Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Hòa Bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Hòa Bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2019

Ăn con đặc sản “nhơn nhớt”: Giòn, ngon, lạ khiến thực khách mê mẩn

Đặc sản ốc núi đá hay còn được người dân địa phương gọi vui là con “nhơn nhớt”. Đồng bào dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thường chế biến ốc núi đá thành nhiều món ăn đặc sản vô cùng hấp dẫn, khiến nhiều thực khách nếm thử đều tấm tắc khen ngon, bởi hương vị đặc trưng và độ giòn, ngon, lạ của loại ốc này.


Ốc núi đá thường xuất hiện từ tháng 4 đến hết tháng 8 dương lịch, tức là vào mùa mưa, khi thời tiết ẩm ướt. Những tháng còn lại chúng vùi mình dưới đất, trong các khe đá hoặc các lớp lá dày.
Thức ăn chính của loại ốc đặc sản này là những cây cỏ mọc hoang trên núi, trong đó có cả những cây thuốc quý. Đồng bào dân tộc Thái ở huyện Mai Châu thường lên rừng săn bắt ốc núi đá về chế biến thành nhiều món ăn vô cùng hấp dẫn như: Luộc, xào lá lốt, hấp gừng, hấp xả, xào sả ớt, trộn gỏi...  Nhưng món ăn được đồng bào Thái ưa thích và chế biến nhiều nhất vẫn là món ốc hấp xả.
Ăn con đặc sản “nhơn nhớt”: Giòn, ngon, lạ khiến thực khách mê mẩn - 1
Món ốc núi đá hấp xả được rất nhiều thực khách  đam mê ẩm thực dân dã lựa chọn thưởng thức.
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử DANVIET.VN, chị Hà Thị Hạnh, sinh sống ở bản Lác (thị trấn Mai Châu,huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) cho biết: "Tôi làm nghề săn bắt ốc núi đá nhiều năm nay rồi. Loài ốc này cực hiếm vì chúng chỉ sống trong các hang đá, phải đến mùa mưa, ốc mới bò ra ngoài tìm kiếm thức ăn và sinh sản. Ốc núi đá  xuất hiện hầu hết các cánh rừng của huyện Mai Châu, thường tập trung nhiều nhất ở các cánh rừng rậm, nhiều cây cối, ẩm thấp".
Để săn bắt được nhiều ốc, "thợ săn" thường phải dậy từ sáng sớm lên các khu rừng ở xã Cun Pheo, Tân Mai, Tân Dân (huyện Mai Châu) săn bắt mang về chế biến các món ăn phục vụ gia đình. Nếu bắt được nhiều, họ sẽ mang ra chợ Trung tâm bán cho các nhà hàng và Homestay để kiếm thêm thu nhập cho gia đình.
Ăn con đặc sản “nhơn nhớt”: Giòn, ngon, lạ khiến thực khách mê mẩn - 2
 Những hôm săn bắt được nhiều ốc núi đá, chị Hà Thị Hạnh mang ra chợ Trung tâm huyện bán kiếm thêm thu nhập.
Nhiều du khách thập phương khi đặt chân đến huyện Mai Châu tham quan, trải nghiệm đều tò mò với món ăn được làm từ ốc núi đá. Tuy nhiên, cũng không ít thực khách lắc đầu e rè, kinh hãi trước món ăn này, do nghĩ rằng đây là một loài động vật thân mềm có chất nhầy rất kinh dị tạo cho con người ta cảm giác sợ hãi. Nhưng khi đã được tận mắt chứng kiến cách chế biến món ốc hấp xả núi đá, thực khách sẽ mong muốn được nếm thử ngay lập tức, bởi khi hấp ốc núi đá trên bếp lửa, sẽ tỏa ra mùi thơm ngon, hương vị giòn tan khó cưỡng... làm bất cứ thực khách nào cũng không thể chối từ.
Ăn con đặc sản “nhơn nhớt”: Giòn, ngon, lạ khiến thực khách mê mẩn - 3
Hiện ốc núi đá được nhiều nhà hàng và các chủ Homestay ở huyện Mai Châu (Hòa Bình) mua với giá 50.000/1kg, để làm các món ăn cho khách du lịch.
Theo chị Hà Thị Hạnh sinh sống ở bản Lác: Cách chế biến món ốc núi đá hấp xả rất đơn giản, khi bắt từ rừng về chúng ta rửa qua lớp đất bám trên vỏ ốc bằng nước sạch, không cần ngâm kỹ trong nước như các loại ốc khác mà chỉ rửa sơ qua để giữ lại chất dinh dưỡng. Vì thức ăn chính của loại ốc này là những cây cỏ mọc hoang trên núi, trong đó có cả những cây thuốc quý. Sau khi rửa xong, chúng ta đổ ốc và 1 ít nước cùng các gia vị như: Muối, mì chính, ớt, xả... băm nhỏ cho vào nồi đảo đều, rồi hấp. Khoảng hơn 35 phút sau, chúng ta sẽ có món ốc núi đá hấp xả thơm ngon và hấp dẫn.
Ăn con đặc sản “nhơn nhớt”: Giòn, ngon, lạ khiến thực khách mê mẩn - 4
Thực khách nào mới thưởng thức lần đầu sẽ thấy ghê dợn, nhưng khi đã ăn rồi sẽ không ngừng cầm đũa.
Nếu như trước kia ít người biết đến món ốc núi đá, thì giờ đây món ốc núi đã trở thành lựa chọn của rất nhiều thực khách, nhất là dân nhậu đam mê ẩm thực dân tộc dân dã. Thịt ốc núi dai, giòn, ngọt. Khi ăn ốc núi nên ăn cả con không cần bỏ ruột, lúc ăn nhai chậm và kỹ mới cảm nhận được vị mát lành, thơm mùi thuốc Bắc. Có lẽ chính cái vị ngọt thanh, chút hương lá rừng là lạ đã làm thực khách mê mẩn với món đặc sản ốc núi đá này.
Trò chuyện với phóng viên Báo Điện tử DANVIET.VN, anh Nguyễn Đức Minh, tổ 2, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu bày tỏ: "Tôi rất thích các món ăn chế biến từ ốc núi đá, bởi hương vị của ốc rất lạ và thơm ngon hơn các loài ốc khác. Mùa mưa này tôi còn được thưởng thức nhiều, khi qua mùa mưa thì muốn ăn cũng không có chỗ mà mua, vì loại ốc này hiếm và quý lắm, nó chỉ xuất hiện theo mùa thôi".
Theo Hà Hoàng (Dân Việt)

