Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Thái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Thái. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2019

'Báu vật' trong gian bếp của người Thái Nghệ An

(Baonghean) - “Mò nừng” là một phần trong bộ công cụ đồ xôi của người Thái.
Ngày nay, cộng đồng người Thái đã và đang có những thay đổi nhất định trong các sinh hoạt, ăn uống, nhưng gạo nếp vẫn đóng vai trò là lương thực quan trọng. Vì thế mà dụng cụ đồ xôi vẫn khá phổ biến ở những gia đình người Thái.
Phụ nữ Thái thường dùng mò nừng để hông xôi. Ảnh: Hữu Vi
Từ nhiều thế hệ nay, bộ dụng cụ này không hề thay đổi. Nó gồm 2 phần, phía trên là một ống gỗ hình trụ, đường kính từ 20 - 30 cm, cao trên 40 cm được khoét từ cây sung và một số loài gỗ mọc ven sông suối khác. Tiếng Thái gọi là “hay” hoặc là “khay”.
Đi kèm với cái “hay” là một chiếc nồi kim loại bằng đồng thau, gang hoặc hợp kim nhôm, kẽm... Chiếc nồi có cổ dài, trên chóp là một phần hình phễu là để giá đặt chiếc ống gỗ. Xung quanh có thể đổ nước để hơi nóng không thoát ra ngoài. Người Thái gọi chiếc nồi là “mò nừng”.
Nhưng chiếc nồi đặc biệt này không chỉ có vậy. Nó không đơn giản là một vật dụng bình thường, dẫu hình thức có phần lỗi thời lại có một sức sống lâu bền trong văn hóa ẩm thực của người Thái.
Trong các giai thoại dân gian, chiếc nồi đồ xôi đã trở nên rất quen thuộc. Chuyện cô gái tóc thơm, nhân vật cổ tích được một số người gán cho công trạng giúp Lê Lợi đánh quân Minh xâm lược hồi thế kỷ 15 cũng được kể là người thường dùng chiếc nồi “mò nừng” đồ xôi cho cha mình ăn.
Bóng dáng của vật dụng thân thuộc này cũng xuất hiện trong những truyện thơ nổi tiếng của người Thái xứ Nghệ như Chuyện chim yểng hay Khủn Chưởng… Người thường dùng đến nó là các cô gái, bà góa, anh trai nghèo… Điều này cho thấy, chiếc nồi đồ xôi này từ xa xưa đã là một vật dụng quá đỗi thân thuộc với cộng đồng người Thái.
Thời xưa, chiếc mò nừng còn thể hiện đẳng cấp của gia chủ. Ảnh: Đào Thọ
Những ai gắn bó dài lâu với các bản làng người Thái sẽ hiểu hơn tầm quan trọng nhiều khi vượt ra ngoài phạm vi vật chất của chiếc “mò nừng”. Khi một người trẻ lập gia đình, dù có nghèo đến mấy, gia chủ cũng cố mua cho bằng được một chiếc để dùng. Vào mỗi sáng sớm, người phụ nữ thường là bà mẹ, nàng dâu hay cô con gái đã đến tuổi cập kê muốn chứng tỏ mình siêng năng thường dậy sớm đồ xôi. Điều đầu tiên mà họ làm sau khi nhóm xong bếp lửa là đem chiếc nồi ra cọ rửa. Có không ít người chẳng cọ rửa gì. Họ cứ nấu đi, nấu lại như thế nhiều tháng trời, cho đến khi chiếc nồi bám đầy bồ hóng, đen bóng như thể gia chủ đã dùng cả trăm năm. Xong việc, chiếc nồi được trả về chỗ của nó trong căn bếp, ở một góc tối khó nhìn thấy nhất và là thứ đồ dùng làm bếp quý giá nhất. 
Suốt thời phong kiến, việc sở hữu một chiếc nồi “mò nừng” còn thể hiện đẳng cấp của gia chủ. Những lãnh chúa phong kiến mới mua được những chiếc nồi bằng đồng, có đúc hình rồng, có 2 chiếc tai để tiện nhấc lên xuống trên bếp. Họ chỉ đem ra dùng khi có việc quan trọng. Những nhà giàu có nhưng thấp kém hơn các lãnh chúa thường dùng nồi đồng có đúc hình con cóc, rẻ tiền hơn. Những người có đẳng cấp thấp kém thường chỉ mua được những chiếc nồi bằng kẽm; và dù có khó khăn đến mấy người ta cũng cố gắng có một chiếc để dùng. Cái nồi “mò nừng” được nâng niu như một báu vật.
Chiếc mò nừng gắn bó với căn bếp của đồng bào người Thái nhiều thế hệ qua. Ảnh: Đào Thọ
 Dù quan trọng vậy, nhưng hầu như người Thái không sản xuất chiếc nồi “mò nừng”. Ở các bản làng người Thái xứ Nghệ vẫn có những xưởng rèn, nhưng họ cũng chỉ dừng lại ở việc rèn các nông cụ, không làm được “mò nừng”. Có thể là trình độ về luyện kim của cộng đồng thiểu số này không cho phép họ làm được những vật dụng có độ khó như thế. Người Mông là cộng đồng có nghề rèn tinh xảo cũng không làm vật dụng này.
Một số cụ cao niên được hỏi kể rằng trước kia, người Thái chủ yếu mua “mò nừng” từ người Lào. Vì thế mà giá cả khá đắt đỏ, nhất là khi vật dụng này được đúc bằng đồng. Về sau, những người thợ luyện kim từ miền xuôi cũng làm được “mò nừng”. Dân bản thường mua nó từ những người bán hàng rong.
Ngày nay, những chiếc nồi “mò nừng” bằng đồng thau gần như không còn được sản xuất nữa. Nó chỉ còn được một số ít gia đình người Thái giữ được. Có những cái tuổi đời lên đến hàng trăm năm. Vào thập niên 1980 và 90, nhiều người miền xuôi tìm đến hỏi mua những cổ vật này. Không ít người vì người mua trả giá cao nên đã bán đi.
Mặc dù, trong căn bếp của cộng đồng người Thái xứ Nghệ đã xuất hiện những đồ làm bếp hiện đại, thế nhưng chiếc “mò nừng” đồ xôi vẫn còn hiện hữu bền lâu cùng những nét ẩm thực độc đáo của cộng đồng người Thái.

Khăn thêu trong đời sống văn hóa tâm linh người Thái Nghệ An


(Baonghean) - Chiếc khăn thêu thổ cẩm không chỉ góp phần làm nên điểm nhấn cho bộ trang phục của phụ nữ Thái mà đôi khi còn được khoác lên vai của chú rể khi đi đón dâu. Chiếc khăn thêu cũng được những người đàn ông đội cùng với lễ phục trong một số lễ hội.

