Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Lào Cai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Lào Cai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2019

Gạo Séng Cù, niềm tự hào của người Tây Bắc

Là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc: Mông, Thái, Dao đỏ, Nùng… trên vùng đất Tây Bắc, gạo Séng Cù được trồng tại các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên... Trong đó, gạo Séng Cù ở 2 huyện Mường Khương và Bát Xát (Lào Cai) được đánh giá là ngon nhất, nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao gấp 3 lần các loại gạo thông thường.
Người Hà Nhì, huyện Bát Xát thu hoạch lúa gạo Séng Cù . Ảnh: Hoàng Hà 
 
Lúa Séng Cù có thời gian sinh trưởng ngắn, mỗi năm trồng 2 vụ, mỗi vụ kéo dài 4 - 6 tháng, năng suất trung bình đạt 40 - 50 tạ/ha. Người trồng tại Mường Khương cho biết, gạo Séng Cù dài, cứng hơn gạo tẻ thường, mùi thơm nhẹ, khi nấu cho cơm dẻo, mềm, thơm dịu như mùi hoa rừng, để nguội vẫn thơm, không cứng.

Sản phẩm gạo Séng Cù được bày bán ở chợ Mường Khương. Ảnh: Hoàng Hà
 
Mâm cơm của một gia đình người Hà Nhì với loại gạo Séng Cù nổi tiếng.
Ảnh: Hoàng Hà

Trên thị trường, gạo Séng Cù Mường Khương, Bát Xát có giá khoảng 30.000 đồng/kg. Để nâng cao chất lượng gạo Séng Cù, năm 2018, tỉnh Lào Cai đã triển khai “Mô hình chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm gạo Séng Cù tại Mường Khương và Bát Xát". Mô hình thực hiện thành công sẽ hình thành chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm này ổn định, bền vững, tăng thu nhập cho người sản xuất ở 2 huyện Mường Khương và Bát Xát.
Hoàng Hà – Anh Đào

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

Ăn lẩu cá hồi quán nào ngon khi đến Sa Pa?


Sa Pa (Lào Cai) có nhiều đặc sản và cá hồi là món bạn nhất định phải thử. Giữa tiết trời mát, nồi lẩu cá nghi ngút có thể đánh thức mọi giác quan.

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2019

Săn “mầm đá” ở Sa Pa

ANTĐ Tưởng món “mầm đá” chỉ có trong truyện Trạng Quỳnh, nào ngờ vừa đặt chân đến Sa Pa (Lào Cai), anh bạn người bản địa vỗ vai bảo: “Lên Sa Pa mà không ăn “mầm đá” coi như chưa được thưởng thức đặc sản xứ mù sương này”. Nói rồi, anh bạn kéo chúng tôi đến một con phố nhỏ cạnh nhà thờ của người Công giáo. Đó là con phố duy nhất bán món… “mầm đá”.
ảnh 1
“Đệ nhất món”

Phố nhà thờ ở thị trấn Sa Pa có tên gọi chính thức là đường Phạm Xuân Huân. Đặt tên đường vậy nhưng người địa phương chẳng mấy khi nhớ, họ gọi đó là phố nhà thờ hay là phố “mầm đá”.

Người bản địa gọi vậy cũng có lý bởi mấy mươi năm nay, từ khi người Sa Pa biết làm du lịch, họ đã nghĩ cách giữ chân du khách bằng những món đặc sản.

Trong một căn phòng vuông chằn chặn của nhà hàng giữa phố được bài trí theo kiểu phong cách Tây ta lẫn lộn. Cô gái phục vụ bàn là người Mông, tay cầm giấy bút nhỏ nhẹ: “Các anh dùng Sa Pa “đệ nhất” hay Sa Pa “đệ nhị”, chúng em chỉ còn một ít “mầm đá”, nếu các anh muốn bọn em sẽ đi lấy thêm”. 

Một lúc sau, phục vụ bàn đem ra một đĩa rau xào với mỡ lợn bóng nhẫy. Chúng tôi đang tròn mắt ngạc nhiên thì anh bạn người địa phương cười bảo, đấy là “mầm đá”. Thì ra “mầm đá” là một món rau lạ có hình thù khá lạ mắt rất đẹp. Quan sát kỹ, “mầm đá” giống với rau cải ngồng nhưng có thêm nhiều nhánh mọc xung quanh. Hình dáng theo kiểu hình tháp nhọn, có màu xanh tươi tắn rất đẹp mắt.
“Mầm đá” có vị ngọt dìu dịu, thơm như cơm tám nhưng đậm hơn. Điều đặc biệt, “mầm đá” chỉ có thể xào với mỡ lợn mới trở thành “đệ nhất món”. Nếu xào với dầu thực vật hay với những loại mỡ khác tự nhiên đổi sang màu vàng và không có mùi thơm.

