Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Đan Lai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Đan Lai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2018

Vẻ đẹp “nguyên thủy” của tộc người Đan Lai

Tộc người Đan Lai là một trong những dân tộc ít người của Việt Nam, hiện chỉ sinh sống tại một số điểm ở huyện miền núi Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Theo truyền thuyết, thời phong kiến xa xưa, người Đan Lai cũng sống ở đồng bằng, nhưng bị các “chúa đất” bắt đóng thuyền có tay chèo bằng vàng, nếu không đóng được sẽ bị giết.

Vì biết đây là cái cớ để “chúa đất” diệt người mình, nên người Đan Lan đã dắt díu nhau ngược lên vùng thượng nguồn sông Giăng, “đi đến nơi không thể đi được nữa”. Vùng đất ấy bây giờ là bản Búng, bản Cò Phạt, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, giáp biên giới Việt-Lào.

Nhiều người biết đến tộc người Đan Lai với những tập tục kỳ lạ như ngủ ngồi, trẻ con sinh ra phải nhúng xuống suối,… Ngày nay, những tập tục kỳ lạ ấy đã được bỏ, người Đan Lai cũng được tiếp nhận ánh sáng của thế giới văn minh bên ngoài, nhưng trong họ vẫn còn những vẻ đẹp hoang sơ, “nguyên thủy” của tộc người mình.
 
Ngày xưa, để vào được bản Búng chỉ có con đường duy nhất là vượt sông Giăng với nhiều ghềnh thác hiểm nguy

Bản Búng hoang sơ, yên bình

Buổi sáng dưới chân cầu thang nhà sàn trong bản Búng

Thấy người lạ vào bản, phụ nữ  và trẻ em ngơ ngác nhìn và cười

Thiếu nữ Đan Lai e lệ nép vào một góc nhà khi thấy người lạ

Bà và cháu bên cửa sổ

Một bà mẹ trẻ người Đan Lai. Ngày xưa, chuyện tảo hôn, hôn nhân cận huyết, đẻ nhiều là chuyện "đương nhiên" của tộc người chỉ sống trong rừng, không biết đến thế giới bên ngoài

Những ánh mắt phía sau song cửa. Với người Đan Lai xưa, thế giới bên ngoài chỉ là mặt trời đi qua mặt trăng đi lại

Bến nước của trẻ em Đan Lai. Ngày xưa, khi sinh ra trẻ được nhúng nước suối để thử thách với sự sống chết, lớn lên được dạy trèo cây lội suối để biết "nằm ngửa thấy ong nằm nghiêng thấy cá"
Theo sggp.org.vn
 