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2019

Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình

Hòa Bình là nơi có nhiều món ăn đậm đà hương vị Tây Bắc, khiến thực khách thích mê mệt quên cả lối về

Măng chua nấu thịt gà
Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình - 1
Gà phải là gà ở Lạc Sơn, thịt vừa dai, vừa thơm, vị lại rất lạ, đem nấu cùng với măng muối chua đến khi nhừ. Từng miếng gà khi bày ra đều có mùi thơm đặc trưng, vị ngon của thịt gà hòa quyện cùng măng chua tạo nên hương vị ngọt và thanh.
Chả cuốn lá bưởi
Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình - 2
Miếng chả lá bưởi thơm nồng mùi thịt quyện với tinh dầu bưởi, đem lại một cảm giác rất lạ. Phần thịt không quá ngấy, săn, ngọt vị; còn phần lá bưởi cháy giòn giòn, thơm thơm, cắn một miếng đã thấy tê tê nơi đầu lưỡi, không cay, không đắng mà lại đem đến một cảm giác vô cùng thích thú.
Thịt lợn muối chua
Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình - 3
Đặc sản thịt lợn muối chua có ở rất nhiều vùng Tây Bắc. Ở Hòa Bình cũng có cách chế biến độc đáo, nên khi ăn sẽ cảm thấy vị chua nhẹ nơi đầu lưỡi, phần thịt muối đậm đà, dai dai, mằn mặn thơm mùi gạo.
Thịt trâu nấu lá lồm
Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình - 4
Thịt trâu thái miếng nhỏ cho vào nồi đất hầm kỹ cùng với lá lồm giã nhỏ (lá có vị chua), gạo tấm cho đến khi gạo nở bung, sánh đặc lại. Khi chín, thịt trâu dai, thấm đượm vị chua của lá đồm, cùng với mùi thơm dễ chịu của gạo.
Lợn mán thui luộc
Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình - 5
Thịt lợn mán nổi tiếng săn chắc, ít mỡ nhiều nạc, da giòn mà lại ngọt thịt. Khi thui trên bếp củi, miếng da trở nên vàng óng, giòn rụm, miếng thịt vừa chín tới hồng nhạt tỏa mùi thơm quyến rũ. Thịt này thường được chấm với muối dổi nướng.
Măng đắng
Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình - 6
Những miếng măng trắng muốt, giòn giòn, ngọt dịu xen lẫn vị đắng nhè nhẹ là nguyên liệu không thể thiếu trong các món ăn dân dã nơi đây, như măng đắng xào tỏi, măng nấu với thịt lợn mán, hoặc thịt vịt đem hầm hay xào đều rất thơm ngon.
Cá nướng sông Đà
Vấn vương những đặc sản núi rừng có một không hai ở Hòa Bình - 7
Những con cá tươi rói để nguyên con rồi dùng xiên từ đầu tới đuôi, dùng nẹp kẹp vào để cá khỏi bị rơi. Cá được nướng trên than hồng cho đến khi cháy xém, tỏa mùi thơm. Khi ăn chỉ cần rắc thêm một chút muối, rồi quấn vào trong lá chuối để một lúc là có thể ăn được.
Theo Ngọc Phạm (tổng hợp) (Dân Việt)

Đặc sản cá Ốt đồ có một không hai của người Mường Hòa Bình

Trên mâm cỗ của người Mường (Hòa Bình) vào những dịp lễ Tết, không bao giờ thiếu món cá Ốt đồ. Món ăn này có cách chế biến gần giống với cá hấp ở dưới xuôi nhưng thời gian nấu lâu hơn khá nhiều. Nồi hấp cá được người Mường gọi là cái Ốt, có hình dáng tương tự cái chõ và cách làm chín bằng hơi ấy được người Mường gọi là đồ, giống như kiểu đồ xôi. Có lẽ đó là lý do mà cái tên cá Ốt đồ ra đời.