Ông chủ quán giữa phố cười khà khà bảo, cái anh “mầm đá” này khó tính lắm. Xào lửa to quá cũng không được, nhỏ lửa thì hỏng ngay, nhất là phải đảo tay liên tục và chỉ ưa củi đun từ gỗ pơmu. Đun bằng bếp gas hay loại củi nào khác thì mất hết mùi vị.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, trước đây ở Sa Pa có những đặc sản được du khách rất thích thú là thịt thú rừng hay các loại rau từ núi Phan Xi Păng. Nhưng mấy năm trở lại đây, xuất hiện món “mầm đá” đã “đánh bật” hết thảy các đặc sản khác để trở thành vị trí mà dân nhậu gọi là Sa Pa “đệ nhất món”.

Đắt như “mầm đá”

Được thưởng thức món “mầm đá”, dân nhậu tứ xứ phải công nhận đó là một đặc sản hiếm có và khó gặp. “Mầm đá” vừa là một đặc sản vừa là một món rau bổ dưỡng như một vị thuốc giúp an thần và chữa đau xương khớp.

Ông chủ quán giải thích: “Hầu hết dân leo núi đều ăn “mầm đá” để bồi bổ. Xương khớp đau hay mệt mỏi, ăn “mầm đá” là nhanh khỏe nhất”. Không biết sự thật về công dụng của “mầm đá” đến đâu nhưng theo quan sát của chúng tôi, có rất nhiều du khách Tây và những người tham gia leo núi tìm đến với “mầm đá”.

Nguyễn Công Thành - một thành viên trong nhóm leo núi ở TP.HCM cho hay: “Đây là lần thứ ba chúng tôi vượt Phan Xi Păng, anh em trong nhóm tìm ăn “mầm đá” để nhanh lại sức. Không biết có bổ béo gì không nhưng ăn vào thấy người khoan khoái hẳn…” - Thành nói chắc như đinh đóng cột.

Anh bạn người bản địa nghe xong cũng góp lời: “Thế mới gọi là “đệ nhất món”, ở Sa Pa không phải quán nào cũng có “mầm đá” đâu, mà có rồi cũng chưa chắc đã biết chế biến. Nhưng giá cả món này hơi đắt đấy, đừng tưởng rau mà rẻ…”.

Nói chưa dứt lời, cô gái phục vụ bàn xinh đẹp người Mông mang hóa đơn ra: 220 nghìn cho một đĩa “mầm đá” xào đủ cho 4 thực khách gắp mỗi người 3 miếng. Cứ thế nhân lên, một bàn 4 người thì chi phí lên tới hàng triệu đồng tiền rau cho một bữa ăn “mầm đá”.

Cô gái giải thích: “Mầm đá” rất hiếm, bọn em phải đặt hàng trước cả tuần mới có. Hơn nữa, bọn em chế biến cũng cầu kỳ, riêng củi đốt bằng gỗ pơmu cũng đã tiêu tốn bao nhiêu tiền rồi. Nhiều khách kêu đắt nhưng tính ra bọn em lãi cũng chẳng là bao…”.

Đi tìm nguồn gốc “mầm đá”

Theo thông tin từ một người Dao đỏ xã Tả Phìn, chúng tôi men theo con đường nhỏ cách thị trấn Sa Pa hơn 20 cây số đường núi để đến với bản Cát Cát. Nghe người Dao đỏ kia nói, ở đó có nhà trồng được “mầm đá”, số lượng không nhiều nhưng đúng thực là rau “mầm đá” bán trong nhà hàng ở thị trấn.

Sau một hồi hỏi thăm, chúng tôi đến được nhà anh Vù Siu Quảng, người dân tộc Mông. Anh Quảng cho biết, cũng chẳng biết đó là rau gì, chỉ thấy lúc rau non thì lá xanh mơn mởn, khi già thì tự nhiên lá rụng hết để lại những cái cuống khá to bám quanh thân cây.

Năm 2000 trong lần đi rừng hái thuốc, anh Quảng thấy mấy cây rau rất kỳ lạ liền đem về trồng ở ven đường. Mấy tháng sau thấy cây rau ấy có hình nhọn hoắt rất đẹp mắt và quanh đó là những mầm non đang đâm chồi. Anh Quảng liền đem vào bếp, sẵn có mỡ lợn và ít củi gỗ pơmu sót lại anh chế biến thành món đặc sản mà giờ đây người thị trấn gọi là “mầm đá”.

Anh Quảng cho hay, uống rượu với “mầm đá” không bao giờ bị say. Cái rau kỳ lạ này giải được rượu, nó là thuốc nên giờ ta không bán nữa. Rau “mầm đá” dưới thị trấn không phải rau của ta đâu, rau họ mua từ bên Trung Quốc về nhưng cũng hiếm lắm. 

Có lẽ vì cái sự hiếm của rau “mầm đá” nên khá nhiều lái buôn lặn lội lên nhà Quảng đặt mua. Quảng không bán nên có đêm bị trộm vào “dọn” sạch cả vườn. Cũng may, những cái rễ “mầm đá” còn sót lại đã cho Quảng tiếp tục được sở hữu khoảnh “mầm đá” nhỏ bé như bây giờ. 

