Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Chứt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Chứt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2018

Tập quán dựng nhà của người Chứt

Cũng như một số hoạt động khác, người Chứt (nhóm Mã Liềng) khi làm nhà ở mới cũng có những nghi lễ cúng bái nhất định.
Tập quán dựng nhà của người Chứt

Nhà cửa truyền thống của người Chứt (nhóm Mã Liềng) là những ngôi nhà sàn tạm bợ, lợp bằng lá cây rừng, hay là những ngôi nhà sàn nhỏ đơn giản làm bằng những thứ gỗ, tre tranh rất sẵn có trong rừng. Mặc dù thế nhưng những nghi lễ xung quanh việc dựng nhà cũng hết sức phức tạp.

Để dựng một ngôi nhà sàn, chủ nhà chuẩn bị các vật liệu tương đối đầy đủ, đem đến chỗ mảnh đất đã chọn. Sau đó chủ nhà tự chọn lấy một ngày tháng tốt (thường là ngày và tháng chẵn trong năm về mùa khô). Sau khi định được ngày tốt, chủ nhà làm lễ cúng thổ địa, thần linh rồi sau đó tự mình dựng lấy cột Côlôốc (cột ma) lên trước, sau đó mời nhờ dân bản đến giúp đỡ dựng lợp nhà. Riêng cột ma chỉ có chủ nhà mới được ngồi lên lợp.

Công cụ để làm nhà là những con dao, cái rìu, cái rựa. Kỹ thuật làm nhà cũng rất dơn giản, chủ yếu là gá lắp buộc dây qua các ngàm đỡ bị mục mọt và đứt. Đây là những ngôi nhà nhỏ, có hai mái thấp không có đầu hồi, các vì kèo được buộc bằng các sợi dây rừng rất đơn giản.
 
Nhà thường có 8 cột chính được đặt thành hai hàng. Hàng trước có 4 cột gọi là cột đầu, hàng sau có 4 cột gọi là cột chân. Các cột này thường cao không quá 3,5m, đường kính cột nhà khoảng 0,15m. Các cột nhà thường được chôn sâu khoảng 0,5m.

Bộ khung nhà bao gồm 2 xà và 4 vì kèo được buộc vào nhau bằng các sợi dây rừng. Sàn nhà được lát bằng tre nứa đập dập, khoảng cách giữa sàn nhà và mặt đất chừng 0,8m. Bố trí nội thất trong nhà của người Chứt (nhóm Mã Liềng) cũng rất đơn giản.

Nhà không có vách ngăn và phân chia thành các buồng riêng biệt. Chính giữa nhà là nơi đặt bếp, đây là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của gia đình từ ăn uống, vui chơi cho đến ngủ nghỉ tiếp khách...Phía trong nhà là nơi ngủ nghỉ của chủ nhà và các con cái. Phía ngoài nhà là 2 cầu thang và 2 cửa số. Phía hai đầu nhà là nơi để dụng cụ sản xuất và dụng cụ sinh hoạt...

Những nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến ngôi nhà

Khi làm nhà xong, chủ nhà lại tự mình nhóm và nhen lửa bắc bếp. Bếp lửa phải được cháy liên tục trong vòng 3 ngày đêm. Sau đó chủ nhà tổ chức lễ cúng để báo cho tổ tiên ông bà và các thần linh biết và cầu xin sự phù hộ độ trì cho gia đình được may mắn trong cuộc sống và quanh năm bếp lửa vẫn cháy. Đây là một ước muốn hết sức chính đáng của đồng bào khi cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, không phải lúc nào cũng có lửa cháy trên bếp.

Trong ngôi nhà sàn hay nhà đất, cột thờ ma (cột Cô lôốc) là chiếc cột giữa hàng sau nơi các ma ông bà tổ tiên của gia đình trú ngụ, là nơi linh thiêng của mỗi gia đình cho nên chiếc cột này không phải ai cũng có quyền đụng vào, đó là nơi người con dâu và con rể cần phải kiêng kỵ nhất. Đối với con dâu khi về nhà chồng không được đụng vào cột thờ ma. Nhưng các con của con dâu thì không bị kiêng kỵ. Phụ nữ Chứt (nhóm Mã Liềng) trong thời gian hành kinh không được tự do đi lại trong nhà của mình, mà phải ăn uống một chỗ trong nhà. Đối với người con rể khi đến ở nhà bố mẹ vợ, chiếc cột ma anh ta cũng không được đụng vào.
 
Trong nhà cửa của người Chứt (nhóm Mã Liềng), gian bếp là nơi sinh hoạt hàng ngày của họ từ ăn uống đến nghi ngơi đàm luận nhân tình thế thái. Nhưng đối với người con rể khi đang ở rể trong nhà bố mẹ vợ họ không được ngồi vào bếp. Đây là một điều kiêng kỵ xuất phát từ lòng tôn trọng và yêu quí con rể của gia đình nhà vợ, họ không muốn con rể của mình phải làm những công việc bếp núc.

