẻ, nếu hai đồng xu đều cùng sấp hoặc cùng ngửa tức là Yàng chưa đồng ý, cho đến khi gieo quẻ mà hai đồng tiền một sấp một ngửa thì thần mới đồng ý. Lúc đó Oi quai đứng trên đài sẽ tung gạo, phun mưa ra khắp 4 hướng, thể hiện như trời đã đồng ý ban cho người Chăm H’roi mưa xuống, cây lúa tươi tốt, mùa màng bội thu. Sau đó thấy cúng sẽ hô: “Nào hỡi dân làng hãy nổi cồng chiêng chào đón mưa trời cho!”. - Già làng Lê Văn Ru (Làng Hiệp Hội, thị trấn Vân Canh, tỉnh Bình Định) chia sẻ.

Những người phụ nữ sẽ cầm những bó nan vuốt vào không khí tạo nên âm thanh của gió, đàn ông gõ trống k’toang nổi cồng chiêng lên tạo nên âm thanh của sấm chớp, già làng hô vang kêu gọi dân làng hãy nổi cồng chiêng chào đón những cơn mưa to mà Giàng cho.

Nghi thức truyền thống trong Lễ cầu mưa.

Nghe tiếng hô của già làng, mọi người cùng hú theo vui vẻ, những thiếu nữ Chăm bắt đầu múa xoang các điệu truyền thống quanh đội cồng chiêng, mở đầu cho phần hội tưng bừng, vui vẻ với mong ước Giàng và các vị thần sẽ che chở, mang lại cho dân làng những cơn mưa, những điều may mắn, tốt đẹp.

Bắt nguồn từ những phong tục cổ của người Chăm H’roi tại Bình Định cho đến nay lễ hội cầu mưa vẫn lưu giữ được những nét độc đáo của những phong tục truyền thống xưa như một phần trong văn hóa tinh thần không thể thiếu của đồng bào Chăm nơi đây. Đây cũng là dịp để đồng bào người Chăm H’roi mọi nơi đổ về hội tụ gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm trong đời sống tín ngưỡng cũng như cuộc sống hàng ngày. Đem lại ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng, góp phần làm phong phú cho nền văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam.
Theo langvietonline.vn
Lễ cầu mưa của người Chăm ở Vân Canh
Lễ cầu mưa của người Chăm H’roi ở thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh (Bình Định) thường được tổ chức vào những ngày đầu tháng 2 âm lịch.
Từng gia đình có thể làm lễ riêng trên rẫy của mình hoặc cùng nhau góp lễ để cả làng làm chung.
 
Để chuẩn bị cho lễ cầu mưa, dân làng cùng đóng góp lễ vật

Lễ  diễn  ra  tại  trung  tâm  của  làng. Tất cả người dân trong làng đều phải có mặt. Đại diện cho từng gia đình đến chạm  tay  và  khấn vái  trước  lễ  vật  để được thần linh phù hộ. Lễ vật gồm có: 2 con gà trống, 2 ché rượu, 1 vòng sáp ong, 1 chén gạo…
 
Theo quan niệm của người Chăm H'roi, đồ lễ và số người làm lễ phải là số lẻ, để thần linh cho một phần nữa là đủ
Đây là dịp để người Chăm tạ ơn trời đất đã ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đời sống no đủ.
Trong nghi thức cúng của người Chăm H'roi, dân làng chọn một người có uy tín mặc trang phục truyền thống, tượng trưng cho Yàng cử xuống nghe lời khấn nguyện và nhận lễ của dân làng

Già làng xin thần linh ban cho dân làng mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no

 
 
Thanh Hà

Phép ứng xử trong ăn uống - Nét đẹp của người Chăm

Người ta nói rằng, phải ngồi bên mâm cơm của người Chăm thì mới thấy hết được những nét đẹp văn hóa trong ứng xử của họ.

Nếu người Kinh "ăn trông nồi, ngồi trông hướng" thì với người Chăm, ăn uống hàng ngày hay ngày đình đám đều phải tuân theo các phép ứng xử có từ lâu đời.
Ăn uống hàng ngày
Hàng ngày, người Chăm trải chiếu hoặc cà tăng theo chiều Đông - Tây để dọn ăn. Thường thường buổi sáng và buổi chiều ăn ngoài sân còn buổi trưa trong hiên nhà. Thức ăn được dọn trên mâm và ngồi theo thứ bậc trong gia đình. Người phụ nữ (mẹ, chị) thường ngồi gần nồi niêu vừa ăn vừa múc bổ sung thức ăn cho mọi người.
Người Chăm không cầu nguyện trước khi ăn, và bữa ăn bắt đầu khi người lớn tuổi cầm đũa. Trong lúc ăn không được nói chuyện nhảm hoặc cãi cọ, không để rơi vãi hạt cơm và nếu vào buổi chiều phải thắp đèn dù trời hãy còn mờ sáng.
Ngoài ruộng rẫy, nếu không phải là buổi cúng thì bữa ăn không cần dọn trên mâm mà bê đặt dụng cụ đựng thức ăn chính giữa, mọi người dùng chung. Trường hợp không mang theo đũa chén thì họ vót cây rừng hoặc có khi dùng lá cây làm muỗng. Và mọi thành viên ngồi quanh không theo thứ bậc.
Ăn uống nơi đình đám
Tùy theo tính chất và đạo giáo Bàlamôn hay Bàni mà người Chăm có cách dọn ăn khác nhau.
Nếu là đám tang ở cả hai đạo giáo dọn ăn theo chiều Bắc - Nam, còn nếu là các đám khác như đám cưới, hoặc lễ cúng thần thánh, họ dọn ăn theo chiều Đông - Tây.
Một cô gái Chăm ở xóm Lama, Vĩnh Trường trong một lễ đặt tên. Đám đặt tên, cưới hỏi, người Chăm có ăn uống, nhưng nói họ ăn nhậu như một số phương tiện truyền thông là họ tức giận, vì rượu, bia bị giáo luật cấm uống. Ảnh: Trần Việt Đức