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

Thơm ngon thịt lợn sấy Văn Bàn

Nhiều năm nay, một sạp hàng nhỏ chuyên bán thịt lợn sấy khiến nhiều người không thể bỏ qua khi đến mua sắm tại chợ huyện Văn Bàn.
Sạp hàng nằm trong một góc nhỏ của chợ nhưng luôn được nhiều khách hàng tìm đến. Đó là quầy hàng của bà Sầm Thị Nghịch, ở thôn Noong Khuấn, xã Khánh Yên Trung (huyện Văn Bàn). Mỗi ngày, bà Nghịch chuyển khoảng chục kg thịt lợn sấy đi hơn 10 km lên chợ huyện bán. Chúng tôi không chỉ được thưởng thức một món ăn đặc sản và hiểu thêm về cách chế biến, mà còn được bà Nghịch chia sẻ bí quyết để nhận biết thịt lợn ngon.
Sạp bán thịt lợn sấy của bà Nghịch tại chợ Văn Bàn.
Bà Nghịch cho biết: Thịt thăn, nạc của lợn đen bản địa sẽ cho những thớ thịt ngon. Thịt được vạc hết mỡ, sau đó thái theo kích thước bằng nhau rồi tẩm gia vị. Cách chọn gia vị và tẩm ướp cũng quyết định chất lượng thịt. Gia vị gồm muối, bột ngọt, ớt và quan trọng là phải có hạt xẻn. Để thịt thêm ngọt, bà tẩm thêm chút nước mía nguyên chất.
Qua nhiều năm làm thịt lợn sấy, bà Nghịch đã đúc rút ra kinh nghiệm: Nếu lợn nuôi nhiều thức ăn tăng trọng, sau 2 tiếng tẩm ướp gia vị, miếng thịt sẽ trắng bợt, thớ thịt nhão, không chắc khi treo lên gác bếp. Còn với thịt lợn sề, sau khi tẩm ướp gia vị, thịt sẽ đen như thịt trâu. Chỉ có những thớ thịt của lợn khỏe, lợn ngon, sau khi tẩm ướp gia vị, thớ thịt mới chắc và có màu đỏ.
Sau khi thịt tẩm ướp và ngấm gia vị sẽ được treo lên gác bếp. Trong 2 ngày, bếp lửa để sấy thịt phải luôn cháy đều, củi đun phải dùng củi chắc. Thịt được sấy sẽ bắt đầu khô và săn lại, thớ thịt có màu đỏ đậm, đến ngày thứ 3 sẽ hạ sàn treo. Than đỏ được bới ra, dàn đều trên bếp, thịt lợn sấy khô được hạ thấp, nướng qua trên than hồng, đến buổi trưa là có thể mang bán.
Chợt nhìn, mặt ngoài miếng thịt lợn sấy có màu nâu thẫm, nhưng khi xé ra ăn, thịt có màu đỏ. Miếng thịt lợn sấy ngon có mùi khói đặc trưng, dai cay và thơm. Thịt lợn sấy sau khi hạ sàn đã được nướng chín có thể ăn ngay, nếu muốn thịt mềm hơn và thích ăn nóng có thể hấp hoặc nướng lại.
Trung bình khoảng 30 kg thịt tươi, bà Nghịch sẽ sấy được 10 kg thịt khô và bán với giá dao động từ 300.000 đến 400.000 đồng/kg tùy từng thời điểm. Thịt lợn sấy của gia đình bà Nghịch thường xuyên được khách hàng ở các tỉnh, thành phố trong nước đặt mua. Sạp hàng tại chợ Văn Bàn của gia đình bà trở nên quen thuộc với nhiều người.
HOÀNG THU