Thiếu nữ Thái duyên dáng trong trang phục truyền thống, với chiếc khăn thêu trên đầu. Ảnh: Quốc Đàn
Chiếc khăn piêu của người Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã rất nổi tiếng và trở thành sản phẩm thổ cẩm đặc sắc nhất của cộng đồng dân tộc đông đảo thứ 3 ở Việt Nam. Khăn piêu cùng với váy, áo và một số phụ kiện khác tạo nên phục trang đặc trưng của phụ nữ Thái. Đối với người Thái vốn có đời sống tâm linh phong phú thì mỗi trang phục, thậm chí là đồ dùng đều gắn liền với những phong tục rất riêng và chiếc khăn piêu cũng không ngoại lệ.
Tuy nhiên, với cộng đồng người Thái ở Nghệ An thì có chút khác biệt. Người Thái Nghệ An gọi chiếc khăn piêu là khăn thêu (khăn xéo), có nơi gọi là “khăn tại”. Dù có khác biệt về tên gọi nhưng vị thế và ý nghĩa của trang phục thổ cẩm này vẫn rất quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của phụ nữ nơi đây. 
Khi dệt một tấm vải, người thợ đã phải ước lượng kích cỡ vải theo mục đích sử dụng. Chiếc khăn dài hay ngắn, hoa văn như thế nào... đều được cân nhắc kỹ từ khâu dệt vải. Ảnh: Hồ Phương
Chiếc khăn thêu của phụ nữ Thái ở Nghệ An có hình thức khá đa dạng. Mục đích sử dụng, lứa tuổi, sở thích từng người hay vùng miền quyết định hình thức của những chiếc khăn thêu. Chúng thường được làm với những khổ vải khác nhau, nhưng những hình thêu thì khá thống nhất.
Mỗi chiếc khăn đều có hình “ta leo”, có ý nghĩa xua đuổi tà ma; ngoài ra còn có hoa lá, chim muông, vật nuôi, voi, ngựa, hình mặt trăng, mặt trời… Những chiếc khăn thêu khổ lớn có thể rộng cỡ 2 gang tay, dài khoảng 1,5m, khổ nhỏ hơn thì dài khoảng 1m, rộng 1 gang tay.
Cũng như ở các địa phương miền núi phía Bắc, trước đây phụ nữ Thái từ khi mới là những cô bé lên 9, lên 10 đã được bà và mẹ truyền dạy nghề trồng bông, ươm tơ, dệt vải, thêu váy, thêu khăn… Trước kia, để tạo ra chiếc khăn thêu là cả một sự kỳ công. Bông sau khi được hái trên rẫy về phải đem kéo thành sợi, rồi nhuộm chàm, nhuộm màu. Chỉ tơ trắng, chỉ tơ vàng cũng là nguyên liệu ưa thích làm nên những chiếc khăn thêu.
Trước khi bắt đầu dệt nên một tấm vải, người thợ thường đã phải tính trước mục đích sử dụng để ước lượng khổ vải. Sau khi đã dệt xong một tấm vải, người ta cắt may thành hình chiếc khăn rồi thêu hoa văn lên đó. Cũng có trường hợp những hoa văn được thêu trực tiếp lên khung dệt nhưng thường không tinh xảo bằng thêu tay.  
Chiếc khăn thêu có mặt trong nhiều sinh hoạt văn hóa quan trọng của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: Sách Nguyễn
Đối với những cô gái chưa chồng thường chỉ đội khăn thêu trong dịp lễ hội, khi diện trang phục đẹp. Ngày thường, họ chỉ mặc váy, áo, đầu cài trâm, nhiều khi để xõa tóc. Phụ nữ đã có chồng thường xuyên phải đội khăn khi đi đến nhà họ hàng, đón tiếp hay khi đi đến nhà của họ hàng bên chồng, khi đi lễ tết, ma chay, cưới hỏi… 
Một cô gái chuẩn bị về nhà chồng thường được mẹ đẻ chuẩn bị cho một chiếc khăn thêu. Cô dâu có thể bỏ chiếc khăn thêu khỏi đầu sau khi đã làm xong các nghi lễ cưới hỏi. Cũng đã có hiện tượng cô dâu người Thái mặc váy cưới tân thời mà không diện trang phục truyền thống nữa. Điều này thường xảy ra khi các cô gái Thái lấy chồng là người Kinh. 
Chú rể đội khăn trong lễ rước dâu. Ảnh: Hữu Vi
Có một điều khá đặc biệt là ở nhiều làng bản người Thái tại huyện Con Cuông, chú rể cũng khoác một chiếc khăn thêu trong lúc rước dâu. Đó cũng là lần duy nhất người đàn ông phải làm điều như vậy trong suốt cuộc đời mình. Trước khi cùng cô dâu thắp hương lạy tạ tổ tiên nhà gái, chàng rể được khoác một chiếc khăn thêu lên vai, hoặc đội trên đầu. Sau đó cứ để như vậy trong suốt cuộc rước dâu và chiếc khăn chỉ được tháo xuống khi chú rể đã dắt cô dâu về đến nhà mình.
Chúng ta cũng có thể bắt gặp cảnh những người đàn ông đội khăn thêu trong một số lễ hội như Đền Chín gian (Quế Phong), Pu Nhạ Thầu (Kỳ Sơn) trong nghi lễ tắm trâu. Nhiều thầy mo người Thái khi làm lễ cũng thường đội khăn thêu trên đầu.

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

Lễ cúng rừng thiêng của người Thái ở Yên Bái

Mỗi độ xuân về, người Thái ở Yên Bái lại rộn ràng tổ chức lễ hội Xên đông – lễ hội “Cúng rừng thiêng” với mong muốn một năm mới tốt lành, mùa màng bội thu, đời sống sung túc, nòi giống sinh sôi.


Lễ cúng rừng thiêng của người Thái, Yên Bái. Ảnh: yenbai.gov.vn

Vùng lòng chảo Mường Lò (Yên Bái) là miền đất tổ của đồng bào Thái. Bà con nơi đây vẫn giữ tục xên đông - cúng rừng thiêng. Từ tập tục linh thiêng ấy đã xây dựng nên ý thức cộng đồng bảo vệ rừng.

Xưa, mỗi bản mường của người Thái có những vị cai quản là án nha, phìa, bô lão toàn mường... Nơi nào có bản có mường đều phải có những khu rừng kiêng rừng cấm. Rừng cấm là nơi ngụ của ma thiêng, rừng già là nơi ngụ của hồn mường hồn bản. Trải qua hàng ngàn năm chung sống hòa thuận với rừng, hiểu được qui luật của rừng, người Thái tôn trọng rừng và đặt ra những qui định về việc bảo vệ rừng. Quy định được cộng đồng tôn trọng, thành luật tục. Người Thái có câu “Tai pá nhăng, nhăng pá liệng” - có nghĩa là sống rừng nuôi, chết rừng chôn. Vì vậy, việc bảo vệ rừng, đặc biệt là những khu rừng đầu nguồn, rừng thiêng, là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người, và đã trở thành luật lệ của bản mường. Người Thái từ đời này sang đời khác vẫn nhắc nhau: Giữ rừng cho muôn đời phát triển, để cho muôn mó nước tuôn trào. Ai nhớ được câu ấy thì mới thành người.