Người Chăm Bàlamôn dọn thức ăn trên mâm cho hai hoặc bốn người, còn người Chăm Bàni chỉ dọn mỗi mâm có hai vị cao niên hoặc chức sắc ngồi trên cùng, những người còn lại dọn tiếp diễn đặt trực tiếp chén đãi trên mặt chiếu. Được ăn khi mâm trên cùng đã cầm đũa.
Các vị chức ắc ở hai đạo giáo khi tham gia cúng kính trong nhà lễ (Kajang), mọi lễ vật (các món ăn - uống) dọn trên mâm cao chân lót lá chuối, gọi là salaw takai, mâm của người Chăm Bàlamôn có 5 chân, mâm người Bàni 6 chân. Các vị chức sắc ngồi theo kiểu duỗi tréo (Jauh maiy), và trước khi dùng tất cả đều cắn hạt muối và thực hiện nghi thức xin phép bằng động tác và lời niệm thầm trong miệng.
Người đàn ông Chăm dùng cơm nơi đình đám cũng như ở nhà đều cùng tư thế (ngồi xếp bằng), còn người đàn bà tư thế duỗi chéo như các vị chức sắc đó là tư thế chuẩn mực và bắt buộc.
Điều đáng lưu ý là bất kỳ đình đám nào, người đàn ông cũng được mới ăn uống trước mới đến phụ nữ.
Trong lễ cưới hai vợ chồng son được cùng ăn trên một cái mâm với nhiều thức ăn thể hiện sự chung thủy, gắn bó và giàu có.
Có thể thấy, ứng xử trong bữa ăn đã trở thành nếp, ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Chăm. Qua đó, chúng ta không chỉ thấy được nét đẹp về văn hóa ứng xử , tôn giáo mà còn thấy được tính cách của mỗi người.

Theo dantocviet.cinet.gov.vn

Người Chăm Bà La Môn mừng nhà mới

Theo phong tục của đồng bào Chăm ngôi nhà rất quan trọng trong cuộc đời của đồng bào. Nó là linh hồn, là trái tim của mỗi đồng bào dân tộc Chăm. Ngôi nhà là không gian sống động linh thiêng, là nơi thờ cúng tổ tiên.


Xây dựng ngôi nhà xong, để thể hiện lòng thành kính, biết ơn ông bà tổ tiên, gia chủ chuẩn bị lễ vật tổ chức lễ về nhà mới mời thầy cúng và người thân về nhà mình để chúc phúc qua đó người thân công nhận ngôi nhà đó là của mình.
Đồng bào Chăm chuẩn bị các lễ vật để làm lễ báo với thần linh tại tháp Chăm.


Người dân tộc Chăm mang các lễ vật vào tháp để dâng lên thần linh. Đồng bào Chăm mang theo lễ vật bao gồm trầu, cau, rượu,.. mang lên Tháp Chăm làm nghi thức tấu trình với thần Po Ginuer Matri (thần Si va).

Thầy cúng đang làm nghi lễ mở cửa đền tháp. Tiếp đó, thầy cúng thực hiện nghi thức tẩy tượng Mukhalinga và tiến hành nghi thức mặc trang phục cho tượng vua Pô Klaong Girai. Tiếp đó, người dân tộc Chăm mang các lễ vật vào tháp để dâng lên thần linh. Thầy cúng tiến hành nghi thức thắp sáng cây đèn thần, tạo lửa và đốt trầm hương, ông kadhar hát thánh ca thực hiện nghi thức cúng.

Nghi thức mở cửa tháp.
Người Chăm mang lễ vật vào tháp cúng thần linh.

Thầy cúng thực hiện nghi thức cúng thần linh.

Sau khi tiến hành làm lễ báo cáo với thần linh tại tháp xong đồng bào chuẩn bị đồ cúng để làm lễ tại ngôi nhà mới của mình. Thầy cúng tiến hành cúng 2 chum gạo đầy trên đó có để mấy đồng tiền tượng trưng cho sự cầu mong no đủ bởi gạo nuôi bản thân con người. Sau đó, thầy cúng quay đến 2 mâm cao đã chuẩn bị cho thần linh, hướng đầu tiên là cúng Mẹ quay về hướng Đông để cúng vì Mẹ là dương, là hướng Đông - hướng của mặt trời mọc. Tiếp theo thầy sẽ hướng về hướng Tây tượng trưng cho Cha, mời Cha về nhà mừng vui nhà mới.