Hiện nay nhà cửa của người Chứt (nhóm Mã Liềng) chủ yếu do Nhà nước hỗ trợ. Tuy nhiên, đối với những gia đình chưa nhận được sự hỗ trợ đó, họ phải làm nhà. Dù ngôi nhà đơn giản người Chứt (nhóm Mã Liềng) cũng tiến hành đầy đủ các nghi lễ.

Như vậy, qua việc tìm hiểu nghi lễ, tín ngưỡng của người Chứt (nhóm Mã Liềng) có thể thấy thấy tín ngưỡng đó thuộc nhiều loại pha trộn, chồng chéo với nhau. Nhưng từ những hình thức phức tạp đó, chúng ta vẫn thấy dấu ấn của một trình độ tư duy, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của tộc người.

Ngày nay, cùng với công việc xây dựng cuộc sống mới những tín ngưỡng, tôn giáo chỉ còn lại trong kỷ ức của người già như một tàng tích của thời qúa khứ. Tuy nhiên, do đời sống kinh tế của đồng bào quá nghèo nàn, lạc hậu nhận thức còn thấp kém, thì các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng vẩn còn cơ sở để tồn tại.

Theo Langvietonline.vn

Tập quán dựng nhà của người Chứt

Cũng như một số hoạt động khác, người Chứt (nhóm Mã Liềng) khi làm nhà ở mới cũng có những nghi lễ cúng bái nhất định.
Tập quán dựng nhà của người Chứt

Nhà cửa truyền thống của người Chứt (nhóm Mã Liềng) là những ngôi nhà sàn tạm bợ, lợp bằng lá cây rừng, hay là những ngôi nhà sàn nhỏ đơn giản làm bằng những thứ gỗ, tre tranh rất sẵn có trong rừng. Mặc dù thế nhưng những nghi lễ xung quanh việc dựng nhà cũng hết sức phức tạp.

Để dựng một ngôi nhà sàn, chủ nhà chuẩn bị các vật liệu tương đối đầy đủ, đem đến chỗ mảnh đất đã chọn. Sau đó chủ nhà tự chọn lấy một ngày tháng tốt (thường là ngày và tháng chẵn trong năm về mùa khô). Sau khi định được ngày tốt, chủ nhà làm lễ cúng thổ địa, thần linh rồi sau đó tự mình dựng lấy cột Côlôốc (cột ma) lên trước, sau đó mời nhờ dân bản đến giúp đỡ dựng lợp nhà. Riêng cột ma chỉ có chủ nhà mới được ngồi lên lợp.

Công cụ để làm nhà là những con dao, cái rìu, cái rựa. Kỹ thuật làm nhà cũng rất dơn giản, chủ yếu là gá lắp buộc dây qua các ngàm đỡ bị mục mọt và đứt. Đây là những ngôi nhà nhỏ, có hai mái thấp không có đầu hồi, các vì kèo được buộc bằng các sợi dây rừng rất đơn giản.
 
Nhà thường có 8 cột chính được đặt thành hai hàng. Hàng trước có 4 cột gọi là cột đầu, hàng sau có 4 cột gọi là cột chân. Các cột này thường cao không quá 3,5m, đường kính cột nhà khoảng 0,15m. Các cột nhà thường được chôn sâu khoảng 0,5m.

Bộ khung nhà bao gồm 2 xà và 4 vì kèo được buộc vào nhau bằng các sợi dây rừng. Sàn nhà được lát bằng tre nứa đập dập, khoảng cách giữa sàn nhà và mặt đất chừng 0,8m. Bố trí nội thất trong nhà của người Chứt (nhóm Mã Liềng) cũng rất đơn giản.

Nhà không có vách ngăn và phân chia thành các buồng riêng biệt. Chính giữa nhà là nơi đặt bếp, đây là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của gia đình từ ăn uống, vui chơi cho đến ngủ nghỉ tiếp khách...Phía trong nhà là nơi ngủ nghỉ của chủ nhà và các con cái. Phía ngoài nhà là 2 cầu thang và 2 cửa số. Phía hai đầu nhà là nơi để dụng cụ sản xuất và dụng cụ sinh hoạt...

Những nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến ngôi nhà

Khi làm nhà xong, chủ nhà lại tự mình nhóm và nhen lửa bắc bếp. Bếp lửa phải được cháy liên tục trong vòng 3 ngày đêm. Sau đó chủ nhà tổ chức lễ cúng để báo cho tổ tiên ông bà và các thần linh biết và cầu xin sự phù hộ độ trì cho gia đình được may mắn trong cuộc sống và quanh năm bếp lửa vẫn cháy. Đây là một ước muốn hết sức chính đáng của đồng bào khi cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, không phải lúc nào cũng có lửa cháy trên bếp.