Nhằm bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng thiêng không bị tàn phá, hàng năm cứ mỗi độ xuân về, bản mường người Thái lại tổ chức Xên Đông (tức là cúng rừng thiêng). Đây là hình thức tín ngưỡng dân gian của dân tộc Thái cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối xanh tươi.

Lễ cúng diễn ra trang trọng, linh thiêng tại gốc của một cây cổ thụ to nhất trong rừng thiêng. Thầy cúng đại diện cho cộng đồng cầu khẩn các đấng siêu nhiên ban cho mưa thuận, gió hòa, mùa vụ tươi tốt, cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Thầy mo chính và hai thày mo giúp việc trịnh trọng nâng ly rượu mời thần linh rồi những vị chức sắc, đại diện dân bản cùng nâng ly uống chén rượu đoàn kết. Sau đó thầy mo chính đọc lời khấn: “Hôm nay ngày lành tháng tốt, dân bản làm mâm cỗ dâng lên tổ tiên, trời đất và các thánh thần để tỏ tấm lòng thành kính. Mong các vị thánh thần về chứng giám và phù hộ cho dân bản trồng lúa lúa tốt, trồng cây sai quả, chăn nuôi không bị dịch bệnh, mọi người mạnh khỏe, bản làng yên vui....”.

Rừng, trong tâm thức người Thái, cực kỳ quan trọng như vậy nên Lễ vật cúng rừng, bởi thế nhất định phải to. Thủ tục xên đông gồm có một trâu. Nếu không có trâu phải có đầu trâu, 4 chân, đuôi, tiết, lục phủ ngũ tạng không được thiếu. Tất cả đồ lễ được mang ra chỗ gốc cây rừng thiêng để tế trời đất.

Những khu rừng thiêng của dân tộc Thái tuy có mang những yếu tố huyền bí, tâm linh nhưng đằng sau sự thần thánh hóa ấy là thái độ sống biết trân trọng và bảo vệ rừng đã cụ thể bằng những luật tục bất di bất dịch từ ngàn đời.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2019

Ép khảu- vật dụng gắn liền với các gia đình người Thái Tây Bắc

VOV.VN - Ép khảu là một vật dụng không thể thiếu trong mỗi gia đình của các bản làng người Thái ở Tây Bắc.
Có lẽ do cuộc sống gắn liền với thiên nhiên, núi rừng, mà từ bao đời nay, người Thái Tây Bắc đã biết tạo ra các vật dụng thủ công bằng tre nứa rất độc đáo, mang nét đặc trưng của dân tộc. Hầu hết các chàng trai người Thái, ngay từ nhỏ đã học đan lát, để tạo ra các vật dụng thủ công thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày, trong đó có ép khảu (đồ đựng xôi).
Để đan được một cái ép khảu bền, đẹp, ưng ý cũng không hề đơn giản, đòi hỏi người đó phải khéo tay, kỳ công trong từng công đoạn từ chọn tre nứa, cách chẻ, vót, kỹ thuật đan cho đến lúc thành phẩm.
ep khau- vat dung gan lien voi cac gia dinh nguoi thai tay bac hinh 1
Ép khảu- vật dụng gắn liền với các gia đình người Thái Tây Bắc.
“Phong tục tập quán của người Thái không có ép khảu không được. Làm ép khảu không phải dễ. Phải vào rừng tìm cây tre, nứa, cây giang, không bị sâu, mọt, gióng dài, thẳng mang về chẻ sao cho lạt đan thật đều nhau, mềm, mỏng, mịn. Nếu lạt chẻ sợi to, thô thì khó đan, ép không được đẹp. Thân 1 cái ép khảu được gập đôi lại thành 2 lớp, có hình hoa văn đẹp mắt. Phần đáy ép đan riêng, có một thanh tre nhỏ uốn tròn buộc chặt làm chân ép. Một người đan thành thạo, nếu làm không nghỉ tay thì hết một ngày rưỡi đến 2 ngày mới hoàn chỉnh một cặp ép khảu đẹp”- ông Tòng Văn Hịa, một già làng giỏi nghề đan lát ở Bản Mòng, xã Hua La, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cho biết.
ep khau- vat dung gan lien voi cac gia dinh nguoi thai tay bac hinh 2
Ép khảu được dùng đựng xôi, đựng cơm trong bữa ăn hàng ngày, dịp cưới xin, ma chay.
Nhà  đông người thường thường sẽ đan ép to, dùng nhiều cặp ép hơn. Nhà ít người sẽ dùng ép nhỏ và số lượng tuỳ theo nhu cầu thực tế của gia đình. Mỗi cặp ép khảu có 2 ép rời, một ép to, một ép nhỏ, có thể mở ra, úp vào một cách dễ dàng. Ép khảu được dùng đựng xôi, đựng cơm trong bữa ăn hàng ngày, những lúc bà con đi nương rẫy, hay những dịp cưới xin, ma chay. Ép khảu đựng xôi giữ được nhiệt lâu, xôi không bị hấp hơi, không bị ướt, đảm bảo độ dẻo thơm của xôi nếp, nhất là nếp tan, nếp nương.
Ép khảu bây giờ không chỉ có trong mỗi gia đình người Thái, mà còn được dùng thường xuyên tại các nhà hàng ẩm thực dân tộc. Bởi hầu hết, các món ăn dân tộc như gà nướng, cá nướng, thịt hun khói, rau rừng, măng luộc… khi ăn với nắm xôi nếp đựng trong ép khảu thì rất ngon.
“Ép khảu không chỉ là vật dụng được sử dụng trong gia đình, mà còn sử dụng trong nhà hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống. Vì cơm xôi cho vào ép nó mềm, dẻo, giữ được vị thơm của xôi nếp, vừa đẹp, vừa đúng với bản sắc dân tộc. Khách hàng khi ăn cũng thấy ngon miệng hơn, nhiều người còn mua về làm quà biếu anh em, người thân”- chị Tòng Thị Vinh, Chủ nhà hàng các món ăn dân tộc ở Bản Mòng, xã Hua La, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cho biết.
ep khau- vat dung gan lien voi cac gia dinh nguoi thai tay bac hinh 3
Ép khảu được bày bán trên thị trường, các hội chợ, chợ phiên vùng cao.
Ép khảu còn được giới thiệu, trưng bày trong Bảo tàng dân tộc, bày bán trên thị trường, các hội chợ, chợ phiên vùng cao.
“Hàng ngày vẫn có người đế mua ép khảu thường xuyên, đặc biệt là các nhà hàng để làm đám cưới, tiệc cỗ các loại. Có gia đình mua về sử dụng để đựng xôi, nhưng cũng có người thì mua về để làm quà tặng bạn bè, có người thì mua về để sưu tập, nghiên cứu, trưng bài, giới thiệu sản phẩm dân tộc Thái”- chị Hoàng Thị Tiên, chủ cửa hàng bán các sản phẩm mây tre đan tại Tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cho biết.
Xã hội ngày một đổi thay, đồ gia dụng phục vụ gia đình ngày một phong phú đa dạng về mẫu mã, chủng loại được bày bán trên thị trường, nhưng trong mỗi gia đình của người Thái Tây Bắc nói chung vẫn gìn giữ, duy trì việc sử dụng cái ninh (đồng hoặc nhôm), chõ gỗ xôi cơm, và đặc biệt là không thể thiếu ép khảu đựng xôi như một nét văn hoá đặc trưng của dân tộc mình./.