Đồng bào chuẩn bị lễ cúng tại nhà.
 
Thầy cúng cúng 2 chum gạo.
 
Thấy cúng hướng về hướng Đông và Tây mời Mẹ và Cha về mừng nhà mới.

Theo Langvietonline.vn
 

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2018

Lễ “Thứ sáu xoay vòng” của người Chăm Bà-ni

“Thứ sáu xoay vòng” là dịch sát nghĩa của lễ Suk Yơng, một lễ lớn và quan trọng của người Chăm Bà-ni, chỉ đứng sau Ramưwan.
Tuy nhiên, lễ Suk Yơng  có sự khác biệt nhất định, mang tính khu vực và có vài thay đổi ngày tháng ở các địa phương khác nhau, tùy điều kiện xã hội ở mỗi palei trong khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận.

Ông Chế Quốc Minh, một nghệ nhân trống Ginăng ở làng Lạc Trị - Tuy Phong (Bình Thuận), lí giải về Suk Yơng: “Ở Bình Thuận, người Chăm thuộc hệ tín ngưỡng Bà-ni cũng có lễ Suk Yơng đặc trưng. Khác với Phan Rang (Ninh Thuận) cứ mỗi 3 năm diễn ra một lần, ở Tuy Phong  năm nào bà con cũng tổ chức Suk Yơng. Tại các palei không có nhiều Pô Acar (thầy Chan) như Bami (Phò Trì, chỉ có hai Pô Acar), hay có ít thánh đường như Ma Lâm (Pajai) hay Tánh Linh (Pacam), các chức sắc tổ chức Suk Yơng rất linh hoạt và luôn đúng vào thứ sáu. Riêng Bắc Bình có đến 6 thánh đường, nên bổn đạo có điều kiện để dễ “xoay vòng” hơn. Lễ Suk Yơng ở Bắc Bình, trước hết bắt đầu từ thôn An Bình (Dik), rồi Hậu Quách (Panat), Minh Mị (Ia Mưmih), Cảnh Diễn (Cakak), Châu Hanh (Caraih), để cuối cùng kết lại tại Thanh Kiết (Nhjar). Còn ở Tuy Phong, Suk Yơng tùy thuộc vào quyết định của Pô Gru làng Vĩnh Hanh (Karang). Thường thì lễ được tiến hành sau Suk Yơng ở Bắc Bình một tuần”.
 
Lễ Suk Yơng - một lễ lớn và quan trọng của người Chăm Bà-ni

 
Riêng Ninh Thuận, Suk Yơng là dịp để quý thầy Acar (tu sĩ nhóm Chăm Awal) kiểm điểm những sai trái cùng các vấn đề nảy sinh trong đạo giáo từ chức sắc cho đến tín đồ trong việc thực hiện nghi lễ, cúng bái, sinh hoạt của tôn giáo tại các thánh đường, đền tháp. Ngoài ra, sự chênh lệch lịch pháp, hay một số vấn đề xã hội khác cũng cần được bàn bạc, điều chỉnh. Đây còn là cơ hội để bổn đạo đưa ra những cách giải quyết thiết thực, cụ thể và đề ra phương hướng, kế hoạch hoạt động tôn giáo trong 3 năm tới.

Ở Ninh Thuận, mở đầu phần lễ, một màn múa truyền thống đón chào khách là điều không thể thiếu trong hầu hết lễ hội của người Chăm. Tiếp đến vào phần lễ cuộc họp bàn của các chức sắc. Phần sau cùng để kết thúc ngày lễ Suk Yơng là nghi thức dâng mâm lễ vật lên Pô Acar. Trước tiên là dâng mâm chè (xalau abu), kế đến là mâm cơm lễ gồm có đầy đủ các món và luôn luôn có một dĩa cơm được đơm cao và tròn.

Cùng hòa vào lễ Suk Yơng, ngoài các chức sắc Chăm Bà-ni  của 7 thánh đường,  còn  có người Chăm Bà-la-môn đến góp mặt. Bởi một số vấn đề xã hội  cần có sự bàn bạc  của đại diện hai tôn giáo, mới có thể giải quyết thỏa đáng. Điều này còn nói lên sự hòa hợp đầy tình thân ái của hai tôn giáo trong cộng đồng Chăm hiện nay.
Kiều Maily (baobinhthuan.com.vn

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Lễ trưởng thành cho thiếu nữ Chăm Bà Ni

Trong một vòng đời của người dân tộc Chăm Bà Ni ở Ninh Thuận, có nhiều nghi lễ được tổ chức như: Lễ cầu khai hoa nở nhụy, Lễ đầy tháng, Lễ thôi nôi, Lễ thành đinh, Lễ trưởng thành thiếu nữ, Lễ cưới, Lễ cúng cầu an, Lễ tạ ơn, Lễ lên lão…
Trong đó, Lễ thành đinh cho thiếu nam và Lễ trưởng thành cho thiếu nữ là một trong những nghi lễ quan trọng, bởi khi đó họ được cả cộng đồng làng xóm, được tôn giáo của mình công nhận là người lớn.