Nghe qua tưởng chừng đơn giản nhưng để có được món cá Ốt đồ ngon đúng điệu cũng lắm công phu và thời gian nấu nướng. Cá trôi, cá trắm đều được nhưng ngon nhất là cá quả, cá chép ta nuôi thả tự nhiên.
Cá sau khi được bắt dưới ao lên, được đánh vẩy, bỏ ruột, xát muối cho thật sạch nhớt rồi đem ướp với các loại gia vị như: muối, hạt tiêu, gừng, xả, ớt, hạt dổi chừng 30 phút cho ngấm sau đó đem trộn với thật nhiều măng, gói đùm vào lá chuối và đặt lên Ốt đồ từ 10 – 12 tiếng.
Lẫn trong mùi thơm của khói củi là mùi hương hấp dẫn của cá và những gia vị đặc trưng mang đậm hương vị của sản vật núi rừng vô cùng hấp dẫn. Món cá Ốt đồ ngon và đạt yêu cầu là phải chín thật nhừ, mềm mà không được nát. Cả cá và măng quyện với những loại gia vị thơm nức mũi, mềm mà ngọt, nhai được cả xương.
Đặc sản cá Ốt đồ có một không hai của người Mường Hòa Bình - 1
Măng rừng hút lấy những tinh túy của cá tiết ra nên vừa ngọt lại đậm đà. Cá nhờ măng, dổi, gừng, sả, ớt… mà vừa thơm lại thêm tròn vị. Vì cách chế biến khá mất thời gian nên mỗi khi vào dịp lễ Tết quan trọng, các đầu bếp thường dành cả ngày trời để chuẩn bị món ăn này cho  được chu đáo. Vào mùa lạnh, món cá Ốt Đồ có thể để được tới 4 – 5 ngày vẫn thơm ngon như thường.
Học cách chế biến món cá Ốt đồ theo cách của người Mường không quá khó nhưng có lẽ món ăn sẽ hoàn hảo hơn khi được thưởng thức trong một căn nhà sàn xinh xắn, với không gian của mùi khói đang loang loang những vệt màu lam qua ô cửa gỗ, bên chén rượu ngô, rượu gạo cay nồng mà ấm áp cùng những câu chuyện hỉ hả lan man kể hoài không hết về cái nương, con suối của những người dân bản địa.
 Nếu có dịp ghé qua những bản làng của người Mường ở Hòa Bình, bạn hãy tìm cách thưởng thức món ăn này một lần nhé.
Theo Minh Phượng (Dân Việt)

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

Bánh láo khoải đón Tết của người Mông


Bánh láo khoải của người Mông.
Bánh láo khoải của người Mông.
(HBĐT) - Đã thành truyền thống, Tết của người Mông không thể thiếu ba món là rượu, thịt và bánh ngô. Bếp của người Mông luôn đỏ lửa trong ngày Tết, lễ cúng giao thừa trong đêm 30 không thể thiếu con lợn sống hoặc con gà sống.

Cuộc sống thay đổi và ngày càng phát triển, đồng bào đã có nhiều gạo hơn để sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày, nhưng món ăn làm từ ngô vẫn là thú ẩm thực có ý nghĩa tâm linh trong đời sống tinh thần của bà con. Có nhiều loại bánh được làm từ bột ngô, nhưng với đồng bào Mông cư trú trên địa bàn Sính Lủng, Thài Phìn Tủng, Vần Chải, Sủng Trái thì bánh láo khoải (còn có cách gọi khác là lức khoải hay rớ khoải) từ bột ngô là thứ không thể thiếu để ăn Tết. Do truyền thống định cư kiểu đồng tộc, dòng họ, mỗi dịp xuân về đồng bào lại cùng nhau làm chung một mẻ bánh láo khoải to để dành ăn cho hết tháng giêng.
Chiều cuối năm rét mướt trên mảnh đất cao nguyên lộng gió. Thấy tôi tò mò, cánh đàn ông cả cười mà bảo: “Bánh này không làm thường xuyên đâu, chỉ làm ăn chơi vào dịp Tết thôi, cái người Kinh mày ở lại đến tối rồi ăn thử bánh láo khoải của chúng tao nhé… Để xem cái Tết của người Mông thế nào”…
Ngô được thu hoạch tầm tháng 8 âm lịch hằng năm, bóc bỏ lớp vỏ ngoài, để lại một lớp vỏ mỏng rồi đưa lên gác bếp bảo quản hay treo lên chái nhà. Tách hạt xay thành bột nhỏ, sàng bỏ mày và vỏ rồi đem ngâm nước khoảng 5-6 giờ, lấy bột ra để cho ráo nước rồi đồ lên cho chín. Ngô được xay bằng cối đá, đồ ngô hai lần trên chảo gỗ, khi đồ lần một phải chú ý thời gian để bột ngô tơi và không dính vào nhau, sau khi làm tơi và để nguội mới cho vào đồ lần hai để bột ngô chín kỹ.
Bột ngô đã chín này sẽ được những người đàn ông có sức vóc trong gia đình đập nén trên bàn đá, nặn thành hình bầu dục, dài khoảng 15-20cm, dùng mỡ trộn với mật ong bôi đều trên bề mặt bánh.
Để chuẩn bị làm các loại bánh từ bột ngô để dành ăn Tết, các hộ sẽ thay phiên nhau làm cả ngày, phân công mỗi người mỗi việc. Bột ngô đã chín nên bánh làm xong có thể ăn ngay. Nếu chưa ăn, đồng bào sẽ bảo quản bằng cách thả vào ngâm trong nước lã, một tuần thay nước một lần, để hàng tháng trời mà bánh vẫn không bị mốc, nứt hay vụn ra. Khi nào cần sẽ vớt bánh láo khoải lên và chế biến để dùng. Bánh có thể thái mỏng và nướng trên than củi, cũng có thể thái chỉ, nấu với đường ăn rất mát, nước dùng như nước bánh trôi, hoặc nấu với quả đậu Hà Lan, cho thêm muối, mỡ động vật vào giống như nấu canh.
Đám trẻ nhỏ hớn hở chạy quanh sân nhà, tay cầm bao lì xì đỏ chói, náo nức chờ được ăn bánh láo khoải. Hình như mùa xuân đang nhẹ nhàng bước qua bờ rào đá, qua cái ngưỡng cửa cao và làm ấm sực cả căn nhà bên bếp lửa hồng đang nướng những mẻ bánh láo khoải đầu tiên…