Ngon lạ hương vị bánh chuối của người Tày

LCĐT - Bánh chuối từ lâu là món ăn ngon, lạ miệng của người Tày Văn Bàn. Đây cũng là món đặc sản được dâng cúng tổ tiên trong ngày rằm hoặc tiếp đãi khách.
Đến thăm gia đình bà Hoàng Thị Quản ở thôn Làn 1, xã Khánh Yên Trung (Văn Bàn) đúng lúc bà vừa hoàn thành mẻ bánh chuối để chuẩn bị dâng cúng tổ tiên. Tiếp đãi khách bằng những chiếc bánh còn nóng hổi, thơm mùi chuối khô, bà Quản cho biết: Bánh chuối là đặc sản của dân tộc Tày, thường được người dân làm vào các ngày rằm của tháng 3, 5, 7 âm lịch. Dân tộc Tày ở mỗi vùng trong huyện có cách làm bánh chuối khác nhau và mang hương vị, đặc trưng từng vùng.
Bà Quản bày mẻ bánh chuối còn nóng hổi.
Bánh chuối được gói thành cặp, sử dụng lá chuối khô để bọc. Nhìn những chiếc bánh được gói tỉ mỉ, gọn gàng có thể thấy sự khéo léo, đảm đang của các bà, các cô. Để làm một cặp bánh chuối phải trải qua những công đoạn khá cầu kỳ. Chiếc bánh chuối được làm từ các nguyên liệu: Chuối, bột gạo nếp. Chuối chín, thường là chuối tiêu đã bóc vỏ, phơi nắng cho đến khi khô, được gói kỹ bằng giấy báo hoặc lá chuối khô, để lên gác bếp, khi cần dùng dần.
Khi làm bánh, chuối khô được rửa sạch bằng nước ấm, sau đó đem đun sôi đến khi chuối mềm, rồi giã nhuyễn. Bột làm bánh được nghiền từ gạo nếp ngon do người dân tự trồng. Trước khi đem nghiền, gạo phải ngâm qua nước, sẽ cho bột nếp mịn và bánh ngon hơn. Bột nếp nhào với chuối đã giã nhuyễn, nặn thành quả bánh tròn, nhỏ. Đặc biệt, bánh chuối không cần thêm bất cứ gia vị hay loại nhân nào. Lá để gói bánh là lá chuối. Quả bánh được gói thành cặp bằng lá chuối, rồi đem hấp.
Bánh chuối có màu nâu nhạt, vị ngọt nhẹ, thơm. Bóc bánh mời chúng tôi ăn thử, bà Quản chia sẻ: Đây là sản phẩm không thể thiếu trong mâm lễ cúng tổ tiên của dân tộc Tày Văn Bàn dịp ngày rằm. Bánh ăn ngon, không ngấy, lại để được lâu hơn những loại bánh khác nên khi khách đến chơi, chúng tôi vẫn thường biếu cặp bánh chuối về làm quà.
Mặc dù ngày nay, trên mâm cỗ cúng rằm của người Tày ở Văn Bàn đã xuất hiện nhiều loại bánh mới, nhưng những cặp bánh chuối cổ truyền vẫn là món ăn quý, không thể thiếu mà con cháu dâng cúng tổ tiên để thể hiện sự kính trọng, hiếu thảo. Bánh chuối đã trở thành nét ẩm thực đặc sắc của người dân nơi đây.
THU HOÀNG

Hương vị mùa thu trên “Cao nguyên trắng” Bắc Hà

LCĐT - Đặc sản cốm Na Lo do đồng bào dân tộc Tày thôn Na Lo, xã Tà Chải, huyện Bắc Hà làm ra từ hạt lúa nếp giống địa phương có hương vị thơm ngon đặc biệt, khiến du khách đến với “Cao nguyên trắng” vào mùa thu đều muốn được thưởng thức.
Thôn Na Lo nằm cách trung tâm thị trấn Bắc Hà khoảng 3 km.
Từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, người dân thôn Na Lo bắt tay vào nghề làm cốm truyền thống.
Nguyên liệu lúa nếp làm cốm được người dân thu hái trên cánh đồng ruộng bậc thang có độ cao hơn 1.500 m so với mực nước biển.
Quy trình làm cốm tại nhà bắt đầu từ khâu đập, tách hạt thóc ra khỏi bông lúa.
Rang thóc nếp trên bếp củi.
Thóc được giã thủ công.
Sàng sảy tách vỏ trấu để lấy hạt cốm.
Đặc sản Cốm Na Lo được gói bằng lá dong để giữ hương vị thơm ngon.
PHẠM KHÁNH

Na Lo ngát hương mùa cốm


LCĐT - Mỗi độ thu sang, khi những bông lúa hạt mẩy căng sữa chờ ngày chín cũng là lúc thôn Na Lo, xã Tà Chải, huyện Bắc Hà rộn ràng vào mùa làm cốm.
Vừa nhanh tay gói cốm cho khách, chị Phạm Thị Khuyên ở thôn Na Lo vừa tâm sự: Hơn 1 tuần trở lại đây, nhà nhà ở Na Lo tất bật lên nương cắt từng bông lúa nếp, mang về tuốt hạt làm cốm. Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để làm.
Cốm là món quà không thể thiếu khi du khách đến Bắc Hà.
Qua tìm hiểu, tôi được biết, nguyên liệu để làm cốm là thóc nếp đặc sản của địa phương, được trồng trên nương, hạt căng mẩy và thơm nức. Khi những bông lúa uốn câu, hạt căng sữa cũng là lúc người dân Na Lo bước vào vụ thu hoạch. Bông lúa được cắt về, tuốt và sàng kỹ, sau đó đem rang, xát bỏ vỏ rồi giã đều. Để có được hạt cốm xanh ngắt, dẻo thơm, ngọt ngào, người dân Na Lo phải thức dậy từ 4 giờ giã cốm, để khi mặt trời mọc là có được thúng cốm mang ra chợ.
Trước đây, để mừng thành quả của những tháng ngày “một nắng hai sương” vất vả, đón một mùa vụ bội thu, người ta tổ chức lễ ăn mừng cơm mới. Cũng vì thế, món cốm ra đời được làm món ăn trong lễ cúng… Ngày nay, món ăn truyền thống ấy trở thành thứ quà hấp dẫn mỗi khi đến vùng cao Bắc Hà vào tiết thu chớm lạnh. Chị Phạm Thị Khuyên cho biết: Không nức tiếng như cốm làng Vòng truyền thống ở đất Hà Thành, nhưng cốm Na Lo cũng được xem là món ăn truyền thống, đặc sắc của đồng bào Tày nơi đây.
Do là đầu mùa, nên giá cốm khá cao, từ 100.000  - 120.000 đồng/kg. “Nói là được giá, nhưng để làm được mẻ cốm khoảng 10 kg, phải cần 4 - 5 lao động, làm việc liên tục trong 7 tiếng. Có những lúc, đến bữa ăn, chúng tôi phải thay phiên nhau để đảm bảo các công đoạn làm cốm không bị gián đoạn. Nói thật, làm cốm vất vả lắm, nhưng đó là nghề truyền thống, nên không bỏ được”, chị Khuyên cho hay.
Trong ngôi nhà sàn của người Tày, bên bếp lửa hồng, cô gái Tày tươi cười, đều tay rang thóc chuẩn bị cho ra lò những mẻ cốm mới. Hương cốm dìu dịu trong mỗi nếp nhà ở vùng đất Na Lo theo những bước chân vội vã ra phố huyện làm quà cho du khách.
MINH HÀ