Lễ trưởng thành cho thiếu nữ Chăm Bà Ni (hay còn gọi Lễ Karơh) được coi là một trong những nghi lễ quan trọng nhất, để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong cuộc đời mỗi con người. Bởi đây là thời điểm chuyển tiếp tuổi trưởng thành của thiếu nữ để chuẩn bị bước vào tuổi hôn nhân, và họ được cả cộng đồng làng, tôn giáo công nhận mình đã lớn. Sau nghi lễ này, người thiếu nữ có thể tự do yêu đương và lựa chọn bạn đời.

Các thiếu nữ chuẩn bị sẵn sàng trước buổi lễ.
 
Theo ông Từ Công Dư, Phó Chủ tịch Hội đồng sư cả Chăm Bà Ni, tỉnh Ninh Thuận, thì Lễ trưởng thành của thiếu nữ Chăm Bà Ni thường được tổ chức cho các thiếu nữ Chăm từ 9 - 15 tuổi. Nghi lễ này được tổ chức trong 3 ngày liên tiếp vào các tháng 3, 8 hoặc 10 theo lịch Bà Ni. Ngày thứ nhất là chuẩn bị các lễ vật. Ngày thứ hai chuẩn bị bánh trái và làm lễ chứng kiến ra mắt, báo trước cho ông bà tổ tiên. Ngày thứ ba, là ngày chính đi vào nghi lễ chính thức. Các thiếu nữ sau khi tắm rửa và trang điểm sẽ được đến Thánh đường để làm nghi lễ và cúng dâng cho thượng đế. Lễ thường do nhiều gia đình tổ chức chung. Số thiếu nữ được làm Lễ trưởng thành trong một lần đều theo số lẻ như 3, 5 hoặc 7 người.

Các thiếu nữ bê lễ vật ra nhà lễ.

Trước ngày thực hiện nghi lễ, các gia đình có con làm lễ trong đợt này phải chuẩn bị đầy đủ các lễ vật để cúng trong Lễ trưởng thành, làm bánh truyền thống của người Chăm (bánh nếp, bánh ít) và dựng, trang trí hai nhà để làm Lễ trưởng thành. Đến ngày làm lễ, các gia đình dậy từ sáng sớm nấu các món cúng lễ, chuẩn bị phục trang, vật dụng, lễ vật đầy đủ, chu đáo cho buổi lễ. Các thiếu nữ trong Lễ trưởng thành được trang điểm cẩn thận, cầu kỳ. Bà Bóng (một người phụ nữ Chăm đã già) và hai người phụ nữ lớn tuổi khác giúp các thiếu nữ Chăm mặc pành (phục trang) và đưa các thiếu nữ đi tắm ngoài trời...

Thầy cả sư làm thủ tục cắt tóc cho các thiếu nữ
 
Sau khi tắm xong, các thiếu nữ được đưa vào trong nhà để trang điểm, mặc trang phục truyền thống, đeo trang sức và búi tóc lên cao trên đỉnh đầu, chuẩn bị làm Lễ trưởng thành. Lúc này, người thân trong gia đình đã chuẩn bị đầy đủ các lễ vật, trang trí nhà lễ. Khi các thiếu nữ đã hoàn chỉnh việc phục trang, sẵn sàng cho buổi lễ, ba vị chức sắc ở trong nhà lễ chính đã ngồi vào vị trí chuẩn bị thực hiện các nghi lễ. Thầy cả sư chủ trì thực hiện sẽ phân công các vị chức sắc các phần việc. Lúc này, bà Bóng cũng có mặt trong nhà lễ chính để cùng thực hiện lễ.

Bà Bóng giúp các thiếu nữ mặc trang phục truyền thống trước khi làm lễ.
 
Người nhà các thiếu nữ chuẩn bị lễ vật để cúng lễ.
 
Thầy cả sư gọi thứ tự từng thiếu nữ bước vào nhà lễ chính để làm thủ tục, cắt tóc. Tóc của các thiếu nữ được cắt hai lần, giữa trán, và hai bên. Lần đầu tiên cắt tóc để thể hiện sự biết ơn đối với đấng sinh thành, lần thứ hai để thể hiện lòng tôn kính đối với thánh Allah. Trong quá trình thực hiện nghi lễ này, có sự chứng kiến của 1 bé trai sơ sinh (gọi là nưk pô thìh), vì người Chăm quan niệm, em bé sơ sinh này là người làm chứng linh thiêng nhất với thánh Allah, để chứng kiến rằng các thiếu nữ này đã được cắt tóc nhập đạo Bà Ni. Các thiếu nữ ngồi trong nhà lễ chính và được các vị chức sắc làm phép, đọc kinh để mời thánh Allah về chứng giám. Sau khi được làm phép, các thiếu nữ lần lượt lạy các chức sắc, cha mẹ, tổ tiên, người thân để mọi người công nhận kể từ lúc này, họ đã là người trưởng thành, tức là được đạo công nhận là người lớn. Lúc này, các thiếu nữ sẽ được người thân lì xì bằng hiện vật như tiền, vàng, trâu, bò, dê, cừu… hoặc là chúc những câu chúc tốt lành. Những món quà lì xì sẽ được để trong một cái thau, được thầy cả sư làm phép, sau đó đưa cho các thiếu nữ giữ. Đây được coi là những của cải bước đầu, như là của hồi môn của các thiếu nữ mà cha mẹ hay người thân không được lấy dùng, mà để làm của cải cho con cái mình sau này, khi đến tuổi lập gia đình.

