Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Phú Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Phú Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

Đầu xuân về Đền Lăng Sương tri ân Thánh Tản

(CLO) Khắc ghi công lao to lớn của Tản Viên Sơn Thánh, người dân lập Đền thờ Ngài khắp các vùng miền, quanh năm khói hương tri ân công đức. Nhưng chỉ duy nhất Đền Lăng Sương thờ cả Ngài và thân mẫu cùng các bộ tướng là Cao Sơn và Quý Minh.

Người Việt mấy ai không biết truyền thuyết Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh, con rể của Hùng Vương thứ 18, người có công giúp dân trị thủy, khai hóa đất hoang, trồng lúa nước, giết thú dữ, dẹp giặc ngoại xâm, được nhân dân tôn vinh là Thánh, đứng đầu trong “Tứ bất tử” quanh năm khói hương thờ phụng.
Nhưng không phải ai cũng biết đến thân mẫu đã mang nặng đẻ đau ra ngài là bà Đinh Thị Đen và vùng đất thiêng nơi ngài chào đời là Động Lăng Sương nay thuộc xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Tương truyền bà Đen lấy ông Nguyễn Cao Hành, tuổi cao mà chưa có con. Một hôm bà đang tắm có con rồng nhả ngọc phun châu, về nhà thì thụ thai, sau sinh ra Tản Viên. Tản Viên sau đó được một bà họ Bùi nhận làm con nuôi, cho sang núi Ba Vì tu học mà thành tài.
Khi đã là bộ tướng và là phò mã, Sơn Tinh khuyên Vua Hùng thứ 18 nhường ngôi cho Thục Phán để giữ tình đoàn kết, tránh cuộc nội chiến kéo dài không cần thiết rồi về núi Tản sống với vợ là công chúa Ngọc Hoa.
Khắc ghi công lao to lớn của Ngài, người dân lập Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh khắp các vùng miền, quanh năm khói hương tri ân công đức.
Nhưng chỉ duy nhất Đền Lăng Sương thờ cả Ngài, thân mẫu cùng các bộ tướng là Cao Sơn và Quý Minh.
Đền có hai ngày lễ chính trong năm là ngày 15 tháng giêng kỷ niệm ngày sinh Thánh Tản và 25 tháng 10 âm lịch là ngày Thánh Mẫu hóa về trời.
Di tích lịch sử cấp Quốc gia Đền Lăng Sương tại xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Di tích lịch sử cấp Quốc gia Đền Lăng Sương tại xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Được xây dựng từ đời Thục An Dương Vương, đến đời Tiền Lê, Đền Lăng Sương được trùng tu và tới đời Nguyễn được tu sửa lớn. Những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, sự ủng hộ, công đức của các nhà hảo tâm, Khu Di tích Đền Lăng Sương đã được đầu tư xây dựng, tôn tạo khang trang trên tổng diện tích 3.000m2 gồm nhiều công trình kiến trúc như: Cổng Đền, Miếu Hai cô, giếng Thiên Thanh, nhà bia, nhà võng, hai tòa tả - hữu mạc, Đền chính và Lăng Thánh Mẫu…
Năm 2005, Đền Lăng Sương được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Năm 2018, Lễ hội Đền Lăng Sương được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia tại Quyết định số 3325/QĐ-BVHTTDL ngày 04/9/2018 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.
Nối mạch truyền thống đạo lý tri ân công đức tiền nhân của dân tộc, Lễ hội Đền Lăng Sương năm nay được huyện Thanh thủy tổ chức trong 4 ngày (từ ngày 12 đến 16 tháng Giêng năm Kỷ Hợi).
Trong đó phần lễ được tổ chức trang nghiêm, thành kính theo nghi lễ truyền thống với Lễ Cáo tế được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng; lễ dâng hương, dâng hoa, lễ vật được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng.
Nằm trong chương trình về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam, nhằm tạo không khí phấn khởi, nâng cao động lực thi đua sản xuất đầu năm và quảng bá nét đẹp văn hóa, tiềm năng du lịch địa phương, lễ hội còn có các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian đặc sắc: trưng bày các sản vật, tổ chức thi đấu bóng chuyền hơi, bóng chuyền da cùng nhiều trò chơi dân gian.
Công tác bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh an toàn thực phẩm được chính quyền địa phương đặc biệt chú trọng với mục tiêu đảm bảo an toàn mọi mặt cho du khách, kiên quyết loại bỏ các trò chơi mang tính chất cờ bạc trá hình, tạo dựng hình ảnh, ấn tượng đẹp trong lòng du khách thập phương về lễ hội Đền Lăng Sương linh thiêng, đậm sắc màu văn hóa truyền thống, con người Thanh Thủy thân thiện, hiếu khách.
Đầu xuân về Trung Nghĩa dự lễ hội tri ân Thánh Tản, du khách sẽ có thêm những trải nghiệm ấn tượng về truyền thống đạo lý trọng tình, hiếu khách của người dân ven dải Đà giang, dưới bóng non Tản, biết thêm nhiều nét đẹp văn hóa, sản vật độc đáo của địa phương để thêm hiểu, thêm yêu mảnh đất, con người nơi đây.
Và như một lời hẹn ước, đầu xuân lại tìm về đất thiêng Trung Nghĩa dự hội vui, thực hiện đạo lý tri ân công đức các bậc tiền nhân.
T.H