Bánh mì nướng dầu hào xứ Lạng ở thành phố Lào Cai

LCĐT - Đã từ lâu, khi nhắc đến Lạng Sơn, nhiều người nghĩ ngay tới những món ăn chế biến từ thịt lợn, thịt vịt nướng hay rượu Mẫu Sơn trứ danh. Giờ đây, xứ Lạng còn có món bánh mì nướng dầu hào đặc biệt với hương vị thơm ngon, hấp dẫn và ấn tượng.
Ghé qua tiệm Bư’s Food nằm trên đường Trần Nhật Duật, thành phố Lào Cai, chúng tôi được chị Nguyễn Thị Thu Hương, chủ quán giới thiệu món bánh mì nướng dầu hào - món ăn có nguồn gốc từ Lạng Sơn. Chị Hương bảo bánh mì là món ăn phổ biến nhưng mỗi nơi có cách thức chế biến khác nhau, tạo thành hương vị riêng. Người dân xứ Lạng có những sáng tạo riêng trong cách chế biến bánh mì và giờ đây được phổ biến vượt ra khỏi ranh giới của một tỉnh.
Món bánh mì nướng dầu hào Lạng Sơn.
Bánh mì được sử dụng nướng dầu hào là loại ruột đặc và khi nướng bánh cần có 2 công đoạn. Ban đầu là phết dầu nướng cho nóng, sau đó sẽ phết hỗn hợp dầu hào, mật ong để nướng lại lần hai. Thực khách muốn ăn bánh giòn hay mềm đều có thể điều chỉnh theo yêu cầu. Thời gian nướng bánh từ 5 đến 10 phút, sau đó bánh được cắt thành từng miếng nhỏ sao cho vừa miệng. Những miếng bánh mì giòn tan, mang vị bùi của dầu hào được ăn kèm với thịt lợn xiên nướng, họng hoặc dạ dày lợn nướng… thêm chút nước chấm sền sệt độc đáo của xứ Lạng sẽ khiến khách muốn trở lại ngay sau khi được thưởng thức lần đầu.
Điều đặc biệt của món bánh mì nướng dầu hào còn được thể hiện qua cách pha nước chấm có tính “bí quyết” của từng cửa hàng. Chị Hương bật mí rằng mỗi nhà hàng đều có công thức riêng nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc của món này là đủ vị cay của tương ớt, vị chua của me, quất, vị thanh, ngọt của đường thốt nốt và trộn với rau răm…
Anh Nguyễn Tiến Cường, một thực khách ở phường Kim Tân, thành phố Lào Cai đã phải thốt lên “rất tuyệt” khi thưởng thức món này lần đầu. Anh bảo, chắc chắn mình sẽ trở lại quán này vì anh vốn yêu thích bánh mì nhưng giờ đây mới tìm được nơi có cách chế biến hợp khẩu vị của mình đến thế. Điều đáng nói là ở cơ sở Bư’s Food, giá một suất bánh kèm thịt nướng chỉ từ 25.000 đến 30.000 đồng.
Còn chúng tôi đã hiểu vì sao món ăn này lại có thể “di thực” từ xứ Lạng về đây mà vẫn có đông thực khách thưởng thức hằng ngày.
KIỀU THU