Dâng lễ vật lên ba thầy chức sắc.
 
Sau đó, các thiếu nữ quay trở về vị trí nhà lễ chính để các vị chức sắc cúng lễ. Lúc này, người nhà chuẩn bị và dọn ra 7 mâm lễ vật cúng gồm: 3 mâm cho 3 thầy chức sắc, 3 mâm cho 3 thiếu nữ và 1 mâm cho bà Bóng. Cúng theo tuần tự món ngọt trước, món mặn sau. Món ngọt gồm có bánh, trái cây, chè, xôi. Món mặn gồm có cơm, canh, thịt, cá… Thầy cúng đọc kinh và cúng lần lượt các mâm lễ, sau đó các thiếu nữ được dùng các món chung với các vị chức sắc và bà Bóng để chứng tỏ rằng kể từ bây giờ họ đã có một vị trí quan trọng trong đạo Bà Ni của người Chăm và đã là người trưởng thành.

Sau lễ cúng, gia đình mời người thân, bạn bè cùng chung vui mở tiệc mừng con cái gia đình họ trưởng thành.
 
(theo tintuc.vn

Độc đáo trang phục chức sắc dân tộc Chăm

Người Chăm có một tầng lớp chức sắc chuyên phục vụ nghi lễ cộng đồng, họ có bộ trang phục riêng biệt nhằm dễ dàng nhận biết về cấp bậc.
Nhờ có trang phục riêng biệt mà đồng bào dễ dàng nhận biết cấp bậc của các chức sắc
Trang phục chức sắc Chăm Bà La Môn

Tu sĩ Paseh chuyên phục vụ các nghi lễ, phong tục của gia đình như lễ hỏa táng. Trang phục đặc trưng của họ là áo dài trắng, xà rông trắng, dây thắt lưng, khăn đội đầu và một cái túi vắt ngang vai để đựng kinh cùng các vật dụng phục vụ nghi thức cúng tế.

Cả sư Po Adhia là chức sắc cao nhất trong cộng đồng Chăm Bà La Môn. Trang phục của Po Adhia nhìn chung giống bậc tu sĩ Paseh, chỉ khác xà rông và dây thắt được may thêm thổ cẩm hoa hình rồng.
Trang phục của Tu sĩ Po Acar trong lễ hội Ramưwan
Trang phục chức sắc Chăm Bà Ni

Tu sĩ Po Acar chuyên phục vụ các nghi lễ cúng tế như tang ma, cưới hỏi, lễ hội Ramưwan… trang phục của họ gồm áo dài, khăn đội đầu, túi, xà rông và dây thắt lưng. Áo dài Po Acar được may từ sáu mảnh vải ghép lại với nhau gồm hai thân trước, hai thân sau và hai ống tay. Khăn đội đầu có đính kèm hoa văn thổ cẩm theo bốn đường biên hình chữ nhật.
 
Po Bac (phó cả sư) với trang phục giống với trang phục của cả sư Po Adhia

Cả sư Po Gru là bậc chức sắc cao nhất trong cộng đồng Chăm Bà Ni, phục vụ các nghi lễ tại thánh đường trong lễ hội Ramưwan. Trang phục của họ cũng như tu sĩ Po Acar, riêng xà rông và thắt lưng được đính kèm thổ cẩm hoa văn hình rồng.
Chức sắc Chăm trong lễ hội Katê