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Độc đáo tín ngưỡng thờ hòn đá vía của đồng bào Thái xứ Thanh

 - Trong sinh hoạt cộng đồng, người Thái xứ Thanh vốn nổi tiếng với nhiều luật tục, lễ hội truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức, tạo nên nét sắc thái văn hóa độc đáo. Tục thờ “hòn đá vía” gắn liền với Lễ hội Mường Xia ở huyện miền núi Quan Sơn là một minh chứng điển hình.

Tục thờ “ hòn đá vía” gắn lễ hội Mường Xia
Lễ hội Mường Xia là lễ hội tâm linh, tín ngưỡng quan trọng của đồng bào dân tộc Thái huyện Quan Sơn. Phong tục gửi “vía” nơi “Hòn đá vía” mang đậm nét nhân văn trong phong tục cúng tế, thể hiện tại 5 điểm trên địa bàn Mường Xia theo thuyết ngũ hành sinh khắc (Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ).
Trong cuốn “Tìm hiểu Văn hóa và tín ngưỡng của đồng bào miền núi Thanh Hóa  - NXB Thanh Hóa (2011), có viết: “Đối với đồng bào Khơ Mú tại bản Lách, bản Đoàn Kết (Mường Lát), họ tin rằng “đá” là vật có khả năng trừ tà, ngăn ngừa không cho ma quỷ làm ốm đau, bệnh tật. Từ đó, người dân địa phương thường dùng các vật kỵ ma hay bùa phép bằng đá. Đối với các thầy mo, thầy cúng, “đá” vốn là vật bất li thân, trong “túi khót” của thầy Mo Cao Ngọc Rạng (người Mường), làng Muối (Cẩm Thành, Cẩm Thủy) có các hòn đá đặc biệt, rìu đá khi làm lễ. Đá như một quyền năng truyền những lời phán dạy của thần linh qua thầy Mo tới con người... Nằm trong dòng chảy về tục thờ đá nói chung, tục thờ đá của người Thái cổ, tại xã Sơn Thủy (Quan Sơn), địa bàn cư trú của người Thái đen, chúng ta có thể bắt gặp tục thờ hòn đá thiêng có từ thuở xa xưa.”
Theo lời kể của các cụ cao niên địa phương, “hòn đá vía” ở Mường Xia có từ thời khai thiên, lập ấp, sự linh thiêng, ứng nghiệm của hòn đá “thần” từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức người dân nơi đây. Tại trung tâm bản Chung Sơn (xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn) hòn đá vía vẫn nằm nguyên vị trí năm xưa, sát cạnh nền nhà của Tư Mã Hai Đào (Phò mã Tén Tằn). Người dân Mường Xia quan niệm, sự kết hợp giữa đá và các đối tượng thờ cúng sẽ tạo ra một sức mạnh cộng hưởng, bản chất sự sống trong đá sẽ tiếp thêm sinh khí, cho sự sinh sôi...
 Nghi thức rước hòn đá vía trong Lễ hội Mường Xia.JPG
Nghi thức rước “hòn đá vía” trong Lễ hội Mường Xia.
Đến hình tượng người anh hùng Tư Mã Hai Đào
Lễ hội Mường Xia là nơi bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người Thái vùng biên giới Quan Sơn với các nghi lễ văn hóa tâm linh, với tục thờ “Hòn đá vía” gắn liền công trạng người anh hùng Tư Mã Hai Đào. Theo một số tài liệu, Tư Mã Hai Đào là vị tướng tài, võ nghệ cao cường, giúp vua lập nhiều chiến công, được phong tước Tư mã Biên phòng (thế kỷ XV). Trong thời gian trấn ải biên cương, ông đã chọn Mường Xia xây dựng thủ phủ, góp phần khai khẩn ruộng hoang, mang lại ấm no, hạnh phúc cho bản làng. Sau khi ông mất, để nhớ ơn ông, người dân đã gửi vía vào hòn đá thiêng. Từ đó, ông được người dân Mường Xia coi là vị thần giữ vía cho cả mường, “hòn đá vía” trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần to lớn trong đời sống tâm linh của đồng bào Thái... Trong lễ hội Mường Xia, có tục rước “hòn đá vía”, đồng bào Thái cho rằng, vía con người do trời cai quản, nếu “mất vía”, không giữ được vía thì con người và vạn vật sẽ ốm đau, bệnh tật. Vì vậy, Lặc Mắn (hòn đá vía) luôn được người dân nơi đây coi như báu vật từ đời này sang đời khác.
Trong lễ hội Mường Xia, “hòn đá vía” được đào lên, được gội rửa sạch sẽ bằng nước đựng trong các ống tre, nứa từ thượng nguồn con suối. Tiếp đến, người dân lau chùi cẩn thận, dùng tấm vải đỏ bọc lại, cẩn thận đặt lên kiệu Long Đình do mười tám thanh niên chọn lựa kỹ càng, mặc trang phục dân tộc rước đi.
Bà Hà Thị Mai - Trưởng phòng VH-TT huyện Quan Sơn, cho biết: “Khi “hòn đá vía” về tới đền và yên vị, mâm lễ rước về được bổ sung thêm hai chum rượu cần cạnh bên “hòn đá vía”, còn Lặc Mắn đặt tại vị trí trung tâm của đền. Tiếp đó, các bà Một - chủ lễ bắt đầu làm lễ chính... Sau khi kết thúc lễ hội, “hòn đá vía” lại được người dân mang về vị trí cũ tại bản Chung Sơn (Sơn Thủy) chôn cất cẩn thận”.
Lễ hội Mường Xia xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn được diễn ra trong các ngày từ 24-26 tháng Ba âm lịch hàng năm.