                                                                     HBĐT tổng hợp

Văn hóa ẩm thực người Mông


Khu ẩm thực của người Mông.
Khu ẩm thực của người Mông.
(HBĐT) - Để đảm bảo thâm canh lúa nước ở vùng cao khắc nghiệt, từ xưa đồng bào Mông đã chú ý làm thủy lợi, tận dụng sức mạnh của thiên nhiên để duy trì sự sống của mình. Cùng với thời gian, ngày nay nếp sinh hoạt, ăn uống của người Mông vùng cao cũng có nhiều thay đổi, tuy rằng các sản vật trong đời sống hàng ngày đều lấy từ thiên nhiên hoặc do chính bàn tay lao động làm ra nhưng cách thức chế biến và ăn uống đã khác, mang tính cầu kỳ hơn.

Trong các món ăn hàng ngày cũng như lễ hội, dân tộc Mông rất chú trọng đến gia vị và màu sắc vì đặc điểm thiên nhiên ở đây giá lạnh, rất cần có những món ăn ấm, nóng với màu sắc mạnh. Nếu như ăn uống trong ngày thường là yêu cầu trọng thực, đảm bảo nhu cầu no thì ở những phiên chợ đông vui, nhu cầu ăn uống cộng cảm được đặt lên hàng đầu. Chỉ cần một bình rượu và một chảo thắng cố, lần lượt, từng người sẽ uống chung bát rượu và ăn chung một chảo canh. Đó là một hình ảnh đẹp về tính cộng đồng và bình đẳng của người Mông, Dao ở vùng cao Tây Bắc trong cách thức ăn uống.

Cây lương thực chính của người Mông là cây ngô cho nên ở nhiều vùng, đồng bào sử dụng ngô là món ăn chính. Món ngô hấp (hoặc đồ, thường gọi là mèn mén) bao giờ cũng ăn với canh có nhiều mỡ, do ở vùng cao, trời rét nên mỡ là món ăn thường xuyên. Đối với người Mông, bữa ăn sáng là bữa phụ, hai bữa chính là trưa và tối. Ngô được xay thành bột, trộn nước cho đủ ẩm rồi nhào bột đồ chín lần đầu, đổ ra cho nguội, lại cho chút nước nhào đều và đồ tiếp lần nữa. Bột chín được đổ vào rá rồi dùng thìa xúc ăn với nước canh, rau, thịt và các thức ăn khác.

Ở một số vùng, người Mông còn dùng ngô non thái hạt, xay nhuyễn hoặc dùng bột ngô nếp làm bánh rợm, bánh trôi. Món ăn phổ thông được đồng bào ưa dùng là đỗ tương xay thành bột đun sôi, cho ít nước chua và rau vào nấu chín làm canh. Món ăn khô là lạc, vừng rang. Các loại thịt được nấu, nướng hoặc hầm nhừ với gia vị nhưng không có tập quán làm thắng cố như vùng Hà Giang và Tây Bắc. Thịt để dành lâu ngày được ướp muối, phơi hoặc sấy khô trên gác bếp. Do điều kiện sống trên núi nên ngoài thịt thú rừng, thịt gia súc, gia cầm, trứng gà, vịt, hiếm khi đồng bào được ăn ốc, cá. Các loại rau rừng như bồ khai, rau ngót rừng, các loại nấm, măng, hoa chuối, lõi non thân chuối, các loại quả bứa, vả, dâu da thường được xào nấu hoặc ăn sống như các loại quả cây.

Đồ uống hàng ngày là nước đun sôi để nguội, hoặc nướng quả ngô cháy vàng cho vào nồi nước sôi để dùng như nước chè nhưng có chút mùi khét, vị ngọt; hoặc uống chè dây là cây dây leo bò, mọc hoang ở rừng núi. Do du canh du cư không trồng được chè, đồng bào thường mua chè để uống, tiếp khách. Nhiều khi đi rừng, làm nương rẫy họ còn phải uống nước khe suối.

Rượu được rất nhiều người ưa dùng, thậm chí nam giới thường dùng hàng ngày. Các dịp cưới xin, cúng ma, tiếp khách và các ngày tết không thể thiếu rượu. Do cây lương thực chính là ngô nên rượu của người Mông thường được cất từ ngô. Tuy nhiên cũng có người cất rượu từ mì, mạch, sắn, chuối và các cây có bột trong rừng.



                                                                              HBĐT tổng hợp

Độc đáo các cách ăn chua của người Thái Tây Bắc


Độc đáo cách ăn chua của người Thái Tây bắc.
Độc đáo cách ăn chua của người Thái Tây bắc.
(HBĐT) - Có lẽ người miền xuôi lên Tây Bắc nào đó quá ấn tượng với món nhót xanh cuốn bắp cải, rau mùi, chấm với chẳm chéo nơi đây.

Cho nên cứ truyền tai nhau rằng lên tây bắc phải tìm bằng được ăn món “chẳm chéo” (nhót xanh). Kỳ thực, chẳm chéo là tên của nước chấm, còn ăn nhót, ăn mận, ăn sim cùng chẳm chéo người Thái tây bắc gọi chung là ăn chua.(Kin Xổm).

Món đặc trưng nhất là bắp cải cuốn nhót. Món ăn đã làm nên đặc trưng của người Thái. Đầu tiên là phải chọn những chùm nhót xanh vừa thành quả chưa lâu. Có người thích ăn quả thật non, nhưng có lẽ nhót đạt tiêu chuẩn nhất là khi vừa đủ tầm, không non quá mà cũng già quá, lớp phấn mới chỉ mới trăng trắng.