Trong ngôi nhà sàn hay nhà đất, cột thờ ma (cột Cô lôốc) là chiếc cột giữa hàng sau nơi các ma ông bà tổ tiên của gia đình trú ngụ, là nơi linh thiêng của mỗi gia đình cho nên chiếc cột này không phải ai cũng có quyền đụng vào, đó là nơi người con dâu và con rể cần phải kiêng kỵ nhất. Đối với con dâu khi về nhà chồng không được đụng vào cột thờ ma. Nhưng các con của con dâu thì không bị kiêng kỵ. Phụ nữ Chứt (nhóm Mã Liềng) trong thời gian hành kinh không được tự do đi lại trong nhà của mình, mà phải ăn uống một chỗ trong nhà. Đối với người con rể khi đến ở nhà bố mẹ vợ, chiếc cột ma anh ta cũng không được đụng vào.
 
Trong nhà cửa của người Chứt (nhóm Mã Liềng), gian bếp là nơi sinh hoạt hàng ngày của họ từ ăn uống đến nghi ngơi đàm luận nhân tình thế thái. Nhưng đối với người con rể khi đang ở rể trong nhà bố mẹ vợ họ không được ngồi vào bếp. Đây là một điều kiêng kỵ xuất phát từ lòng tôn trọng và yêu quí con rể của gia đình nhà vợ, họ không muốn con rể của mình phải làm những công việc bếp núc.

Hiện nay nhà cửa của người Chứt (nhóm Mã Liềng) chủ yếu do Nhà nước hỗ trợ. Tuy nhiên, đối với những gia đình chưa nhận được sự hỗ trợ đó, họ phải làm nhà. Dù ngôi nhà đơn giản người Chứt (nhóm Mã Liềng) cũng tiến hành đầy đủ các nghi lễ.

Như vậy, qua việc tìm hiểu nghi lễ, tín ngưỡng của người Chứt (nhóm Mã Liềng) có thể thấy thấy tín ngưỡng đó thuộc nhiều loại pha trộn, chồng chéo với nhau. Nhưng từ những hình thức phức tạp đó, chúng ta vẫn thấy dấu ấn của một trình độ tư duy, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của tộc người.

Ngày nay, cùng với công việc xây dựng cuộc sống mới những tín ngưỡng, tôn giáo chỉ còn lại trong kỷ ức của người già như một tàng tích của thời qúa khứ. Tuy nhiên, do đời sống kinh tế của đồng bào quá nghèo nàn, lạc hậu nhận thức còn thấp kém, thì các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng vẩn còn cơ sở để tồn tại.

Theo Langvietonline.vn

Kiểu tìm hiểu nhau độc đáo của dân tộc Chứt

Phong tục cưới xin của người Chứt có nhiều nét khá độc đáo, trong đó trai gái người Chứt có cách tìm hiểu nhau thuộc loại “độc nhất vô nhị”.
Theo thống kê, trên cả nước, dân tộc Chứt có 6.000 người. Về phong tục cưới xin của người Chứt có nhiều nét khá độc đáo, trai gái người Chứt có cách tìm hiểu nhau thuộc loại “độc nhất vô nhị” trong số 54 dân tộc ở Việt Nam.

Khi người con trai thầm yêu, trộm nhớ một người con gái nào đó mà muốn lấy về làm vợ, người con trai sẽ một mình vào rừng, tìm chặt một bó củi, rồi bó gọn gàng, sau đó mang về đặt trước cửa nhà cô gái. Đồng thời chàng trai phải giữ bí mật không cho các chàng trai khác trong bản được biết.

Theo quan niệm của người Chứt thì bó củi càng đều, càng đẹp, gọn gàng thì chứng tỏ chàng trai là một người chăm chỉ, cẩn thận.

Nếu gia đình cô gái đồng ý lời cầu hôn đó thì sẽ mang bó củi vào nhà bếp. Và từ đó, người con trai có quyền được đến ăn ở như vợ chồng với cô gái cho dù chưa tiến hành lễ cưới hỏi. Và ngược lại, nếu sáng hôm sau, chàng trai thấy bó củi vẫn để nguyên thì chàng trai có thể mang bó củi về chờ dịp tìm hiểu và cầu hôn người con gái khác.

Khi bước đầu thành công, chàng trai sẽ về nhà thưa chuyện với bố mẹ, đến đặt vấn đề với gia đình người con gái để đón vợ về.