Văn Trãi

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

RIJA NƯGAR- Một lễ hội dân gian dân tộc Chăm mang nhiều yếu tố trình diễn

I. Lễ hội và ý nghĩa của nó Rija Nưgar có nghĩa là lễ hội của xứ sở (Rija: lễ, Nưgar: xứ sở). Nhìn từ góc độ truyền thống đây là một lễ hội lớn, có thể nói lớn nhất dân tộc Chăm, bên cạnh hai lễ hội dân gian khác là Katê và Bbơng muk kei (Ramadan hay Ramưwan). Nếu Bbơng muk kei tổ chức vào đầu tháng 9 Hồi lịch, chỉ có bộ phận Chăm Bàni – Cam Awal (người Chăm theo đạo Hồi được dân tộc hóa) tham dự; hay nếu Katê, được tổ chức vào đầu tháng 7 Chăm lịch, đại bộ phận người tham gia là quần chúng Chăm Bàlamôn – Cam Ahier(1), thì lễ Rija Nưgar hầu như đã tập hợp được toàn bộ cư dân Chăm trong khu vực hành lễ.
Dĩ nhiên người Chăm thuộc hai tôn giáo khác nhau này, cuộc lễ được tổ chức với những dị biệt nhất định(2). Ở đây, chúng tôi thử mô tả diễn biến cuộc lễ tại một địa bàn trọng điểm là làng Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (thuộc Chăm Bàlamôn).
– Địa điểm hành lễ: thường là tại một chốn công cộng ở đầu làng.
– Kajang (rạp) Rija Nưgar: bằng dụng cụ sắm sẵn: gỗ, tre, tranh, cà tăng..., người ta dựng rạp hai mái, một mặt hướng về phía Đông để trống, mặt đối diện được che kín.
– Thời gian hành lễ: hai ngày, thứ Năm và thứ Sáu của tuần đầu tháng Giêng Chăm (Tamư di Jip, tabiak di Xuk: Vào ngày thứ Năm, ra ngày thứ Sáu, như một câu tục ngữ Chăm nói).
– Lễ vật: vài cặp gà, vài mâm bánh trái vào ngày đầu; ngày sau mới cúng dê.
– Chủ lễ: Mưdwơn gru (giỗ sư hay thầy vỗ) vừa điều khiển cuộc lễ vừa hát các bài ca lịch sử hay bài tụng ca (damnưy) đồng thời vỗ trống baranưng (trống một mặt của người Chăm) đệm theo lời hát. Bên cạnh có một Mưdwơn khác phụ lễ.
Nhưng có thể nói, nhân vật trung tâm của cuộc lễ phải là Ong Ka-ing, một vũ sư nhảy múa.
– Ý nghĩa: bài tụng ca ngợi ca công đức của các Yang, Cei, Nai (vua, anh hùng, liệt nữ được thần hóa) trong công cuộc tạo dựng non sông, mang ấm no cho dân tộc. Và ý nghĩa của cuộc lễ là tống khứ khỏi palei tất cả cái xấu xa nhơ nhớp của năm cũ để đón nhận cái tốt đẹp nhân dịp năm mới.

II. Nguồn gốc và tính chất

 
Rước Y trang thần lễ Katê
Về nguồn gốc và thời gian xuất hiện của lễ Rija Nưgar, đến nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất. Có người cho rằng nó xuất hiện vào thế kỷ XVII dưới thời Po Rome (1627 - 1651), thời vương quốc Champa đã có những quan hệ khăng khít với thế giới Mã Lai, vì xét thấy nó có nhiều điểm tương đồng với các lễ Rija Harei, Rija Praung... với cùng một vỏ bọc tên gọi.
Nhưng theo chúng tôi, Rija Nưgar mang nhiều yếu tố bản địa, có thể đã có mặt ở vương quốc Champa sớm hơn rất nhiều. Bởi vì, mặc dù có những điểm tương đồng như cùng hát một số bài tụng ca như nhau, cùng một chủ lễ là Ong Mưdwơn... nhưng xét về tính chất, Rija Nưgar khác hẳn với các lễ trên.
– Trong khi Rija Nưgar mang tính dân tộc và đại chúng thì các lễ kia chỉ mang tính cách gia đình hay tộc họ.
– Rija Nưgar được tổ chức định kỳ, còn các lễ khác thì chỉ làm có tính đột xuất khi gia đình hay tộc họ có chuyện hứa (bbon) với Yang, và làm lễ để "trả nợ" Yang.
Do đó, đã không có ít người Chăm xem Rija Praung, Rija Harei... như là các lễ mang đầy tính chất dị đoan mê tín trong lúc Rija Nưgar luôn luôn được đại đa số quần chúng Chăm xem trọng.

III. Các yếu tố trình diễn của lễ hội Rija Nưgar
Như thế, Rija Nưgar là một lễ hội dân gian có tính truyền thống và mang một ý nghĩa tốt đẹp (ở nhiều khía cạnh, nó gần như Tết Nguyên đán của dân tộc Kinh) quy tụ cả hai bộ phận tôn giáo dân tộc Chăm tham dự. Một lễ hội lớn và chỉ cần chi phí rất ít (không quá 3 triệu đồng, trong khi Rija Praung có gia đình phải chịu hao tốn gấp 5-8 lần) nhưng đã mang lại hai ngày hội vui cho cả plây Chăm. Bởi vì ở một khía cạnh nào đó, người Chăm còn coi nó như là những buổi trình diễn văn nghệ quần chúng (yếu tố hội) mang đậm sắc thái dân tộc.
Để xét đến các yếu tố trình diễn của một lễ hội đặc thù như Rija Nưgar, câu hỏi trước tiên được đặt ra là: người Chăm có nền nghệ thuật sân khấu dân gian không? Và chúng được thể hiện qua yếu tố nào? 