Quả nhót phải xanh mướt, hơi mềm mềm, chưa mọng nước và chua rôn rốt, lại cũng thoảng qua vị chát nữa! Thú nhất là tự tay vin những cành nhót mềm mềm xuống, ngắm nghía và tỉa những quả nhót ưng ý nhất. Vừa chảy vừa nghĩ đến lúc chấm xuống bát chẳm chéo, hình dung ra cái vị chua chua, cay cay mà ứa nước bọt.

Thứ đến, cuốn cùng với nhót cần có bắp cải, cũng phải chọn những lá vừa tầm, không già, không non quá, trắng nõn là. Thêm vài lá tỏi, lá rau mùi, ít gừng thái lát nữa là được.

Quan trọng nhất là bát nước chấm, chắc ngoài Tây Bắc không đâu có: Bát chẳm chéo là sự hòa quyện của những: tỏi khô, (nhưng phải đúng là tỏi tây bắc mới có mùi, vị cay đặc trưng, tỏi tàu - củ to, mọng nước không ra vị của nó), gừng, ớt, rau mùi, mắc khén, xả… tất cả đều giã nhuyễn, trộn vào chút nước mắm hoặc muối cũng được.

Thế rồi khi đã tề tựu đông đủ, tất cả nguyên liệu được bày ra, mọi người quây quanh, người cắt nhót, cắt bắp cải, người đặt những miếng nhót, gừng, mùi, lá tỏi, từ từ cuốn vào lá bắp cải và khé chấm vào bát chéo, vừa ăn vừa râm ran những chuyện trên trời dưới biển...

Đưa miếng lên miệng, cắn nhẹ một cái ta cảm nhận được đầu tiên là vị mặn, cay, nóng của chéo, vị ngọt mát của bắp cải, và khi ngập chân răng vào miếng nhót là tổng hòa của chua, cay, mặn, ngọt.
Không cầu kỳ như nhót xanh, mận, mơ và sim (quả chua của người Thái) cuốn lá vả đơn giản hơn nhiều. Chỉ cần vài lá vả non đang còn lẫn màu xanh và vàng nhạt, một ít gừng thái lát, thêm chút muối ớt nữa là đủ vị. Mỗi thứ quả có vị chua riêng của nó, mơ và mận xanh chua gắt, sim rôn rốt lại có vị chát của những xơ quả. Nhưng tựu chung lại nó hòa lẫn với lá vả, muối ớt cũng ra thứ vị tổng hòa của chua, cay, mặn ngọt…

Người ta ăn chua không thể ăn một mình, phải có bạn, phải túm năm tụm ba, vừa ăn vừa cười nói, với những câu chuyện tếu táo mới thú. Người ta vừa ăn lại vừa xuýt xoa vì vị chua của quả kết hợp với vị cay nồng của các gia vị khác! 

Thú ăn vặt này đôi khi lại là biện pháp hữu hiệu để tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó giữa mọi người. Một khách lạ đến thăm đúng lúc tập thể đang ăn chua chẳng thể nào lại quay ra hay ngồi thu lu một góc cả, cứ phải xà vào, cũng phải cuốn, chấm, xuýt xoa, cũng cười đùa hối hả. Thế mà chỉ sau mấy phút bỡ ngỡ người ta đã có thể trò chuyện như đã quen nhau lâu lắm rồi.

Vậy đấy, tình người nhiều khi nó hiển hiện đơn giản chỉ trong một món ăn chơi.


                                                                              HBĐT tổng hợp

Xôi sắn, món ăn quen thuộc của người Dao


Nguyên liệu chế biến món xôi sắn.
Nguyên liệu chế biến món xôi sắn.
(HBĐT) - Xôi sắn từ xưa đã là món ăn quen thuộc của người Dao, được chế biến rất đơn giản nhưng không kém phần hấp dẫn so với các món xôi khác.

Đối với người Dao nơi đây, cây sắn chính là ân nhân, là cứu tinh của họ. Đất đai vùng này từ xưa đã cằn cỗi, nắng mưa thất thường, cây lúa nương, cây khoai, cây ngô đều phát triển kém, chỉ có cây sắn là lên xanh tốt.
Từ xưa, Sắn trở thành lương thực chủ đạo trong những bữa ăn của bà con, trong chăn nuôi, trao đổi buôn bán. Ngọn sắn non làm rau, làm dưa, củ sắn để luộc, rồi nạo hoặc cắt lát, phơi khô, cất trong bồ dự trữ từ mùa này qua mùa khác, vụ sắn này qua vụ sắn sau. Trong các món làm từ sắn, xôi sắn có thể dùng ở bữa thường ngày, khi đón khách hay dịp lễ hội...
Món xôi không cầu kỳ nhưng lại khiến người ta bất ngờ bởi hương vị của nó. Cách chế biến xôi sắn cực kỳ đơn gian: Để làm xôi, ngay từ khi lấy sắn trên nương người ta đã phải lựa chọn những củ nây đều, da xoăn, ít rễ bám. Sau khi bóc vỏ, rửa sạch, sắn được nạo thành sợi nhỏ, cho vào khăn sạch vắt qua nước rồi đem trộn cùng với gạo nếp nương đã ngâm và cho vào chõ.
Chõ xôi bằng sành, đáy chõ được lót vỉ tre đan, thành chõ để thêm vài chiếc lá nếp thơm. Đặt chõ xôi lên nồi nước trên bếp, trước lúc nổi lửa, người ta không quên xếp lá chuối đều quanh miệng nồi nơi tiếp xúc với chôn chõ chỉ để lại một khoảng vừa đủ cho hơi nóng từ nồi cách thủy hút lên làm chín xôi.
Xôi chín, đổ dàn đều ra mẹt, hơi bốc thơm lừng, những hạt xôi nếp dẻo, trắng trong, những sợi sắn trắng ngà, bở tơi khiến không ai có thể làm ngơ. Để xôi dẻo, nắm tay không dính, lâu thiu, đồng bào Dao thường quạt cho xôi thật nguội rồi mới ăn hoặc đặt vào giỏ mây để ăn cả ngày.
Có những gia đình để tiện đem xôi sắn lên nương đã lẳn xôi thành từng khúc trông như cổ chiếc chày (còn gọi là xôi sắn lẳn cổ chày), khi ăn dùng dao thái thành từng khoanh tròn. Xôi sắn dẻo thơm chấm muối vừng, muối ớt hoặc ăn kèm cá nướng rất ngon.
Giờ đây, những tháng ngày phải ăn cơm độn sắn hầu như không còn, đồng bào trồng sắn chủ yếu dùng để chăn nuôi. Song, xôi sắn vẫn là một món ăn truyền thống của đồng bào Dao.