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018

Nhận diện tộc người Đan Lai còn lại duy nhất ở Nghệ An


Bảo tồn và phát triển tộc người Đan Lai: Bản đề án dang dở – Kỳ 1

Bản Búng một buổi sáng đầu mùa hè. Chúng tôi gặp Lê Văn Chín khi chàng trai 27 tuổi này đang vác dao vào rừng chặt mét.
“Ta đi chặt mét về làm nhà mấy (mới) cho anh trây (trai). Nhà cũng được đông người ở nhưng lại không được rộng” – chàng trai hiện là Phó bản Cồn vui vẻ thông báo. Cũng xin nói thêm bản Cồn là điểm dân cư lẻ thuộc bản Búng – cộng đồng Đan Lai sinh sống đầu nguồn khe Khặng, thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát (Con Cuông).
Cũng như nhiều người Đan Lai khác, Lê Văn Chín có vóc người vừa phải, da xạm đen, có lẽ nét đặc trưng nhất của chàng trai này là có hàm răng trắng và khuôn miệng cười gần gũi.
“Anh làm cán bộ bản lâu chưa ?” – Tôi hỏi Chín. Lại cười: “Cũng chưa được lâu, từ năm ngoái thôi”.
Chúng tôi đứng giữa bản Búng trò chuyện, xung quanh là những ngôi nhà tranh tre làm theo kiểu nhà sàn, cột kèo, sàn, vách phần lớn đều làm từ tre nứa, hiếm hoi lắm mới nhìn thấy một vách nhà thưng bằng ván gỗ mỏng. Con đường đất gồ ghề chạy dọc theo 112 nóc nhà tranh mọc sin sít nhau khiến có cảm tưởng chật chội quá đỗi. Mà chật thật. 500 con người chen nhau trên một thẻo núi hơi bằng phẳng, đã thế cái nắng đầu mùa nó vừa dội lên màu vàng đỏ của bụi, của mái tranh vừa nhúc lên những khí thải nặng mùi khiến không gian càng như ních thêm những bức bối. Sự tuềnh toàng, giản đơn đến hoang sơ, tạm bợ là cảm nhận đầu tiên của bất cứ ai mới lần đầu đặt chân đến cộng đồng này.
Lê Văn Chín không mời khách đến nhà mình hoặc vào nhà ai đó. Có vẻ như người Đan Lai không có thói quen này. Ngó quanh bản Búng thấy có rất nhiều người đang ở nhà, nhất là phụ nữ và trẻ em, vài nhóm đàn ông còn tụm lại ngồi uống rượu với vài thứ quả gì đó vừa hái được.
“Mọi người không đi làm à?” – Tôi hỏi Chín. “Có làm chi, hết mùa rồi” – Chín đáp. “Vậy không ai đi măng sao?” – Tôi ngần ngừ. Đến đoạn này thì Chín chuyện trò cặn kẽ hơn: “Dừ bắt đầu vào mùa oong. Hết mùa con oong rồi mới được đến mùa măng”. Tôi lại hỏi: “Dân bản có đói nhiều không?”. Vẫn cách nói luôn có chữ được trong câu, Chín sửa lại chiếc dao bên hông rồi ngó tôi cười thật bụng: “Nói đói thì cũng được đói, nói no cũng không được no. Ngày mùa có lúa, có măng thì không được đói, hết mùa thì không được no”.
Tôi cũng hỏi người phó bản chưa đến 30 tuổi nhưng có tới 5 đứa con này là bản có ai phải ngủ ngồi như truyền thuyết về người Đan Lai hay không. “Đó là chuyện ngày trước, nhưng có lẽ cũng đúng đấy” – Bỗng chốc Chín trở nên trầm tư khi nhắc đến cội nguồn của mình.
Theo truyền thuyết, thuở xưa trên vùng đất Hoa Quân, Thanh Chương có một dòng họ La (hoặc Lê) lành hiền, tốt bụng. Con cháu của dòng họ lại được biết đến là những người hay lam, hay làm. Một ngày, chúa đất Hoa Quân tham lam, gian ác gọi trưởng tộc họ La đến yêu cầu trong vòng 1 tháng phải cống nạp cho hắn 1 chiếc thuyền liền mái chèo cùng 100 cây nứa bằng vàng. Nếu không có những vật phẩm ấy cống nạp thì chúa đất sẽ sát hại cả dòng họ.
Trước đòi hỏi của tên bạo chúa miền Hoa Quân, con cháu họ La phân công nhau đi kiếm tìm nhưng không được. Sau nhiều ngày kiếm tìm trong vô vọng, người họ La đi đến quyết định: Phải bỏ mảnh đất chôn rau cắt rốn mà đi biệt tích. Có như vậy mới mong thoát khỏi kiếp nạn.