Trung Lê

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

Kin chiêng Bọoc Mạy trong hành trình đến di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia

 - Những ngày này không khí ở khắp các bản làng nhất là với những người dân ở làng Roộc Răm, xã Xuân Phúc (Như Thanh), như càng thêm náo nức, ai cũng hào hứng, tươi vui. Tất cả mọi người như đang tất bật cho buổi lễ đón Bằng công nhận lễ hội Kin Chiêng Bọoc Mạy là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia sắp tới.

Theo chân cán bộ văn hóa xã Xuân Phúc đến làng Roộc Răm, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi trải qua bao đời nay làng Roộc Răm còn bảo tồn được khá đậm nét những sinh hoạt văn hóa truyền thống của các dân tộc cùng sinh sống. Để tìm hiểu rõ về vấn đề này, chúng tôi đến gặp bác Ngô Đình Ước (72 tuổi), ở làng Roộc Răm, bác cho biết: Làng Roộc Răm có ba dân tộc cùng chung sống là người Kinh, người Mường và người Thái, trong đó người Thái chiếm số lượng nhiều nhất, là thành phần chính tạo nên sắc thái của một bản người Thái truyền thống. Mặc dù dân cư không thuần nhất nhưng mỗi dân tộc đều giữ được phong tục tập quán riêng của mình và được cộng đồng tôn trọng. Các sinh hoạt văn hóa của dân tộc này thì dân tộc khác cũng có thể tham dự và ngược lại. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự “thống nhất trong đa dạng” và hình thành nên tình thương yêu, đoàn kết giúp đỡ nhau trong sinh hoạt và tạo dựng cuộc sống của người dân làng Roộc Răm trong mấy trăm năm lịch sử.Và đến nay, lễ hội Kin chiêng Bọoc Mạy là minh chứng rõ nhất cho điều này.
Tiếp nối câu chuyện, bác Ước kể cho chúng tôi nghe về nguồn gốc của lễ hội Kin chiêng Bọoc Mạy: Kin chiêng Boọc Mạy thực chất là một giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Thái, song lại ra đời và tồn tại cùng với sự vận hành của thiết chế bản Mường. Vì thế lễ hội đã thu hút được cả cộng đồng dân cư cùng chung sống trong bản, trong mường và các vùng lân cận khác tham dự. Chẳng biết có tự bao giờ thế nhưng sức sống của di sản này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cho đến ngày nay, lễ tục này đã không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Hàng năm người Thái ở làng Roộc Răm xã Xuân Phúc thường tổ chức lễ hội để nhân dân bày tỏ tấm lòng với tổ tiên, trời đất mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc. Trong lễ hội có cả người Mường, người Kinh trên địa bàn xã và các vùng khác cùng tham dự.
Trước kia dân làng tổ chức vào dịp tháng Giêng, tháng Hai, theo chu kỳ cứ ba năm làm “đại”, một năm làm “tiểu”. Những năm gần đây dân làng còn kết hợp làm thêm tục lệ Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy vào dịp “Tết cơm mới” (Xển xển khảu mơơ) ngày 15/11 (âm lịch). Để tiến hành làm “Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy”, đồng bào Thái ở Roộc Răm phải tiến hành làm lễ “Tem phạ” (lễ hết sấm nộp tang Trời), được bắt đầu từ tháng 9 (âm lịch), mọi nhà đều phải treo các dải chỉ xanh đỏ - để tang Trời 3 ngày. Trong lễ, toàn bộ dân làng đều đến tham dự để mong được bình an, mạnh khỏe, làm ăn may mắn, góp trò vui (nếu người nào không đến được, sau này sẽ phải tự đến nhà thầy Mo để xin được giải hạn, cầu may, cầu mát).
 kin chiêng.jpg
Múa cây bông - phần quan trọng nhất trong Lễ hội Kin chiêng Bọoc Mạy.
Cây bông được xem là “linh hồn” của lễ hội. Công tác chuẩn bị cây bông cho lễ hội được bắt đầu từ những ngày đầu tháng Chạp. Thân cây bông được làm bằng tre hoặc luồng, các cành hoa cây bông được làm từ cây dâu, cây sắn, cây chục bục. Người ta cắt gọt hoa ngay khi mới chặt cây từ trong rừng về sau đó đem đồ chín, phơi khô, nhuộm màu bằng nhựa các loại vỏ cây, xâu hoa bằng sợ các cây rừng, với các hình chim, thú, dụng cụ lao động sản xuất treo trên cây bông, được đan bằng nứa. Tùy thuộc vào thế hệ nhà Mo mà cây bông được làm 3, 5, 7, 9, 12 tầng. Hiện nay, cây bông trong Lễ hội Kin Chiêng Boọc Mạy làng Roộc Răm được làm 9 tầng, với hàng ngàn hoa đồng tiền từ 30 - 40 cánh, gồm đủ loại màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng. Cây bông tượng trưng cho cuộc sống sinh sôi trù phú của Bản mường, sự bảo tồn nòi giống của tự nhiên. Ngoài chuẩn bị cây bông còn có Dàn trống âm tại đền cấm, lễ vật gồm từ 5 - 7 vò rượu cần, hai con lợn, hai con gà, trầu, cau...
Từ sáng sớm ngày 15 tháng Giêng, đoàn rước cây bông đã tập trung đông đủ các thành phần tại nhà văn hóa để chuẩn bị nghi thức rước cây bông về cúng tế tại Thành Hoàng của làng. Đội hình đoàn rước đi đầu là người có uy tín trong làng, điều hành lễ rước, tiếp đến là đông đảo nhân dân địa phương và du khách chen chân theo trước và sau đoàn rước. Khi đoàn rước về đến sân Thành Hoàng của làng, lễ dựng cây bông và lễ khai hội bắt đầu. Đội tế lễ bắt đầu vào phần việc của mình. Các bước tế lễ được các vị tiền bối thực hiện một cách thuần thục và nghiêm trang. Sau lễ cúng, dân làng múa hát xung quanh cây hoa, càng về khuya không khí hội càng nhộn nhịp với những trò diễn độc đáo đầy ắp tiếng cười, nhộn nhịp hơn là múa tập thể. Tất cả những người đến dự hội từ già đến trẻ đều vào cuộc múa, múa hết mình hòa lẫn trong âm vang nhộn nhịp của tiếng chiêng, trống, tiếng khua luống, tiếp dập của ống nứa nhảy sạp, tượng trưng cho sấm, mưa cho sự phồn thực với mong ước của một mùa màng tươi tốt.
Trải qua bao thế hệ, đến nay Lễ hội Kin chiêng Bọoc Mạy đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Theo ông Nguyễn Quang Phương - Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Phúc (Như Thanh): Để giữ gìn và phát huy giá trị của Kin chiêng Bọoc Mạy một cách đủ đầy cho đến ngày hôm nay là sự nỗ lực không ngừng của bà con nhân dân cũng như chính quyền địa phương. Cũng như các di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận trước đây, di sản Kin chiêng Bọoc Mạy được công nhận lần này có ý nghĩa to lớn, khẳng định bản sắc văn hóa độc đáo, phong phú của người dân huyện Như Thanh nói riêng và Thanh Hóa nói chung. Vinh dự to lớn, nhưng trách nhiệm cũng rất nặng nề. Chính vì vậy, địa phương sẽ luôn ý thức cao về nhiệm vụ chính trị của mình trong bảo tồn, phát huy di sản Kin chiêng Bọoc Mạy, để góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Nguyễn Đạt