                                                                                    HBĐT tổng hợp

Hấp dẫn món thịt chua của người Dao Tiền


Thịt chua được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc.
Thịt chua được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc.
(HBĐT) - Thịt chua không chỉ được dùng làm món ăn trong mâm cỗ ngày rằm, ngày tết của người Dao Tiền mà họ còn dùng nó để tiếp đón khách quý, bởi họ coi đó là món ăn đặc biệt trong ẩm thực truyền thống của dân tộc mình.

Người Dao Tiền có rất nhiều món ăn truyền thống như mắm cá, mắm tép, thịt lợn gác bếp, thịt lợn nướng, lợn muối… Trong đó không thể không kể đến thịt lợn muối chua là món ăn truyền thống độc đáo của người dân tộc Dao Tiền. Món thịt muối chua có nhiều công thức chế biến khác nhau tùy khẩu vị của từng người.

 

Để làm thịt chua không khó nhưng mất rất nhiều thời gian. Nguyên liệu làm thịt chua khá đơn giản, chỉ có thịt lợn, muối tinh và cơm nguội. Muốn thịt muối chua, người Dao thường dùng thịt ba chỉ hoặc những phần thịt có cả nạc cả mỡ. Thịt đã chọn được cắt thành từng miếng, mỗi miếng khoảng 0,5kg, trên mỗi miếng, dùng dao sắc khía thành từng phần dày 2 - 3cm, tránh làm đứt phần bì.

 

Sau đó, đem thịt đã cắt ướp với thật nhiều muối, dùng tay chà xát thật mạnh cho muối ngấm sâu vào từng thớ thịt. Mỗi miếng thịt sau khi xát muối được trộn tiếp với một ít cơm nguội, để cơm thấm muối khi tan cho thịt bớt mặn, rồi đem xếp ngay ngắn vào chum, trên cùng chét thêm một lớp cơm nguội dày và dùng tay lèn thật chặt. Trên miệng chum người ta lót thêm một lớp rơm sạch, dùng lá dong bịt lại rồi lấy lạt buộc bên ngoài cho thật chặt.

 

Thịt chua được sử dụng trong đám cưới của người Dao. Trong đám cưới nhà trai phải mang sang nhà gái một lượng thịt khá lớn để làm sính lễ. Chỗ thịt ấy đã được tính trước để phân phát cho anh em, họ hàng của cô dâu, nhiều hay ít tùy thuộc vào mối quan hệ và vai vế đối với cô dâu, còn bố mẹ cô dâu sẽ nhận hai phần lớn nhất. Vậy nên, sau đám cưới, gia đình cô dâu phải đem ướp chua chỗ thịt ấy để bảo quản. Sau 2 - 3 năm, khi cô dâu chú rể đã thành vợ chồng, có đủ điều kiện tổ chức lễ cám ơn những người trước đây đã giúp gia đình nhà trai gánh lễ vật sang nhà gái thì bố mẹ cô dâu mới mở chỗ thịt chua ấy để tiếp đãi mọi người.

 

Sau mỗi đám cưới, nhà bố mẹ cô dâu sẽ có được ít nhất hai chum thịt chua như vậy. Mỗi chum thịt sau khi đã bịt chặt được úp ngược lên một chiếc bế đựng đầy tro bếp. Làm như vậy để trong quá trình thịt lên chua, mỡ và nước từ thịt sẽ chảy ngược xuống ngấm vào tro, như thế thịt sẽ không bị hỏng.

 

Thịt được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc. Ăn một miếng thôi cũng đủ cảm nhận được hương vị lạ và đặc biệt của món thịt này. Với những người có kinh nghiệm làm thịt chua, khi ăn họ có thể biết được thịt này đã được ướp bao nhiêu lâu.

 

Thịt chua còn được dùng làm một món ăn cho mâm cỗ trong những ngày rằm, ngày tết trong năm. Người Dao còn dùng thịt chua để tiếp đón khách quý bởi họ coi đó là món ăn đặc biệt trong ẩm thực truyền thống của dân tộc mình.

 

Thịt lợn muối chua có đặc trưng là có vị chua, mềm mà không dai, không béo ngấy của thịt mỡ. Thay vào đó là vị đậm đà của thịt hòa cùng vị cay cay của riềng, vị thơm của lá cơm đỏ, trầu không, cơm nếp, đặc biệt là vị chua hòa lẫn vị mặn của muối đã tạo cho món ăn có hương vị thật độc đáo, khó quên. Thịt muối chua thường được ăn cùng rau sống. Ăn một lần thôi cũng khiến người ta nhớ mãi.