Bánh nhọn của người Dao đỏ ở Bản Khoang

LCĐT - Bánh nhọn là món ăn ngon, độc đáo của người Dao ở Bản Khoang (huyện Sa Pa), được làm cả 4 mùa trong năm để dâng cúng tổ tiên và sử dụng dịp lễ hoặc tiếp khách.
Chúng tôi đến gia đình ông Đặng Phúc Chiêu ở xã Bản Khoang vào một buổi chiều cuối thu, đúng lúc ông vừa luộc xong nồi bánh nhọn để dâng cúng tổ tiên. Lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy bánh nhọn được gói bằng lá chít. Thấy ánh mắt hiếu kỳ của chúng tôi, ông Chiêu chậm rãi cho biết: Bánh nhọn thực chất là bánh chưng được làm từ gạo nếp nương hoặc nếp ruộng và dùng lá chít hay lá dong, lá chuối để gói tùy theo dòng họ, ví như họ Đặng gói bằng lá chít, họ Chảo lại gói bằng lá dong… Nếu gói bánh dâng cúng tổ tiên thì không trộn tro đen, không cho nhân, còn làm bánh để ăn thì người Dao đỏ thường cho nhân thịt treo ướp gia vị để tạo mùi thơm hoặc trộn gạo với tro lúa nếp để làm bánh màu đen. Bánh chín ăn ngon, đậm đà hương vị của hạt thảo quả, có màu đen, vị thơm hương lúa.
Bánh nhọn - món ăn truyền thống của người Dao đỏ ở Bản Khoang (Sa Pa).
Để làm bánh, người Dao đỏ ngâm gạo nếp qua đêm đến sáng, rửa 1 - 2 lần nước sạch rồi cho vào giá để khô nước, sau đó gói bánh. Lá chít lấy ở rừng, người ta chọn lá bánh tẻ, không lấy lá quá già hoặc quá non vì lá già bị giòn còn lá non mỏng khó gói bánh. Nếu làm bánh nhọn đen phải dùng rơm nếp đốt thành tro, dùng sàng lọc lấy bột tro đem trộn đều với gạo nếp để có màu đen đều. Khi gói, lá chít được rửa sạch bằng nước nguồn.
Nếu gói bánh nhọn để dâng cúng tổ tiên, người Dao đỏ ở Bản Khoang phải cho con trai gói, còn nếu gói ăn và tiếp khách thì phụ nữ gói. Người gói lấy lá chít cuốn thành hình phễu, dùng tay bốc khoảng hai nắm gạo cho vào cùng nhân thịt, tiếp tục lấy một nắm gạo phủ lên trên, sau đó gập hai đầu, bịt kín không cho gạo rơi ra ngoài rồi dùng dây lạt buộc bánh, tạo thành chiếc bánh giống hình con ốc nhọn. Sau đó, người làm buộc thành từng túm bánh, mỗi túm khoảng 5 - 6 chiếc bánh để khi chín vớt ra cho dễ và nhanh. Bánh gói xong được cho vào nồi luộc, khoảng 3 giờ thì vớt ra để nguội rồi ăn. Nếu gói bánh dâng cúng thì lấy 5 chiếc đối với họ Chảo, 7 chiếc đối với họ Tẩn (Đặng)…
Bánh nhọn sau khi luộc chín, màu vỏ lá gói bên ngoài ngả sang màu vàng, khi ăn, có thể dùng dây lạt gói bánh cắt lát thành từng miếng hoặc để nguyên chiếc. Bánh nhọn đen khi chín có màu đen, hạt gạo dền đều xếp dính vào nhau, ăn có vị thơm của gạo nếp, mùi thơm của thịt và dậy mùi thơm của thảo quả có tính nóng làm ấm bụng. Đối với bánh dâng cúng tổ tiên, khi cúng xong mang xuống ăn, người ta thường chấm với mật đường hoặc ăn không đều rất ngon, đặc biệt có thể cảm nhận được mùi vị của lá chít.
Ông Chiêu bóc bánh mời chúng tôi ăn và cho biết thêm: Bánh nhọn này có thể để được mấy ngày, đảm bảo ăn vẫn mềm và dẻo. Đây là đặc sản của người Dao đỏ Bản Khoang đấy!
NGUYỄN NGỌC THANH