Độc đáo lễ hội nàng Han xứ Mường Trịnh Vạn

 - Vùng đất Châu Thường vốn nổi tiếng với nhiều nhân vật lịch sử, danh lam thắng cảnh, phong tục, lễ hội độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc. Có lẽ, quả là thiếu sót nếu không nhắc đến lễ hội nàng Han của đồng bào dân tộc Thái thuộc bản Lùm Nưa, Trịnh Vạn (nay là xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân).

Truyền thuyết nàng Han
Theo ông Cầm Bá Huyến - Trưởng phòng VHTT huyện Thường Xuân, truyền thuyết nàng Han bản Lùm Nưa có nhiều cốt chuyện khác nhau, mỗi câu chuyện được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo các cụ cao niên trong bản, xưa kia trong một gia đình có hai chị em rất xinh đẹp, cô em đẹp người, đẹp nết, e ấp, dịu dàng. Nàng có mái tóc đen chảy dài như dòng suối, hương thơm lạ kỳ khiến trong và ngoài bản mường đâu đâu cũng nức tiếng khen ngợi. Người chị tên là Nàng Han, không chỉ đẹp người đẹp nết, còn rất đỗi thông minh, có tài võ nghệ hơn người.
Một ngày kia, cuộc sống đang bình yên, bỗng chốc bị đảo lộn bởi bọn cướp từ đâu kéo đến, cướp phá, hãm hiếp dân thường. Triều đình thông báo tìm người hiền tài giúp nước, Nàng Han liền giả trai gia nhập nghĩa binh, do lập nhiều chiến công, nàng được triều đình ban thưởng, giao trấn giữ vùng biên viễn ngay tại quê nhà.
Sau khi đánh tan quân giặc, nàng ra suối tắm, để rồi bị lộ mình là nữ nhi. Bỗng đâu đám tàn binh giặc từ đâu bất ngờ xông tới, chúng giở trò bỉ ổi khiến nàng vừa tức giận vừa hổ thẹn, vung gươm diệt giặc rồi cả mình và ngựa phi thẳng lên đỉnh núi về trời.
Từ ấy đến nay, dòng sông Nhồng (người Thái gọi là sông máu, do máu giặc chảy mà thành) vẫn chảy trên núi hang Mường.
Ông Nguyễn Hữu Lịch - Trưởng thôn Cang Khèn, cho biết: “Trong hang  Mường, dưới có con sông Nhồng chảy qua, có nhũ đá hình thiếu nữ ngồi nghỉ sức, kế bên là hình voi, ngựa chiến hóa đá ngồi chầu, tương truyền là nàng Han đã hóa thân vào đó”...
Cảm phục, biết ơn người thiếu nữ đất mường Trịnh Vạn, hàng năm bà con dân tộc Thái tưng bừng mở hội vừa tri ân công đức của nàng, vừa tạo khí thế bà con vui vẻ, tăng gia sản xuất, những mong mùa màng tốt tươi.
 IMG_0438.JPG
Ông Nguyễn Hữu Lịch, trưởng thôn Cang Khèn, xã Vạn Xuân chỉ tay về hang Mường, nơi có tượng hình nàng Han hóa đá, phía dưới chân là sông Nhồng, nơi nàng Han chết tại đây.
Độc đáo nghi thức lễ hội nàng Han
Tưởng nhớ công lao của nàng, cứ mỗi độ xuân về, vào ngày mùng 5 tháng giêng, người dân Mường Trịnh Vạn lại nô nức tổ chức lễ hội nàng Han.
Trước ngày lễ hội, dân làng chuẩn bị sẵn các lễ vật dâng tế nàng Han, gồm một con trâu trắng, một con lợn, một con chó, hai vò rượu cần, gạo nếp, gà, vịt, đồng thời chia thành 13 mâm lễ cúng các vị thần linh và nàng Han trước cửa hang Mường. Dưới vách đá tựa hình nàng Han, dân làng lập một đàn lễ bằng tre nứa, trên đó có một hương án 4 tầng để đặt lễ. Lễ vật trên cùng có 5 mâm, đặt ngay dưới cửa hang Mường...
Lần lượt mâm có đầu trâu dùng cúng tế thần linh trên trời, mâm bày thủ lợn cúng nàng Han và em gái (nàng Tóc Thơm). Lễ vật bày bậc thứ hai gồm 3 mâm có xôi, thịt lợn, rượu cúng thần cai quản mồ mả, đất đai, gia súc, gia cầm. Lễ vật bậc thứ ba gồm 2 mâm xôi, thịt, một mâm nguyên con chó đã thui chín, lễ vật cuối cùng là một chĩnh rượu cần...
Trong quan niệm của người Thái, khi một người chết đi về với tổ tiên ở mường trời, linh hồn họ phải qua cây cầu bôi mỡ rất trơn dễ rơi xuống vực, không về được mường trời. Bởi vậy, phải có con chó đi cùng để liếm mỡ bôi trơn trên cầu, giúp họ qua cầu thuận lợi...
Phụ trách cúng lễ là bà Tày, giúp việc bà Tày là ba bà Tày khác cùng các cô gái giúp việc, họ mặc trang phục Thái, tay cầm ô vuông với màu sắc sặc sỡ đứng che ô cho các bà Tày. Sau mỗi lần khấn, các bà Tày múa quạt nửa hình tròn theo chiều từ trên xuống dưới... Trong không gian linh thiêng của hang Mường, dưới ánh đuốc bập bùng lúc mờ, lúc tỏ, người dân hướng về tượng đá có hình của nàng Han và lời khấn của bà Tày như vọng về từ quá khứ, thấm sâu vào từng mạch đá, lắng sâu trong lòng người... Sau khi hoàn chỉnh tế lễ tại hang Mường, các bà Tày tiếp tục về bản làm lễ tạ ơn, rồi ban lộc.
Kết thúc lễ, mọi người bản trên mường dưới kéo nhau ra bãi đất rộng bên kia sông Nhồng, tham gia các trò chơi, trò diễn mang đậm bản sắc dân tộc Thái. Đồng thời thông qua lễ hội nàng Han, các cặp trai gái có dịp tìm hiểu nhau, cầu duyên cầu phúc.
Lễ hội nàng Han bản Lùm Nưa xứ Mường Trịnh Vạn là một trong những lễ hội cổ truyền của đồng bào Thái. Lễ hội thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn đến nàng Han và những người anh hùng đã quên mình xả thân vì sự bình yên, hạnh phúc của bản làng. Trong đó, tục chơi hang Mường phản ánh lệ tục cổ mang đậm tín ngưỡng phồn thực, cầu con, cầu của, cầu cho mùa màng tốt tươi, dân thái bình.