Trong đêm tối, trẻ già, trai gái, vợ chồng, cha con dắt díu nhau nhằm hướng Tây mà chạy. Tiếng khóc than thấu trời. Từ đất Hoa Quân họ ngược theo sông Giăng gồng gánh trốn cái họa diệt thân. Đêm đi ngày ngủ, họ còn không dám bén mảng gần những nơi có cư dân sinh sống để tránh bị phát hiện. Những lúc dừng chân, họ không dựng lán mà chỉ nấp dưới các bụi cây, chặt lá chuối làm mái che, khi nào lá héo lại tiếp tục di chuyển. Để cảnh giới, tránh thú dữ, người họ La ngủ ngồi ngay bên bếp lửa. Họ dùng cây gậy nhỏ, giữ lại một đoạn mắt nhánh rồi chống xuống bên bếp lửa, khi ngồi ngủ sẽ gác cằm lên nhánh gậy, vừa không để ngã vào bếp lửa lại có thể linh hoạt trong việc đề phòng thú săn mồi và người lạ.
Đến một ngày kia khi đã thấy đủ an toàn mọi người dừng lại. Đó là nơi núi cao, đèo sâu, là chốn sơn cùng, thủy tận. Ví trí mà dòng họ La quyết định trú chân lâu dài chính là thượng nguồn sông Giăng, hay còn gọi là khe Khặng. Nơi này cũng là đầu nguồn của dòng khe Búng chảy từ Lào trước khi đổ vào khe Khặng.
Một giả thuyết khác. Người Đan Lai thuộc nhóm dân tộc Thổ. Sinh sống ở khu vực miền Tây Nghệ An, dân bản địa vẫn gọi cộng đồng Đan Lai là người Tày Poọng. Và nếu đúng như giả thuyết này thì người Tày Poọng không chỉ có ở huyện Con Cuông mà còn được tìm thấy ở huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, thậm chí cả trên đất Lào. Sở dĩ một số nhà dân tộc học cho rằng người Đan Lai và Tày Poọng là một là do cả hai cộng đồng này có nhiều nét tương đồng như: ngôn ngữ đến 60% là vay mượn của dân tộc Thái; kiến trúc nhà ở, tính cách, tập tục cũng khá tương đồng. Và nhóm người này cũng không có bản sắc rõ rệt nên không được công nhận là một dân tộc riêng biệt.
Nếu căn cứ vào các tài liệu được phổ biến lâu nay thì người Đan Lai chỉ có ở huyện Con Cuông (Nghệ An). Với khoảng 3.000 người họ, sinh sống rải rác ở các xã: Môn Sơn, Châu Khê và Lạng Khê. Trong đó, tại xã Môn Sơn hiện có gần 1.000 người sống tại bản Búng và bản Cò Phạt, thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát. Đây cũng là khu vực có đường biên giới Việt – Lào.
Chỉ cách huyện lỵ Con Cuông khoảng 40 cây số và cách trung tâm xã Môn Sơn non nửa số đó nhưng bản Búng và Cò Phạt gần như thuộc một thế giới riêng. Trước năm 2017, để vào đến 2 bản thuộc tộc người Đan Lai này duy nhất chỉ có cách đi thuyền vượt ghềnh thác khe Khặng. Và vài chục năm về trước, người Đan Lai ở khe Khặng thậm chí được xem như là nhóm thổ dân giữa rừng sâu. Trên vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, phương thức sinh sống của họ là săn bắt, hái lượm, cuộc sống dựa hẳn vào tự nhiên. Không điện, đường, trường, trạm… người Đan Lai ở khe Khặng thuở trước tuyệt nhiên không biết về điều gì khác ngoài tán cây rừng. Và điều này nữa, người ta nói đến tộc người Đan Lai là nói đến tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết. Con anh lấy con em, con chú lấy con bác, con dì con già thành hôn với nhau… thực tế này khiến cho tộc người Đan Lai càng ngày càng suy thoái, giống nòi đứng trước nguy cơ bị triệt tiêu.
Với mục tiêu bảo tồn bền vững tộc người Đan Lai gắn với đảm bảo an ninh biên giới, bảo vệ rừng Quốc gia Pù Mát…, ngày 19/12/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 280/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người thiểu số Đan Lai hiện đang sinh sống tại vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”. Đề án có thể coi là một sự “cứu cánh” đối với tộc người “ngủ ngồi” trên thượng nguồn sông Giăng. Tuy vậy sau hơn 10 năm, kết quả đạt được còn khiêm tốn so với thực tế..
Bài và ảnh: Đào Tuấn – Nhật Lân – Diệp Phương
Thiết kế và kỹ thuật: Hà G