 



                                                                     HBĐT tổng hợp

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Thịt trâu nấu lá lồm, đọc đau mồm mà lại là một đặc sản nổi tiếng ai đến Hoà Bình cũng phải thử

Thịt trâu nấu lá lồm là một đặc sản của người Mường, không hề khó ăn mà trái lại còn rất ngon. Tuy nhiên lá lồm là lá gì và món ăn này được chế biến như thế nào?

Lá lồm còn có tên gọi khác là lá giang, là một loại lá cây rừng có vị chua, thanh mát. Lá lồm mọc tự nhiên trong rừng, thường có ở khu vực Tây Bắc. Nhờ hương vị chua nhè nhẹ, lại dễ ăn nên lá lồm được sử dụng rất phổ biến. Loại lá này đã được người dân dùng để chế biến thành nhiều món ăn như canh chua, lẩu lá lồm... 
Có rất nhiều món ăn được nấu từ lá lồm, nhưng để nói về đặc sản thì không thể không nhắc đến món thịt trâu nấu lá lồm của người Mường ở Hoà Bình và một số tỉnh lân cận khác. 
NGỌC ÁNH, THEO TRÍ THỨC TRẺ
Cách làm món ăn này rất đơn giản. Thị trâu được thui cho thơm, cạo sạch rồi bung mềm, thái thành miếng nhỏ, hầm trong nồi đất đến khi chín kỹ. Lá lồm giã ra, sau đó bỏ vào nồi hầm cùng thịt trâu và một ít tấm gạo.
Tuy đơn giản vậy, nhưng khâu chọn lựa nguyên liệu lại phải hết sức tỉ mỉ thì mới có được nồi thịt trâu nấu lá lồm ngon. Thịt trâu phải tươi, săn chắc, không được để qua ngày. Lá lồm chọn những chiếc lá bánh tẻ để có đủ độ chua và không bị đắng chắt. Có vậy thì khi nấu, món ăn mới có hương vị hấp dẫn đặc trưng.
Thịt trâu nấu lá lồm, đọc đau mồm mà lại là một đặc sản nổi tiếng ai đến Hoà Bình cũng phải thử - Ảnh 2.
Khi tấm chín nở cũng là lúc thịt trâu nhừ, nước hơi sánh, các nguyên liệu đều đã ngấm gia vị cùng vị chua của lá lồm. Đặc biệt, thịt trâu kết hợp với lá lồm vô cùng hợp. Vị chua của lá lồm làm át đi mùi gây của thịt trâu.
Miếng thịt no lửa chín mềm quyện với gia vị cùng lá lồm, ăn vừa thơm vừa bắt vị, tạo nên sự cuốn hút khó cưỡng. Không chỉ kích thích vị giác, món ăn này còn khiến người ta thích thú hơn bởi mùi lá lồm quyện với thịt trâu thơm phức.
Món ăn ngon, lại được ngồi ăn ở khung cảnh thiên nhiên núi rừng thì còn gì tuyệt bằng. Nếu có cơ hội đến Tây Bắc nói chung và Hoà Bình nói riêng, hãy thử một lần thưởng thức đặc sản thịt trâu nấu lá lồm nhé.

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Bánh Uôi của người Mường

Bánh đoàn kết, bánh tình yêu, hay bánh uôi, là tên gọi cho một món ăn đặc trưng của người Mường ở Hòa Bình. Cứ vào các dịp lễ tết hay có một sự kiện quan trọng, thì trên mâm cúng của người Mường đều có loại bánh này.
Theo các cụ, món bánh uôi truyền thống này có từ rất xa xưa, có thể hàng nghìn năm trước. Truyền thuyết kể rằng Tổ mẫu Âu Cơ sau khi chia tay Lạc Long Quân để đưa các con về Mường Trời, trong hành trang mang theo là một loại bánh nếp, trên mặt bánh rắc vừng và lạc, những nguyên liệu gắn liền với đời sống nông nghiệp. Từ đó, người dân nhớ cội nguồn, đặt tên là bánh Tổ, sau này theo tiếng Việt cổ được gọi là bánh Uôi.

Người Mường dùng là chuối để gói bánh uôi

Ngày nay, bánh uôi thường được làm vào các dịp lễ tết. Đặc biệt là trong tang ma của người Mường không thể thiếu được bánh này. Trong các dịp lễ tết hay những ngày lễ đại đoàn kết, người Mường cũng làm bánh uôi. Trong dịp Tết nguyên đán, ngoài việc để thờ cúng tổ tiên, người Mường còn dành bánh uôi chia cho gia súc hay nông cụ sản xuất.

Mượn cặp bánh uôi, người Mường tỏ lòng biết ơn những công cụ, những con vật nuôi đã một năm vất vả với người làm ra những mùa vụ tốt tươi.

Để món bánh uôi được thơm ngon thì quan trọng nhất là khâu chọn gạo nếp. Người Mường thường chọn gạo nếp ngon, hạt mẩy, thơm dẻo. Ngày xưa khi vào mùa giáp hạt, không có gạo nếp, người Mường phải dùng sắn để thay thế.

Mượn cặp bánh uôi, người Mường tỏ lòng biết ơn những công cụ, những con vật nuôi đã một năm vất vả với người làm ra những mùa vụ tốt tươi

Lá cũng là một yếu tố quyết định đến độ ngon của cặp bánh. Ở xứ Mường, tùy vào từng vùng mà lá gói khác nhau. Ông Bùi Văn Nhinh, ở xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, bảo rằng để bánh đạt được mùi thơm đặc trưng, thì lá bương là tốt nhất.