Tùy vào điều kiện từng gia đình mà cách tổ chức đám cưới cũng khác nhau. Đối với những gia đình có chút điều kiện, họ sẽ làm vài mâm cơm, giết con lợn để mời cả dân làng tới uống rượu mừng hạnh phúc cho đôi bạn trẻ. Sau lễ cưới, vợ chồng ăn ở tại nhà gái năm ngày đêm. Sau đó, về nhà trai ăn ở ba ngày đêm. Khi hết hạn quy định, vợ chồng quỳ lạy cha mẹ chồng, được cha mẹ cho phép mới được quyền tự do đi lại.

Đối với nhiều người con trai, sau lễ hỏi, họ chưa đủ điều kiện để làm lễ cưới thì có thể xin ở rể. Khi ở rể, họ đến sinh hoạt ở gia đình nhà gái như một thành viên chính thức. Chàng trai này vừa phải lao động cho nhà gái vừa phải tiết kiệm của cải làm được để tổ chức lễ cưới bắt buộc. Trong thời gian ở rể, đôi vợ chồng chưa chính thức đó có thể sinh con, đẻ cái như những đôi vợ chồng khác đã tổ chức lễ cưới. Thời gian ở rể tùy thuộc vào việc chuẩn bị lễ cưới của người con trai đã đủ hay chưa.

Dường như việc trai gái yêu nhau, rồi về ở với nhau của người Chứt mang một nét gì đó giản dị, hoang sơ, đậm chất núi rừng. Tình yêu giữa trai gái người Chứt tự nhiên, mộc mạc, chân thành như chính bản chất con người nơi đây vậy.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn
 

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Món cơm Pồi của dân tộc Chứt

Người Chứt có món cơm pồi được chế biến rất công phu. Nguyên liệu để làm món cơm pồi gồm: ngô hạt, lúa nếp nương, sắn củ...



Người Chứt giã nếp chế biến món cơm pồi 

Dân tộc Chứt hiện có 1.204 hộ với 5.438 khẩu, gồm 5 nhóm địa phương: Sách, Mày, Rục, A rem, Mã liềng, cư trú chủ yếu ở các huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá, Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình). Cũng như các dân tộc khác trong vùng, lương thực chủ yếu của dân tộc Chứt là ngô, sắn, lúa nương và các loại củ quả (chất có bột) được khai thác trong rừng.
Người Chứt có món cơm pồi được chế biến rất công phu. Nguyên liệu để làm món cơm pồi gồm: ngô hạt, lúa nếp nương, sắn củ. Ngô hạt ngâm nước trong khoảng nửa ngày, vớt ra để ráo, rồi cho vào cối giã mịn; lúa nếp nương giã loại bỏ vỏ trấu rồi giã gạo mịn thành bột; sắn củ bóc vỏ, thái mỏng, ép dập, vắt kiệt nước. Khi các nguyên liệu đã chuẩn bị xong, đồng bào trộn đều nguyên liệu với một ít nước lã, muối rồi cho vào ống tre, lấy lá chuối rừng nút chặt phần miệng để giữ nhiệt cho cơm mau chín. Để cho ống khỏi nứt, đồng bào dùng dao tước bỏ phần vỏ cứng bên ngoài của ống tre. Những ống tre đặt trên lửa than độ một giờ đồng hồ. Đến lúc có mùi thơm toả ra là cơm pồi đã chín. Cách nấu này giống với cách nấu cơm lam của một số DT thiểu số của các tỉnh phía Bắc, chỉ khác thành phần nguyên liệu.
Cách nấu thứ hai là bỏ các ống tre có đựng cơm pồi vào nồi, dựng miệng ống có bịt lá chuối lên trên, đổ nước vào đun cho đến khi nào toả ra mùi thơm là được.
Cách nấu thứ 3 giống cách đồ xôi của người Việt. Hiện nay cách nấu này tương đối phổ biến bởi vì tiện dụng. Nguyên liệu được cho vào chiếc chõ bằng gỗ, giữa chõ đặt một tấm phên nứa, lót lá chuối rừng trước khi đổ nguyên liệu vào đồ lên.
Trong 3 cách nấu trên thì cách hơ than có hương vị đặc biệt nhất: cơm pồi có vị thơm của lớp lụa tre rừng, độ dẻo cao.
Đồng bào Chứt thường ăn cơm pồi với canh rau rừng, nấu với các loại cá, ốc hoặc thịt thú rừng chặt thành miếng vừa phải đem nướng hay ướp muối, cho vào ống tre vùi trong lửa than.
Theo Cema.gov.vn

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

Dân tộc Chứt




Dân tộc Chứt ở nước ta có trên 7.000 người, phân bố chủ yếu ở Quảng Bình. Mời các bạn xem video để tìm hiểu thêm về dân tộc Chứt.