Trung Lê

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2019

Độc đáo lễ cúng thần rừng của người Thái

Theo quan niệm của người Thái thì thần núi, thần sông luôn là vị thần rất linh thiêng. Vì thế, vào đầu năm mới họ đều tổ chức lễ cúng, cầu cho năm mới mọi người dân đều có cuộc sống bình an, khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Nghi lễ quan trọng của dân tộc Thái
Tục cúng thần rừng đã có từ lâu đời trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Thái. Với người Thái ở xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An lễ cúng thường được tổ chức vào ngày 20 tháng 3 âm lịch hàng năm, đây được coi là ngày tốt lành trong năm, là thời điểm trời đất giao hòa.
Trước ngày diễn ra lễ cúng người dân cùng họp bàn nhau lại để phân công công việc và chuẩn bị lễ vật cúng thần rừng. Chủ trì lễ cúng là thầy mo được người dân trong bản lựa chọn từ trước. Thầy cúng phải là người có uy tín, được người dân nể trọng.

Văn hoá - Độc đáo lễ cúng thần rừng của người Thái

Thầy mo chuẩn bị cho lễ cúng thần rừng.


Ông Lô Văn Thánh vinh dự được làm thầy mo năm nay cho biết, lễ cúng thần rừng được tổ chức một lần duy nhất trong năm. Trong lễ cúng những người tham gia lễ bắt buộc phải mặc trang phục của dân tộc, như vậy thì lễ cúng mới có kết quả tốt đẹp.
Thầy mo Lô Văn Thánh cho biết thêm: “Lễ cúng thần rừng là lễ rất thiêng liêng, nên những người tham gia làm lễ cũng phải ăn mặc trang nghiêm, phải  là những người có hiểu biết về phong tục cúng bái của dân tộc mình”.
Lễ  vật cúng gồm lợn, 9 cuộn vải trắng, 9 nén bạc,… đó là những vật không thể thiếu, vì nó tượng trưng cho 9 mường của người Thái. Lễ cúng gồm có 3 phần: Phần cúng gọi, phần cúng chính và phần hội.
Phần cúng gọi là phần mở đầu cho buổi lễ. Trong phần này thầy cúng sẽ tiến hành theo tuần tự các bài khấn để mời các vị thần về tham dự lễ cúng và chứng nhận lòng thành của người dân.
Bài cúng kết thúc cũng là lúc thần rừng và các vị thần đã tề tựu đầy đủ và chấp nhận những lễ vật mà dân làng dâng lên. Khi xong phần cúng gọi, dân bản sẽ giết lợn để chuẩn bị cho 5 mâm cúng chính (nếu giết trâu sẽ làm 7 mâm).
Đến phần cúng chính, thầy cúng báo cáo với các vị thần từng lễ vật dâng lên. Sau khi khấn gọi những vị thần về dự lễ cúng, thầy cúng bắt đầu bài cúng chính của buổi lễ. “Bài cúng này ca ngợi những công lao của các vị thần và cầu mong họ sẽ tiếp tục phù hộ cho người dân trong năm mới”, thầy mo Lô Văn Thánh nói.

Văn hoá - Độc đáo lễ cúng thần rừng của người Thái (Hình 2).
Thầy cúng đọc bài cúng chính kể về công lao của các vị thần và cầu mong họ phù hộ.

Trong không khí thiêng liêng của trời đất, người chủ lễ kính cẩn thay mặt bà con dân bản dần lễ vật và cầu khấn mời thần rừng về hưởng lễ chứng kiến cho lòng thành kính của dân làng, phù hộ cho làng bản trừ hết những xấu xa, vận hạn.
Phần thứ ba là phần hội. Khi mọi người đã ăn, uống no say thì họ lại cùng nhau uống rượu cần, nhảy múa, đánh cồng chiêng, nhảy sạp,… để thể hiện cho một năm mới luôn vui vẻ, hạnh phúc.
Cầu cho cuộc sống bình yên, mưa thuận gió hòa
Ông Lô Văn Mai, Bí Thư chi bộ bản Pục, xã Nậm Giải chia sẻ: “Lễ cúng rừng là một nghi lễ rất quan trọng đối với chúng tôi: cầu mong thần rừng phù hộ sức khỏe, gia đình hạnh phúc, cầu mong thần rừng trong năm không nổi giận để những cánh rừng sinh sôi nảy nở, nuôi sống bà con dân bản…”.
Có thể nói lễ cúng thần rừng là một nghi lễ truyền thống quan trọng và có ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Thái, nó mang ý nghĩa phồn thực của cộng đồng cư dân nông nghiệp sinh sống tại những vùng mà rừng luôn là một phần không thể thiếu trong đời sống của họ.
Ngoài ý nghĩa tín ngưỡng, tục cúng thần rừng còn là dịp ý thức cho mọi người tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống tự nhiên xung quanh con người.

Văn hoá - Độc đáo lễ cúng thần rừng của người Thái (Hình 3).

Tưng bừng trong phần hội.


Theo ông Mai, trong tâm thức đồng bào dân tộc Thái nơi nào có bản, có mường đều phải có những khu rừng kiêng, rừng cấm. Rừng là nơi ngụ của thần, của hồn mường hồn bản. Trải qua hàng ngàn năm chung sống hòa thuận với rừng, hiểu được quy luật của rừng, người Thái tôn trọng rừng và đặt ra những quy định về việc bảo vệ rừng.
Ngoài việc gìn giữ được một lễ hội truyền thống, hoạt động này còn có ý nghĩa rất lớn đối với chính quyền địa phương trong việc phát động người dân tích cực hưởng ứng, tham gia cuộc chiến bảo vệ rừng ngày một nóng bỏng trong những năm gần đây.
Với những ý nghĩa như vậy, tục cúng thần rừng của đồng bào dân tộc Thái là một trong những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp cần được bảo tồn và phát huy giá trị.
Phục hồi lễ hội thờ cúng thần rừng đầu năm ở huyện Quế Phong
Năm 2018, UBND huyện Quế Phong tổ chức khởi động dự án “Nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng gắn với sinh kế, văn hóa cho cộng đồng đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quế Phong”. Dự án do Trung tâm tư vấn phát triển Lâm nghiệp Nghệ An đề xuất. Tổng kinh phí thực hiện là 2,658 tỷ đồng, trong đó kinh phí xin tài trợ từ chương trình tài trợ nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu là gần 1 tỷ đồng.
Một trong những hoạt động quan trọng của dự án là phục hồi tổ chức lễ hội thờ cúng thần rừng đầu năm và ban hành, tổ chức thực hiện các quy định về giữ gìn, phát huy các giá trị phong tục văn hóa tốt đẹp trong quản lý bảo vệ rừng.
Ngân Mai

Lễ cúng rừng Tạ Mạ, nét văn hóa đẹp miền sơn cước


(Xây dựng) - Lễ cúng rừng tại Quế Phong có từ lâu đời trong đồng bào dân tộc Thái, trong khi nét đẹp văn hóa này dần mai một, không còn được duy trì tại các vùng thì tại ba bản Pục, Piêng Lâng và bản Meo (xã Nậm Giải) vẫn lưu giữ được nét văn hóa đặc sắc này.