Ðộc đáo chõ đồ xôi của đồng bào Giáy

LCĐT - Từ lâu, chiếc chõ đồ xôi là vật dụng không thể thiếu trong mỗi nếp nhà của đồng bào dân tộc Giáy.
Qua lời giới thiệu của bà Nông Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND xã Hợp Thành (thành phố Lào Cai), chúng tôi tìm đến nhà ông Vi Văn Hò, 64 tuổi ở thôn Kíp Tước 1, xã Hợp Thành - người duy nhất trong xã còn gắn bó với nghề làm chõ đồ xôi bằng gỗ. Nghề này không chỉ giúp gia đình ông có thêm thu nhập mà còn góp phần gìn giữ nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực của dân tộc Giáy. Vừa đến đầu ngõ, chúng tôi đã nghe thấy âm thanh lộc cộc của chiếc dìu đục gỗ phát ra từ nhà ông Hò. Từ khúc gỗ sần sùi, ông Hò tỉ mẩn, kiên trì dùi mài, gọt đẽo thành chiếc chõ đồ xôi có thân “bóng bẩy”, trông khá đẹp mắt. Với kinh nghiệm 14 năm làm chõ đồ xôi, ông Hò chia sẻ: Làm chõ đồ xôi rất cầu kỳ và mất nhiều công sức, trong đó, 2 khâu quan trọng nhất là chọn gỗ và làm khuôn chõ.
Ông Vi Văn Hò đục khúc gỗ để làm chõ đồ xôi.
Để chiếc chõ đồ xôi bền và chịu được nhiệt tốt, không bị nứt, ông Hò sử dụng gỗ cơi hoặc gỗ hông làm thân chõ. Đây là những loại gỗ có tính lành, không ảnh hưởng tới sức khỏe người dùng. Ngoài ra, còn phải chọn những cây gỗ có thân tròn, kích thước không quá to hoặc quá nhỏ, khi đục khuôn chõ sẽ dễ hơn và không bị vỡ. Khó nhất là công đoạn làm nhẵn hông chõ, nếu không làm nhẵn bề mặt thân chõ, khi nấu xôi sẽ bị dính vào chõ. Bước cuối cùng là làm giá đỡ chõ. Ông Hò phải đan tấm ngăn để làm đáy chõ.
Trong căn nhà của gia đình ông Hò, những chiếc chõ đồ xôi gỗ với đủ kích thước lớn nhỏ được sắp xếp gọn gàng. Cái nhỏ nhất có giá 150 nghìn đồng, cái lớn hơn có giá từ 350 đến 500 nghìn đồng. Tranh thủ những lúc nông nhàn, ông Hò lên rừng tìm gỗ, rồi về nhà làm chõ đồ xôi mang ra trung tâm xã và các chợ trong thành phố bán. Ông tâm sự: Trước đây, mỗi năm tôi bán được khoảng 130 chiếc chõ, nhưng bây giờ thì không được nhiều vì người ta chọn mua chõ inox, nhôm do giá thành rẻ hơn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của người dân ở đây thì xôi được nấu từ chõ gỗ sẽ dẻo, chín đều, có mùi thơm hơn và để được lâu hơn.
Không kể thời gian đi tìm gỗ, rồi đem về cắt, gọt, ông Hò phải mất tới 2 ngày mới hoàn thành 1 chiếc chõ gỗ. Mặc dù làm chõ xôi đòi hỏi nhiều công sức và độ kiên trì nhưng hằng ngày, ông vẫn miệt mài làm ra những chiếc chõ đồ xôi truyền thống. Ông Hò bảo: Nếu có người muốn học nghề thì tôi sẵn sàng dạy. Tôi muốn gìn giữ nghề làm chõ xôi gỗ để ngày càng có nhiều người biết đến xôi ngũ sắc - một món ăn đậm bản sắc của đồng bào dân tộc vùng cao.
TÂM ANH

Ngọt thơm bánh bỏng của người Giáy

LCĐT - Ẩm thực của mỗi dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đều phong phú và chứa đựng những nét văn hóa độc đáo, trong đó có những món bánh truyền thống không thể thiếu trong các dịp lễ, tết. Một số món bánh nổi tiếng như bánh khúc của người Nùng, bánh khoải của người Bố Y, bánh giầy của người Mông, bánh chưng đen của người Tày… và không thể không kể đến món bánh bỏng của người Giáy.
Vào tầm 25, 26 tháng Chạp, người Giáy ở các huyện: Mường Khương, Bát Xát, Bảo Yên lại bắt tay vào làm món bánh bỏng truyền thống chuẩn bị cho tiệc tất niên và những ngày Tết Nguyên đán. Đối với người Giáy, dù giàu hay nghèo, ngày tết có món bánh bỏng là vui, là đủ đầy.
Món bánh bỏng được làm rất kỳ công.
Những công đoạn làm nên chiếc bánh bỏng không hề đơn giản. Các bà, các mẹ chọn loại gạo nếp ngon nhất, hạt tròn, đều rồi đem ngâm qua đêm cho gạo nở, sau đó, vớt ra, để ráo nước, trộn với nước mỡ và đem đồ chín thành xôi. Khi xôi nguội, người chế biến rắc bột lên, trộn đều để các hạt gạo tách rời nhau. Hạt nếp được ép mỏng dẹt rồi sắp lên những chiếc mẹt tre để phơi khô, gói cất cẩn thận. Khi làm bánh, xôi nếp được lấy ra, rang lên; những hạt nếp phồng nổ lép bép đủ lửa được trộn với đường phên làm từ mật mía có thêm nước cốt gừng. Bánh bỏng vàng ruộm, giòn, thơm được sắp vào khuôn gỗ rồi được cắt khéo léo bằng dao sắc thành những chiếc bánh bỏng nhỏ.
Những chiếc bánh bỏng đầu tiên được thành kính dâng cúng tổ tiên. Đám trẻ vui mừng, thích thú đợi bố, mẹ chia phần; người lớn cũng cùng nhau thưởng thức món bánh bỏng thơm ngon bên bếp lửa hồng bập bùng. Phần bánh còn lại sẽ được cất trong túi nilon, buộc kín để giữ độ giòn.
Nếu đã một lần thưởng thức món bánh bỏng của người Giáy, hầu như ai cũng đều yêu thích. Bởi vậy, hiện nay người Giáy không chỉ làm bánh bỏng trong những ngày tết, ngày có việc vui, mà còn làm để bán ở các buổi chợ phiên phục vụ nhu cầu thưởng thức của người dân trong vùng và có thêm thu nhập. Những cô, những chị người Giáy không giữ “bí quyết” làm bánh bỏng, họ sẵn sàng chia sẻ với những ai muốn học, đó là cách để phổ biến, giới thiệu nét đẹp văn hóa ẩm thực của dân tộc mình. Vì thế, không lạ khi du khách lên Lào Cai thấy những hộ người Kinh, người Nùng, người Mông cũng có thể làm thành công những chiếc bánh bỏng ngon.
PHƯƠNG THẢO