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Tộc người ngủ ngồi, xác chết đóng khố ở Pù Mát

Những tập tục như ngủ ngồi, đẻ ngồi; người chết ở trần, đóng khố không có áo quan... vẫn đang tồn tại ở tộc người Đan Lai giữa vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát.


1. Vừa nghe chúng tôi hỏi về nguồn gốc của tộc người Đan Lai, thầy giáo La Đình Thám, 67 tuổi, nguyên giáo viên Trường tiểu học Môn Sơn 3 (xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, Nghệ An), kể lại truyền thuyết của dân tộc mình: Từ thời xa xưa lắm rồi, có một chàng trai nghèo họ La, bỏ làng Đan Nhiệm (huyện Nam Đàn) ngược lên miền Hoa Quân (huyện Thanh Chương) tìm vợ rồi ở luôn tại đó, sinh con đẻ cháu ngày một đông đúc.
Khách du lịch ngược sông Giăng vào thăm tộc người Đan Lai.
Khách du lịch ngược sông Giăng vào thăm tộc người Đan Lai.

Nhờ tính hay lam hay làm nên đã có của ăn của để. Sự giàu có của dòng họ này đã đẩy con cháu mình vào một bi kịch. Do ghen ăn, tức ở, bọn chức dịch trong làng đã dùng mưu gian, kế hiểm đẩy dòng họ La vào bước đường cùng. Khi dòng họ La đang sống yên bình, thì bỗng có chiếu vua ban xuống, quan sức về làng. Trong chiếu nhà vua bắt dòng họ La trong vòng 10 ngày phải nộp cho triều đình một chiếc thuyền liền mái chèo và 100 cây nứa vàng nếu không cả họ sẽ bị chém đầu.

Để tránh họa đầu rơi, máu chảy, cả dòng họ La, già trẻ, gái bằng được trai vội vã bủa vào rừng thiêng, nước độc tìm kiễm lễ vật ấy cho vua. Nhưng họ cứ đi, đi mãi, ngày đêm không nghỉ, lục tìm hết cả đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ mà vẫn không thể tìm ra được những sản vật quái gở ấy... Tay không trở về làng khi thời hạn đã gần hết, nhân một đêm tối trời cả dòng họ La bàn nhau bỏ trốn.

"Theo dấu chân nai/ đi gieo hạt lúa/ theo dấu chân hổ/ đi trồng hạt ngô/ lang thang đầu suối/ bâng khuâng lưng đèo/ sống đời nghèo khổ/ như dòng suối nhỏ/ như gió rừng chiều..."
Họ ngậm ngùi bồng bế, dắt nhau rời làng trốn vào rừng sâu, họ ngược dòng sông Giăng đi mãi, đi mãi đến tận nơi sơn cùng thuỷ tận đến khi tối mịt, cả đoàn người mệt mỏi mới dám tựa vào gốc cây, hang đá nghỉ lưng chờ trời sáng để đi tiếp. Điểm dừng chân cuối cùng của họ là một vùng núi non hiểm trở, cây cối hoang sơ, không có một dấu chân người, đó là vùng lõi của Vườn quốc gia Pù Mát bên dòng sông Giăng đầy thác ghềnh hung dữ.

Ngày đó nơi họ dừng chân chỉ có thú dữ và chim chóc, không có một bóng người lai vãng. Hy vọng sẽ không ai biết họ ở đây để báo cho vua chúa đem quân đến giết hại nữa, dòng họ La quyết định “đóng đô” lại đây.

Cuộc đào tẩu vào giữa đại ngàn Trường Sơn của tộc người Đan Lai đã được đưa vào bài cúng tổ tiên: “Theo dấu chân nai/ đi gieo hạt lúa/ theo dấu chân hổ/ đi trồng hạt ngô/ lang thang đầu suối/ bâng khuâng lưng đèo/ sống đời nghèo khổ/ như dòng suối nhỏ/ như gió rừng chiều...”.

2. Theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Trần Vương, thì cuộc chạy trốn bất đắc dĩ và đầy bi thương này đã đẩy tộc người này cách ly với đời sống xã hội đương đại của dân tộc khiến họ rơi vào cảnh bần cùng, khốn khó giữa chốn rừng thiêng, nước độc. Để tồn tại và duy trì nói giống của mình, những con người thậm khổ này bắt buộc phải quay trở lại kiếp sống hái lượm của thời hồng hoang và phải chấp nhận hôn nhân cận huyết. Hằng ngày họ phải vạt cây gỗ để làm dụng cụ săn bắt, hái lượm, lấy vỏ cây rừng làm khố, đào củ mài, tìm củ nâu trong rừng để sống qua ngày.