Với anh Bùi Văn Nạt, ở xã Bình Hẻm, Lạc Sơn, thì bánh uôi lại dùng lá chuối để gói. Nhưng phải có cách lấy lá và phơi lá. Trong trường hợp này, thì lá dong lại không phù hợp để làm bánh uôi vì khi gấp lá rất dễ bị rách.
Theo vov4.vov.vn

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

Những món ăn đặc sản Hòa Bình ăn một lần là nhớ mãi

Không chỉ có đập thủy điện, Hòa Bình còn nổi tiếng với phong cảnh núi rừng hùng vĩ, đặc biệt hơn là các món ăn mang đậm hơi thở của núi rừng Tây Bắc.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 1
Cơm lam là món ăn nổi tiếng của người Mường Động thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Làm từ những hạt nếp nương hoặc nếp cái hoa vàng, cơm lam có hương vị rất riêng, đặc trưng ở nơi đây. Ảnh: Chiếc Thìa Vàng.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 2
Cơm lam có vị thơm ngon beo béo của gạo nương, nước dừa quyện mùi nứa tự nhiên tạo nên hương vị ẩm thực dân dã, làm say lòng bao khách thập phương. Ảnh: Static.tago.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 3
Cá nướng sông Đà: Nhờ có con sông Đà chảy qua mà Hòa Bình có nguồn thủy sản phong phú. Những con cá ở đây được chế biến kỳ công thành nhiều món khác nhau. Một trong số đó là món cá nướng đồ khiến nhiều người mê mẩn. Ảnh: Du lịch Việt Nam.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 4
Những con cá sau khi được nướng chín có mùi thơm hấp dẫn. Sau đó, người chế biến sẽ dùng lá chuối đồ lên trước khi đưa vào thưởng thức. Cá nướng đồ không chỉ là món ăn mang đậm bản sắc núi rừng Tây Bắc, mà còn đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân quanh vùng sông Đà. Ảnh: The Sai Gon Times.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 5
Gà nấu măng chua  món ăn được mọi người rất ưa chuộng ở Hòa Bình đặc biệt vào những ngày nắng nóng. Vị chua của măng sẽ làm cho vị giác của bạn cảm thấy dễ chịu hơn phần nào. Ảnh: Du lịch Việt Nam.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 6
Nói đến món gà nấu măng chua phải kể đến gà Lạc Sơn và măng rừng tươi ngon là những đặc sản nổi tiếng ở Hòa Bình. Người dân nơi đây rất tinh tế khi kết hợp 2 nguyên liệu đặc trưng trong vùng, tạo nên món ăn hài hòa, hương vị thanh sắc - măng chua nấu với thịt gà. Ảnh: Món ba miền.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 7
Xôi nếp nương Mai Châu (xôi các màu) là món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc vào mỗi dịp lễ, Tết hay ngày hội. Được làm từ gạo nếp nương thơm ngon nổi tiếng, món ăn này hấp dẫn thực khách bởi vẻ ngoài bắt mắt cùng độ dẻo thơm, hòa quyện, đúng với đặc trưng của loại gạo này. Ảnh: Nông nghiệp Việt Nam.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 10
Lợn mán thui luộc: Ghé thăm Hòa Bình mà không thưởng thức món lợn mán thui luộc sẽ là thiếu sót lớn với bạn. Thịt lợn mán ở Hòa Bình được chăn thả trên các sườn đồi, có mùi thơm và thịt chắc hơn thịt lợn nuôi tại gia. Ảnh: Du lịch Việt Nam.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 11
Món lợn mán thui luộc ăn khi nóng sẽ quyện cùng vị thơm nồng của hạt dổi và vị đậm đà của muối rang. Món ăn chắc chắn sẽ chinh phục những thực khách khó tính nhất khi về vùng đất Tây Bắc tham quan. Ảnh: XL.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 12
Thịt lợn muối chua là món ăn mang trong mình hương vị của cả thiên nhiên núi rừng Hòa Bình. Nguyên liệu chính của món này bao gồm thịt lợn, gạo rang và muối rang. Ảnh: Du lịch Việt Nam.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 13
Khi thưởng thức món ăn này bạn nên ăn kèm cùng các loại lá rừng nơi đây để có thể cảm nhận trọn vẹn hương vị của miếng thịt, chua chua men lá, thơm ngọt của gạo và có chút đậm đà của muối. Ảnh: Việt Báo.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 14
Thịt trâu lá lồm là một trong những món đặc sản Hòa Bình được lòng du khách nhờ hương vị thơm ngon lạ miệng. Lá lồm là một loại lá có vị chua đặc trưng của Hòa Bình. Để chế biến được món ăn này, các đầu bếp phải tốn rất nhiều công sức và thời gian. Ảnh: Du lịch Việt Nam.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 15
Món thịt trâu lá lồm phải hầm rất lâu, thịt trâu chín mềm đượm vị chua của lá, béo ngậy của gạo, ăn rất vừa miệng. Món ăn này thường được chế biến trong các dịp lễ Tết, đám cưới... Ảnh: Du lịch Việt Nam.
Nhung mon an dac san Hoa Binh an mot lan la nho mai hinh anh 16
Rau rừng đồ: Nguồn thực vật phong phú với rất nhiều loại lá rừng có thể chế biến thành những món ngon, đặc trưng là món rau rừng đồ. Món ăn dung dị nhưng lại để lại trong lòng khách thập phương bao dư vị: Đắng, cay, ngọt, bùi như chính cuộc sống tần tảo của con người nơi đây. Ảnh: Foody.
Thùy Diễm