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

Đặc sản Sa Pa không nên bỏ lỡ

Nếu nhóm bạn đã lên kế hoạch đi Sa Pa dịp Tết Dương lịch này, đừng quên ghé thưởng thức những món đặc sản ngon nổi tiếng kẻo về lại thương nhớ cuộc vui tại thành phố trong sương.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 1
Đồ nướng Sa Pa: Nếu bạn biết chọn quán ăn và chọn món, giá sẽ luôn hợp lý và hương vị tuyệt ngon. Gần khu vực nhà thờ và quảng trường, bạn sẽ dễ dàng nhận ra khu ẩm thực nhờ mùi thơm nức mũi của những quầy hàng nướng quanh đây. Ảnh: Hanghihi1410.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 4
Lẩu cá hồi, cá tầm: Những nồi lẩu không thể không nếm thử cùng nhóm bạn thân, gia đình khi đến Sa Pa. Nơi đây có nhiều trang trại nuôi cá hồi nên nguyên liệu luôn tươi mới, thịt cá chắc. Nước lẩu cá hồi/cá tầm ở Sa Pa được nấu từ nhiều loại rau củ, thảo mộc ở vùng cao tạo độ thanh, ngọt và thơm không nơi đâu có được. Ảnh: Linnhhh.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 5
Mỗi nồi lẩu cá sẽ ăn kèm nấm kim châm, rau cải mèo đặc sản, cải cúc, khoai, sườn sụn, thịt bò… Mức giá cho mỗi nồi lẩu cá dùng cho 4 người ăn đảm bảo no dao động khoảng 600.000 đồng. Những nhà hàng ngon du khách đến Sapa thường ghé ăn là nhà hàng Hồng Long, nhà hàng Lotus Sa Pa, nhà hàng Quỳnh Anh, nhà hàng Hoa Đào… Ảnh: Meodien.instafood.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 6
Lợn cắp nách: Một trong những món ăn đặc sản tại xứ lạnh vùng cao Sa Pa. Sở dĩ, món ăn này có tên gọi như vậy do từ xưa, người dân nơi đây thường kiếm tiền bươn chải bằng việc bán lợn trong nhà và mỗi khi đem ra chợ, họ thường kẹp lợn vào… nách. Món thịt lợn có ăn kèm nước sốt tuyệt ngon. Ảnh: AirTravelling.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 7
Thịt lợn trước khi đem nướng/quay nguyên con sẽ được làm sạch, tẩm ướp vừa miệng. Do đó, mỗi miếng thịt ngọt mềm sẽ kèm theo miếng bì giòn tan. Người dân Sa Pa thường nhâm nhi thịt nướng cùng rượu táo mèo để giữ ấm. Địa chỉ cho bạn tham khảo ăn lợn mẹt 7 món là quán lợn mẹt Sa Pa 419 Điện Biên Phủ, lợn mẹt Dũng Long, lợn mẹt bản Phong quán… Ảnh: Loholofo.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 8
Xúc xích, lạp xưởng hun khói: Nguồn nguyên liệu từ thịt lợn tươi ngon khiến mỗi gia đình người dân ở Sa Pa sáng tạo thêm các món lai rai hợp nhắm rượu. Xúc xích thịt lợn các gia đình sẽ tự làm và hong khói trong bếp, tương tự với lạp xưởng. Ảnh: Mynh.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 9
Mỗi dịp xuân về, hai đặc sản này tại vùng cao là thức quà biếu phổ biến mỗi gia đình vẫn dành tặng nhau ăn ngày Tết. Thịt lợn nửa nạc nửa mỡ sau khi thái miếng nhỏ sẽ được ướp rượu, nước gừng và một số gia vị đặc trưng. Bạn có thể tìm thấy hai món ăn trên tại những quán xiên nướng ven đường hoặc ngoài chợ, nhiều nhà hàng ngay trung tâm thị trấn. Ảnh: Lapsuon.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 10
Thắng cố: Đặc sản vùng núi Tây Bắc không phải thực khách nào cũng dám thử qua là thắng cố. Thắng cố được nấu từ mọi thành phần của ngựa cùng 12 gia vị truyền thống khác của dân tộc vùng cao. Người dân vùng núi luôn tự hào về món ăn đậm chất riêng của họ. Ảnh: Duyhung252.
Dac san Sa Pa khong nen bo lo khi di choi Tet Duong lich hinh anh 11
Hiện, người dân Sa Pa đã có nhiều cải tiến trong việc nấu thắng cố để ra những phiên bản mới ăn kèm thịt trâu, thịt bò cùng những công thức khác nhau cho hợp vị du khách. Bạn có thể dùng thử đặc sản nổi tiếng này tại nhà hàng A Phủ - 12 Fansipan, thắng cố A Quỳnh - 15 Thạch Sơn. Ảnh: 2309.va.
Phương Hà