Lấy nước

Trả lời được câu hỏi này là một điều vô cùng khó khăn. Bởi vì nền văn hóa Champa nói chung và các loại hình nghệ thuật nói riêng đã bị mai một rất nhiều. Riêng nghệ thuật sân khấu, chúng tôi cũng chưa tìm thấy một thuật ngữ nào khả dĩ diễn tả các khái niệm thuộc lãnh vực này. Song không phải vì thế mà chúng ta khẳng quyết rằng người Chăm không có các thể loại nghệ thuật sân khấu nói chung.
Từ những mảnh vụn văn hóa Champa còn được bảo lưu đến ngày hôm nay, chúng ta thử lần trở lại để tìm về cội nguồn, qua đó có thể hình dung được phần nào khuôn mặt của nó.
1. Trong nghệ thuật tạo hình
- Theo các nhà nghiên cứu, đền thờ Mỹ Sơn E1 diễn tả thật sống động một cảnh trong sử thi Ramayana của Ấn Độ(3).
- Bức trướng (Paning) được treo trang trọng trong các lễ Rija, là bức họa trang trí bao gồm gần như đầy đủ về những cảnh sinh hoạt đời thường hay trong thần thoại, trong đó không ít cảnh mang tính chất trình diễn.
2. Trong văn chương
- Trong các sáng tác thành văn Chăm, có nhiều tác phẩm lớn mang kịch tính cao như: Dewa Mưno, Um Mưrup, Ariya Cam - Bini... Các trường ca này có được các nghệ sĩ Chăm chuyển thể sang kịch bản và mang trình diễn hay không thì chúng ta không biết. Riêng trường hợp Pauh Catwai, đoạn cuối cùng của thi phẩm được nhà thơ bố trí rất thích hợp cho một cảnh trên sân khấu với nhiều vai diễn khá sinh động.(4)
- Trong văn chương bình dân, có thể nói chủng loại Pwơc jal (Hát vãi chài) mang đậm yếu tố sân khấu nhất. Pwơc jal có hai dạng: dạng ứng khẩu và dạng có sẵn lời. Trong dạng ứng khẩu, người nghệ sĩ hát cho một đối tượng ngồi trước mặt về sự vui buồn ở quá khứ, các dự đoán về tương lai. Bằng tài văn chương của mình, ông có thể gây khóc, cười cho khán thính giả xung quanh. Riêng dạng Pwơc jal có sẵn lời, bài Pwơc jak ka ikan klơp (Hát vãi chài về Cá đâm) nổi tiếng hơn cả, nghệ sĩ vừa hát vừa làm động tác đóng kịch như: mò cá, bị cá đâm, đau đớn quằn quại...
Ngoài ra, các điệu hát như hát đố (Adauh pađaw), hát đối đáp, hát giao duyên (Adauh rathung chai)..., thao tác cuốc đất, giã gạo luôn được diễn đều nhịp, tương ứng với nội dung bài hát được xem là một gợi ý cần thiết cho hướng nghiên cứu.
Qua các loại hình nghệ thuật gần gũi với sân khấu, chúng ta có thể nói rằng người Chăm ít ra cũng biết đến nghệ thuật này. Nhất là trong các lễ hội, nó được biểu hiện trọn vẹn nhất, ước lệ nhất, qua các bài hát, múa và nhạc. Các nhân vật "biểu diễn bằng những động tác tượng trưng trong một khung cảnh ước lệ".(5)
Như vậy, không nhất thiết phải hội đủ các yếu tố mang tính hiện đại: nhân vật, sự xung đột, giải quyết sự xung đột... mới tạo được cái gọi là nghệ thuật sân khấu Chăm. Chúng ta cần xét tới các khía cạnh thật đặc thù của nó, mở hướng nghiên cứu theo chiều sâu để nghệ thuật sân khấu Chăm tương lai (nếu có) tránh nguy cơ phát triển lệch lạc, lai căng và mất gốc.
3. Các yếu tố trình diễn của lễ hội Rija Nưgar
Ngoài các yếu tố phụ như "sân khấu" (kajang) được dựng ngay đầu/trung tâm làng và đám đông luôn vỗ tay với tiếng ahei (hoan hô) của mình, ca-múa-nhạc là các yếu tố trình diễn của lễ hội này.
- Ca: với nhân vật Ong Mưdwơn và các tụng ca của ông.
- Nhạc: với 2 tay trống ginang, một thổi kèn xaranai, một vỗ trống baranưng (Ong Mưdwơn kiêm nhạc công chơi nhạc cụ này).
- Múa: với nhân vật Ong Ka-ing.
Trong suốt cuộc lễ, Ong Mưdwơn hát từ 10 đến 20 bài tụng ca (damnưy, còn có thể dịch là bài ca lịch sử), khác nhau. Các nhạc công và vũ sư đệm nhạc và biểu diễn theo tinh thần nội dung bài hát. Bài tụng ca này tiếp theo các bài khác nên các "lớp" cũng liên tục thay đổi, với các điệu nhạc, điệu múa khác nhau.
Chúng ta thử phân tích 3 lớp chính.
Damnưy Cei Xah Bin Bingu:
Xah Bin là một viên tướng tài thời Po Rome, có nhiều chiến công hiển hách. Damnưy có đoạn viết:
  Urang nau mư-in ba gai
  Xah kuw mưrai sa bbaik hawei mư-in
  Đwơn twak hawei cei ba
  Gai đing bila cei ba subik
  Gwơn nau hatau cei ba
  Tanhrak bhong pak mưta hak cei takrư
  Cei nau mư-in grong bak
  Kaman pariak di bbauk asaih
  Người đi chơi mang gậy
  Chú tôi trở lại mang theo roi
  Mũ đội, roi cầm tay
  Ống điếu ngà voi mang theo cùng
  Đi đâu chú cũng vung
  Khăn mặt màu hồng, sao khoái mắt
  Đi, xách theo lục lạc
  Diềm bằng bạc che hai má ngựa