Lễ hội là dịp để ghi nhớ công ơn các bậc tiền nhân lập bản lập mường, bảo vệ núi rừng, cầu mong cho bản làng yên vui, con người, gia sức khỏe mạnh, mùa màng bội thu, núi rừng tươi tốt.

Hàng năm vào mỗi dịp lễ rất đông người dân của ba bản và vùng lân cận đổ về tham gia.

Ngày tổ chức lễ không cố định mà được lựa chọn theo từng năm nhưng thường sau ngày lễ hội đền Chín Gian (huyện Quế Phong), lúc này các thầy mo trong vùng gặp nhau thống nhất chọn ngày để tổ chức.

Năm nay lễ hội chung của ba bản Pục, Piêng Lâng và bản Meo diễn ra vào ngày 20/2 (âm lịch) tại khu vực Tà Mạ cạnh suối thuộc bản Meo xã Nậm Giải.

Ngay từ sáng sớm “cầu” cho thần linh về dự lễ đã được bắc qua suối, các lễ các vật cũng đã được người dân mang về để chuẩn bị.

Lễ vật của lễ hội cúng chung tùy theo năm, năm cúng to (4 năm 1 lần) thì giết trâu, năm cúng nhỏ (năm 1 lần) thì giết lợn.

Lễ vật cúng năm nay ngoài rượu, cau trầu, xôi, thịt, vải, bạc nén thì theo tục cúng nhỏ lợn được mang ra ngay tại bờ suối để làm và cúng lễ.

Lễ cúng rừng có hai phần, gồm lễ chung được cử hành cho cả vùng (cả 3 bản) và lễ riêng cho từng bản.

Lễ chung tiến hành tại Tà Mạ vào buổi sáng, lễ riêng tại nhà thầy mo của từng bản và thường vào buổi chiều cùng ngày.

Đảm nhiệm trách nhiệm cúng rừng chung cho cộng đồng 3 bản hiện nay là thầy Lô Xuân Thánh, người bản Piêng Lâng, cúng riêng từng bản được các thầy cúng của bản đảm nhiệm.

Phần lễ chính do thầy mo chủ trì và các già làng hỗ trợ gồm có nhiều lễ: Báo cáo thần linh, lễ giết lợn để cúng, lễ dâng rượu cần, lễ dâng mâm đã nấu chín và phẩm vật đầy đủ.

Sau phần lễ là phần hội người dân các bản tham gia uống rượu cần, đánh cồng chiêng, đánh trống, nhảy sạp, kéo co… vui vẻ cầu mong cho một năm mưa thuận gió hòa, sức khỏe, may mắn tạo nên không khí tưng bừng của lễ hội.

Lễ hội được người dân tộc Thái ở Nậm Giải huyện Quế Phong nơi đây hết sức coi trọng, là một nét văn hóa riêng của cộng đồng nơi miền sơn cước.
Theo ông Lô Trung Tuyến - Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Giải: Lễ cúng rừng Tà Mạ là một nét văn hóa đẹp mà địa phương đang nỗ lực bảo tồn, phát huy, lễ hội không chỉ bảo tồn văn hóa mà còn tạo nên sự gắn kết cộng đồng đồng.
Đặc biệt hiện nay dân số của xã có hơn 95% là người dân tộc Thái, vì thế lễ hội còn là dịp để bà con hướng về rừng, xây dựng ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống cho cộng đồng, nhất là trong giới trẻ. Ông cũng cho biết hiện nay xã đang xây dựng kế hoạch cùng cộng đồng bảo tồn nét đẹp của lễ hội.
Được biết lễ hội năm nay được hỗ trợ từ một hoạt động bảo vệ rừng cộng đồng của Quỹ Môi trường toàn cầu GEF-SGP (UNDP), đây là tổ chức đồng hành cùng cộng đồng tại nhiều địa phương trong cả nước với nỗ lực bảo vệ phát triển rừng cộng đồng bền vững.
Bài: Thái Sơn - Ảnh: Đặng Lâm

Người Thái xứ Nghệ vui Tết họ

(Baonghean.vn) - Tết họ là hoạt động vui chơi mừng năm mới của cộng đồng người Thái ở các địa bàn vùng cao như Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương. Đây cũng là dịp vui cuối cùng trong dịp Tết của các gia đình, dòng họ.
Nhiểu làng bản ở miền núi xứ Nghệ thường tổ chức Tết họ (từ Mồng 4 đến Mồng 6 Tết) thay vì làm Rằm tháng Giêng như người miền xuôi. Đây là dịp sum họp của cả dòng họ vào đầu năm mới.
 
Tết họ từ nhiều năm nay đã trở thànhmột tập tục của cộng đồng người Thái miền núi xứ Nghệ. Đây là dịp để con cháu trong dòng họ gặp gỡ, trò chuyện và cùng nhau làm những món ăn ngon.
 
Theo những người cao tuổi ở xã Châu Tiến - Quỳ Châu thì Tết họ xuất phát từ sự "tri ân" của những người ở nhà dành cho con cháu đi làm ăn xa. Vì thế vào ngày Tết họ, con cháu tập trung lại để cùng thưởng thức các món ăn, vui hội nhảy sạp.
Và những cuộc vui bên ché rượu cần cũng không thể thiếu trong dịp Tết họ.
Chính vì lẽ đó mà Tết họ thường không nặng nề việc lễ lạt, cúng bái. Tết họ cũng là dịp để người dân nơi đây thể hiện niềm đam mê các loại nhạc cụ truyền thống. Đây cũng là cách để họ gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình.
 
Trong những dịp này, các em nhỏ được những người lớn dạy cho cách đánh trống hội. Đón Tết mừng Xuân cho dù có khác nhau ở tục lệ nhưng lại đều gặp nhau ở tinh thần nhân văn, ở khát vọng ấm no, hạnh phúc sẽ đến trong mỗi nếp nhà, trong mỗi gia đình, làng bản, vùng quê trong năm mới.