Cả chiều dài lịch sử đằng đẵng lánh nạn giữa nơi thâm sơn cùng cốc, dòng họ La dần dần giao tiếp được với một số dân tộc thiểu số bản địa như người Thái, người Thổ, họ chấp nhận lai tạp thêm vào tiếng mẹ đẻ của mình các từ ngữ của các dân tộc khác để che giấu thân phận và nguồn gốc của mình.
Trẻ con Đan Lai làm quen với cuộc sống săn bắt, hái lượm.
Trẻ con Đan Lai làm quen với cuộc sống săn bắt, hái lượm.

Họ tự đặt tên tên cho dòng họ của mình là Đan Lai. Đan là ý muốn chỉ tộc người của mình xuất phát ở làng Đan Nhiệm, còn Lai ý nói là mọi thứ kể cả con người, tiếng nói, phong tục đều đã bị “lai tạp”. Đây là lý do giải thích vì sao tiếng nói của tộc người này là một thứ thổ âm lai tạp giữa Mường - Việt ngữ cổ. Bị cách biệt với thế giới bên ngoài hàng trăm năm nên dần dần họ quên cả tiếng nói mẹ đẻ, quên cả chữ viết, phương thức canh tác nông nghiệp và cả nét văn hoá của dân tộc mình... Đây là những nguyên nhân hình thành những phong tục, lối sống rất khác lạ với đời sống hiện đại.

Thầy giáo La Đình Thám giải thích thêm: Cả tộc người Đan Lai sinh sống chủ yếu bằng hái lượm giống như thời hồng hoang nguyên sơ của loài người nên họ đã duy trì nhiều tập tục xa lạ với các dân tộc khác. Khi chết người Đan Lai không được mặc quần áo, chỉ đóng khố, không dùng hòm vỏ để chôn cất, ngủ ngồi, con cháu trong cùng dòng họ lấy nhau, sinh con đẻ cái là chuyện quá bình thường...
Tám đứa trẻ của 1 gia đình người Đan Lai .
Tám đứa trẻ của 1 gia đình người Đan Lai .

Ông Thám kể câu chuyện về người bác ruột tên là La Văn Khằm. Năm 1960, khi đang làm cán bộ HĐND huyện Con Cuông, ngày nghỉ ông Khằm về thăm gia đình và bị ngã bệnh qua đời đột ngột. Dịp đó, lãnh đạo huyện đưa hòm gỗ về bản để làm thủ tục khâm liệm cho người quá cố, nhưng từ người nhà đến già làng, dân bản đều nhất quyết cự tuyệt. Họ quan niệm rằng chôn cất ông Khằm bằng hòm gỗ là sai lệ làng và khi xuống cõi âm người chết sẽ không được tổ tiên chấp nhận.

Trước sức ép của chính quyền, ông Khằm đã được nhập quan, nhưng khi chôn cất xong, cán bộ huyện vừa ra khỏi bản thì dân bản đào huyệt đưa lên xác ông Khằm lên để làm thủ tục chôn trần theo phong tục của dân bản...

Phụ nữ Đan Lai mới 13-14 tuổi đầu đã lấy chồng. Một mình vào rừng “vượt cạn” đẻ ngồi trong cái chòi dựng tạm giữa rừng. Đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ, dù là nắng hay mưa, dù cho rét căm căm đến ghê người vẫn mẹ đem xuống suối để tắm 3 lần. Đến khi da dẻ bị tím tái, nếu đứa trẻ vẫn còn sống sót thì mới đưa về nhà nuôi.

Những đứa trẻ Đan Lai đứa nào cũng có đôi mắt rất đẹp, xanh trong như dòng nước sông Giăng nhưng hễ gặp người lạ là chúng đều cúi gằm mặt xuống. Dường như sự mặc cảm về thân phận của cả tộc người đã ăn sâu trong tâm hồn của bọn trẻ giữa chốn thâm sơn cùng cốc này.