Khi Ong Mưdwơn hát tới khúc này, Ong Ka-ing hóa thân Xah Bin cầm ngay lấy chiếc roi, khăn màu hồng múa theo điệu trống dồn dập như trống thúc quân. Quất roi mây vun vút xuống hai bên chi dưới, rồi đặt bàn chân này lên đầu gối chân kia, Ong Ka-ing chỉ còn nhảy với một chân, như viên tướng trong cuộc phi ngựa xung trận, đã quyết đạp mọi chướng ngại dọc đường. Được hối thúc bởi tiếng hoan hô cổ vũ của khán giả, ông nhảy ra ngoài cửa rạp, với hai bàn chân trần, ông vừa múa vừa đạp loạn xạ quyết giập tắt đám lửa được nhóm lên trước kajang. Người Chăm gọi đó là Điệu múa roi và Múa đạp lửa, một điệu cuồng vũ thật sự.(6)
Damnưy Po Tang Ahauk:
Sang "lớp" Po Tang Ahauk - một biểu tượng sức mạnh của thuỷ chiến vương quốc Champa xưa, Ong Ka-ing vứt đi cây roi, nắm lấy cây mía dài (tượng trưng cho cây sào) dựng ở đầu rạp(7), làm những thao tác như một thuỷ thủ đang cố sức chèo chống con thuyền vượt qua phong ba bão táp của trùng khơi.
Sau đó, ông thình lình bẻ gẫy và vứt bỏ nó (chê nó quá nhỏ, quá yếu). Vì thế, Po Tang Ahauk phải neo thuyền ở luôn trong biển cả, lấy biển cả làm nơi cư trú. Đó cũng là ý nghĩa của cả bài tụng ca dài 40 câu lục bát Chăm.(8)
Damnưy Nai Tangya:
Rồi khi Ong Mưdwơn hát đến bài tụng ca Nai Tangya (một nữ sĩ trong lịch sử Champa có một tâm sự đau buồn), điệu trống trầm lắng trở lại. Lúc này trên tay Ong Ka-ing chỉ còn cái quạt với chiếc khăn. Bước nhảy chậm và khoan thai, hai cánh tay đưa xuống thấp, thật thấp với đường cong đều và mềm dịu. Khuôn mặt, ánh mắt không còn rực sáng quyết tâm như ở hai "lớp" đầu mà trở nên buồn xa vắng.
Qua phân tích sơ bộ, chúng ta thấy múa là yếu tố cơ bản nhất của nghệ thuật biểu diễn trong lễ hội Rija Nưgar, trên nền bài tụng ca và âm nhạc.
Ở đây thơ và nhạc, lịch sử và tưởng tượng, tính linh thiêng của tôn giáo và trò chơi của nghệ thuật hoà hợp với nhau một cách nhuần nhị, tài tình. Phải chăng đó là nét đặc sắc của nghệ thuật sân khấu dân gian Chăm?
Có phải thế không mà, bên cạnh Katê được người Chăm Bàlamôn xem như cái Tết của mình và Bbơng Muk Kei cũng mang ý nghĩa tương tự đối với người Chăm Bàni, Rija Nưgar là một bộ phận của thuần phong mỹ tục Chăm cần được lưu trì. Và trong thực tế sinh hoạt tín ngưỡng xã hội Chăm, sự thể cũng đã diễn biến theo chiều hướng đó.
Ngày nay thế hệ trẻ Chăm không còn biết đến các nghi lễ cúng tế có tính nông nghiệp như Yor Yang, Palau PaXah (tổ chức vào tháng hai Chăm lịch), Pakap Haluw Kraung (tháng 8) hay các cuộc lễ mang đậm tính chất mê tín như Ngap Kabaw Yang Pataw (7 năm một lần vào tháng 7 Chăm lịch...) nữa, nhưng lễ Rija Nưgar với những ragơm (nhịp, điệu) trống và các điệu luân vũ của nó mãi mãi là những biểu hiện độc đáo của tâm hồn Chăm, luôn để lại trong ký ức những người Chăm trẻ tuổi những ấn tượng đậm nét khó quên.
   ________________________________________
Chú thích:
(1) Đúng ý nghĩa nguyên thủy của nó, Katê là lễ hội chung của dân tộc Chăm, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng.
(2) Xem thêm: Phan Xuân Biên, Văn hoá Chăm, Nxb. KHXH., H., 1991, tr.270.
(3) Ngô Văn Doanh, Văn hóa Chămpa, Nxb. Văn hóa thông tin, H., 1994. tr.139-146.
 Trần Kỳ Phương, Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm, Quảng Nam-Đà Nẵng, 1988, tr.31.
(4) Inrasara, Văn học Chăm II, Nxb. VHDT, H., 1996, tr.127.
(5) Phan Kế Hoành, Lịch sử kịch nói Việt Nam, Nxb. Văn hóa, H., 1978, tr.13.
(6) Inrasara, Sđd, tr.280 - 289.
(7) Trong một màn múa của Đoàn nghệ thuật bán chuyên Chăm - Ninh Thuận trong thời gian gần đây, chúng tôi thấy đạo diễn thay cây mía bằng cây sào "thực". Như thế có nên chăng?
(8) Inrasara, Sđd, tr.272 - 277.