3. Tộc người Đan Lai có tập tục lạ lùng là không bao giờ ngủ nằm. Tục ngủ ngồi ăn sâu vào máu thịt từ người già đến trẻ con trở thành thói quen của tất cả mọi người.

Già làng La Văn Quyết giải thích, tục ngủ ngồi xuất phát từ việc phải thường trực ý thức trốn chạy thật nhanh nếu bị quan quân chế độ phong kiến vây bắt. Đó cũng là cách để giúp họ hàng ngày chống chọi với muông thú hoang dã đang rình rập. "Nhờ tục ngủ ngồi mà người Đan Lai tồn tại được đến ngày hôm nay đấy", già Quyết nói.

Từ hơn 300 trăm năm tộc người Đan Lai đã luôn sống trong cảnh không có nhà, chỉ lấy cành cây dựng tạm thành cái lều ở tạm cho đến khi hỏng thì mới làm lại. Mỗi khi màn đêm buông xuống, trong túp lều tạm bợ ấy, cả gia đình họ chỉ dám ngồi quây quần bên đống lửa để canh chừng thú dữ tấn công.
Tục ngủ ngồi của người Đan Lai.
Tục ngủ ngồi của người Đan Lai.

Lâu dần thành thói quen, ngồi thâu đêm như vậy ai cũng mệt nhoài, chỉ dám tranh thủ chợp mắt để khi có thú đến còn có đà chạy vào rừng sâu lẩn trốn. Chính vì thế, cho đến tận bây giờ, ngủ ngồi đã thành một tập tục của tộc người Đan Lai. Trẻ con lớn lên chỉ cần biết ngồi vững là đã phải học cách ngủ ngồi.

Người Đan Lai không chỉ ngủ ngồi quanh bếp lửa, tộc người này còn có thể ngủ trên cây mỗi khi đi săn bắt, hái lượm không kịp về bản. Theo già Quyết, cứ mỗi chuyến đi săn ít nhất cũng tới vài ngày. Những lúc như vậy những người đi săn thường phải trèo lên cây cao để ngủ nhằm tránh thú dữ. Chỉ cần vài ba đoạn cây buộc vào nhau làm điểm tựa là họ ngủ ngồi suốt đêm trên cây.

“Tục ngủ ngồi đã được truyền qua bao đời nay nên người dân trong bản không có thói quen nằm giường. Cả bản Cò Phạt có hơn 70 nóc nhà, nhưng chẳng nhà nào mua sắm giường chiếu. Mới đây, do được tuyên truyền vận động, cũng có nhà trong bản sắm giường, nhưng khi ngả lưng nằm lại thấy rất khó chịu, đau lưng nên đã quay sang ngủ ngồi”, già Quyết nói.
Thượng tá, Nguyễn Văn Vượng, Đồn trưởng Đồn biên phòng Môn Sơn (Đồn 555), cho biết: Hiện số người Đan Lai tại huyện Con Cuông có khoảng 708 hộ với 3.277 nhân khẩu. Trong đó riêng xã Môn Sơn có 217 hộ với 1.075 nhân khẩu sống tập trung chủ yếu ở 3 bản: Cò Phạt, Khe Cồn và bản Búng thuộc của xã Môn Sơn (217 hộ), số còn lại sống ở 2 xã Lục Dạ (55 hộ) và Yên Khê (36 hộ). Từ năm 2008 đến nay, tộc người Đan Lai được Nhà nước quan tâm giúp đỡ rất nhiều.

Do quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” nên người Đan Lai sống phóng khoáng như núi rừng, cỏ cây, mỗi cặp vợ chồng cưới nhau từ khi mới 13-14 tuổi nên bình quân họ từ 4 đến 6 người con, cá biệt có cặp vợ chồng sinh tới 13 đứa con
.Theo NNVN

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Ngủ 'lạ' của người Đan Lai

Đã trải qua hàng trăm năm nay, người Đan Lai (huyện Con Cuông, Nghệ An) vẫn đang tồn tại một thói quen “có một không hai” là... ngủ ngồi.


Để vào được “xứ sở” của người Đan Lai đang sinh sống giữa vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát thuộc xã Môn Sơn, chỉ có một con đường độc đạo là vượt sông Giăng. Từ chân đập Phà Lài, phải đi mất hàng giờ đồng hồ gieo mình trên những đoạn dốc đá, thác ghềnh hiểm trở mới có thể vào được trong bản Cò Phạt. Vốn là con đường duy nhất để người dân Đan Lai có thể giao lưu, buôn bán mỗi lần xuống xuôi. Chính vì vậy, dòng sông Giăng đã có nhiều người phải “hiến” thân cho hà bá.

100 cây nứa vàng và cuộc chạy đuổi ngoạn mục
Từ xưa đến nay, người Đan Lai vẫn sống như một bộ lạc. Mọi sinh hoạt của người dân tồn tại theo kiểu trao đổi hàng hóa, không giao tiếp với xã hội bên ngoài. Chính vì điều này, cuộc sống của người dân quanh năm nghèo khó và thiếu thốn. Trẻ con trong bản lớn lên không được đến trường. Đứa mới nứt mắt ra đã theo bố vào rừng săn bắt, hái lượm. Cái ăn trong ngày được người dân ví như những câu dân ca Đan Lai đã ăn sâu vào tiềm thức mọi người: “Theo dấu chân nai/ Bỏ vào hạt lúa/Theo dấu chân cọp/ Cắm vào hạt ngô/ Lang thang đầu suối/ Đìu hiu lưng đèo/ Như dòng suối nhỏ/ Như gió rừng chiều …”.
Già Quyết đang kể về truyền thuyết người Đan Lai.

Già làng La Văn Quyết nâng chén rượu uống cái ực, rồi hướng mắt về phía xa xăm nơi hạ nguồn sông Giăng, chậm rãi kể về truyền thuyết ra đời của tộc người Đan Lai. Xưa kia, người Đan Lai sống ở miền Hoa Quân, nay thuộc huyện Thanh Chương của Nghệ An. Ngày ấy, nơi đây từng có một bạo chúa vô cùng độc ác chuyên đi hành hạ mọi người. Một hôm, bạo chúa này mới bắt dòng họ La (tộc người Đan Lai bây giờ) phải tìm cho ra 100 cây nứa bằng vàng và một chiếc thuyền chèo liền mái, nếu không sẽ bị giết chết cả dòng họ. Thừa biết bạo chúa có ý đồ muốn hãm hại dòng họ mình, không còn cách nào khác cả dòng họ La đành phải trốn mới hi vọng thoát thân.
Trong một đêm vắng, dòng họ La đã rời làng trốn đi thật xa vào trong rừng sâu. Họ không biết phải đi đâu và cứ đi đi mãi cho đến khi nào trời tối mịt đến khi mệt không thể đi được nữa thì tựa vào gốc cây, hang đá nghỉ lưng. Cuối cùng, điểm dừng chân của họ là vườn quốc gia Pù Mát bên dòng sông Giăng hung dữ. Ngày đó nơi đây chỉ toàn thú dữ, chim chóc, không có con người sinh sống. Dòng họ La quyết định “đóng đô” tại đây, với hi vọng không ai biết họ và không để bạo chúa tìm thấy giết hại. Mãi một thời gian dài khi có người tình cờ vào trong rừng thì phát hiện ra có tộc người sinh sống. Khi bị phát hiện, dòng họ La lại tiếp tục lẩn trốn sâu hơn vào vùng lõi vườn quốc gia cho đến bây giờ và từ đó lấy tên người Đan Lai.
Già Quyết cho biết: “Sở dĩ có tên người Đan Lai là vì từ Đan là lấy lại của từ Đan Nhiệm, tên làng của tổ tiên ngày xưa. Từ Lai nghĩa là lai tạp, vì bao thế hệ người Đan Lai sinh sống với các dân tộc khác nên phải che dấu thân phận”.
Hiện, số người Đan Lai có khoảng 3.000 người sống tập trung chủ yếu ở 3 bản: Cò Phạt, Khe Cồn và bản Búng thuộc của xã Môn Sơn huyện Con Cuông. Những năm qua người Đan Lai được nhà nước quan tâm giúp đỡ, tuy nhiên nhận thức của người Đan Lai vẫn chưa thay đổi nhiều. Họ quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” nên người Đan Lai sống phóng khoáng như núi rừng, cỏ cây. Họ chỉ biết săn bắt, hái lượm, làm bữa nào ăn bữa nấy.
Người Đan Lai sống chủ yếu vào săn bắt, và đào củ mài, củ sắn.

Chỉ ngủ ngồi
Người Đan Lai từ lâu đã quen với việc ngủ ngồi, do từ xưa đến nay họ sống độc lập, tách biệt với thế giới bên ngoài và việc phải phụ thuộc vào thiên nhiên để tồn tại. Già Quyết cho biết, tục ngủ ngồi xuất phát từ việc trốn chạy của bạo chúa trước đây. Khi đó, người Đan Lai vào trong rừng trú ngụ, nơi toàn cọp beo rình rập. Để tồn tại được đến ngày hôm nay, người Đan Lai phải nhờ vào việc ngủ ngồi.
Từ khi mới vào rừng để ở, người Đan Lai không có nhà, chỉ lấy cành cây dựng lên thành cái lều. Mỗi buổi tối đi ngủ, họ chỉ dám ngồi quây quần bên đống lửa để canh chừng thú dữ tấn công. Thời gian lâu thành thói quen, ngồi cả đêm như vậy ai cũng mệt nhoài, chỉ dám tranh thủ chợp mắt để khi có thú đến còn có đà chạy vào rừng sâu lẩn trốn. Cho đến bây giờ, ngủ ngồi đã thành một thói quen của người Đan Lai. Trẻ con lớn lên chỉ cần biết ngồi vững là cũng ngủ ngồi.
Cũng chính vì tục ngủ ngồi mà nhà của người Đai Lai cũng đặc biệt so với nhà của người dân tộc khác. Nhà không phải cao to rộng rãi, nhà sàn như túp lều dựng tạm, xơ xác. Đặc điểm dựng nhà của tộc người Đan Lai phải nằm ở lưng chừng đồi, điều tối kỵ không được dựng nhà ở thung lũng. Trong nhà không có giường chiếu, chăn màn. Khi nào ngủ là cả nhà quây quần ngủ ngồi bên đống lửa suốt đêm.
Ngủ ngồi cũng có nhiều kiểu, ngồi đưa hai tay nắm chặt đầu thanh củi tì vào trán, hoặc hai tay nắm lại, khuỷu tay tì xuống đùi đỡ lấy trán để ngủ, hoặc đẽo cây chàm kê vào dưới cổ để ngủ cho khỏi mỏi…. Thông thường, người Đan Lai vẫn chọn cách ngủ bằng gậy đỡ dưới vùng cổ, chỉ có cách này mới không làm cho người bị mỏi. Trong trường hợp ngủ chợp mắt, thì không cần phải dùng gậy. Thay vào đó, chỉ cần hai tay nắm lại kê vào trán là ngủ ngon lành.
Người Đan Lai còn có thể ngủ trên cây mỗi khi đi săn bắt, hái lượm. Theo già Quyết, cứ mỗi lần người dân trong bản đi săn ít nhất cũng vài ngày. Mỗi lần như vậy người đi săn thường phải trèo lên cây cao để ngủ tránh thú dữ. Chỉ cần vài ba đoạn cây buộc vào làm điểm tựa là họ ngủ ngồi suốt cả đêm. “Tục ngủ ngồi đã được truyền qua bao đời nay nên người dân trong bản không quen nằm giường. Cả bản Cò Phạt có hơn 70 nóc nhà, nhưng chẳng nhà nào mua sắm giường chiếu. Mới đây, cũng có nhà trong bản sắm giường, nhưng nằm thấy khó chịu, đau lưng lại quay sang ngủ ngồi”, già Quyết nói.
Đắc Linh