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Chuyện ly kỳ ở miếu thờ sự học cổ nhất Việt Nam

Miếu giáo dục còn có tên cổ được gọi là Thiên Cổ Miếu tọa lạc trên một gò đất cao ở thôn Hương Lan, xã Trưng Vương (Việt Trì, Phú Thọ).
Ngọc phả phát lộ nhờ… cháy
Miếu giáo dục còn có tên cổ được gọi là Thiên Cổ Miếu tọa lạc trên một gò đất cao ở thôn Hương Lan, xã Trưng Vương (Việt Trì, Phú Thọ). Đây chính là vị trí quan trọng thuộc địa phận Kinh đô Văn Lang xưa.
Ông Trương Đình Cáp, thủ từ Thiên Cổ Miếu cho biết, trong làng hiện còn nhiều dấu tích chứng tỏ đây là một vùng từng là trung tâm của sự học xưa kia.Cũng theo ông Cáp, trước những năm 1990 Thiên Cổ Miếu cũng chỉ là một ngôi miếu thờ bình thường.
Thậm chí, chẳng mấy ai đoái hoài đến vì tình trạng cũ nát. Nhiều người còn không biết miếu đó thờ ai và có lịch sử như thế nào. Chỉ thi thoảng có một vài đoàn khảo cổ đến hỏi thăm về một ngôi miếu thờ sự học, nhưng tất cả đều lắc đầu không biết.
Năm 1990, giữa đêm đông mưa phùn gió bấc, không hiểu nguyên nhân gì mà cổ miếu ngùn ngụt bốc cháy. Dân làng thấy thế mới hò nhau dập lửa vì sợ lan sang các vùng xung quanh. Kiểm tra các vật thờ bên trong, người ta đã phát hiện ra một cuốn ngọc phả và sắc phong nhưng đã bị chém lẹm một góc.
Thiên Cổ Miếu tọa lạc trong địa phận kinh đô Văn Lang xưa.
Khi các chuyên gia khảo cổ vào cuộc mới ngỡ ngàng phát hiện đó chính là cuốn ngọc phả và sắc phong cổ. Nội dung ngọc phả có ghi chép rất tỉ mỉ rõ ràng về nhân vật được thờ trong miếu. Thiên Cổ Miếu mấy nghìn năm trước được dựng lên để thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang cùng vợ là Nguyễn Thị Thục.
Bản ngọc phả được viết vào năm Hồng Phúc thứ 2 (1573) đời vua Lê Anh Tông, do Đông Các học sĩ Nguyễn Bính biên soạn như sau: Vào thời Hùng Duệ Vương, ở đất Mộ Trạch có vợ chồng Vũ Công, thuộc gia đình có học.
Cha mẹ mất sớm, cảnh nhà sa sút, hai người lần tìm về đô thành Phong Châu, tới thôn Hương Lan mở lớp dạy học. Dân làng đã cấp cho họ ruộng đất để trả công dạy dỗ.
Vợ chồng Vũ Công sinh hạ được một người con trai là Vũ Thê Lang. Lớn lên, Vũ Thê Lang tìm về người bạn cũ của bố là Nguyễn Công ở đất Đông Ngàn – Kinh Bắc.
Nguyễn Công đã gả cho Thê Lang người con gái yêu của mình là Nguyễn Thị Thục – một cô gái nết na, thạo nghề tơ tằm canh cửi. Khi cha chết, Vũ Thê Lang tiếp tục thay cha dạy học, Thục Nương giúp dân nghề nông trang, canh cửi.
Tiếng lành đồn xa, nhờ học vấn cao và tận tụy với nghề, sống giản dị và mẫu mực nên ông giáo Vũ Thê Lang được vua Hùng thứ 18 giao cho chăm nom việc học hành của hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa.
Tượng thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang.
Mộ cổ dưới ban thờ
Rất nhiều năm sau khi biết Thiên Cổ Miếu là nơi thờ sự học đầu tiên và cổ xưa nhất Việt Nam, các cơ quan chức năng tỉnh Phú Thọ đã lần theo những giả thiết và tìm được tài liệu do người Pháp điều tra về hệ thống đình, đền, miếu mạo còn lưu trữ lại ở Viện Hán – Nôm.
Bản điều tra cho thấy toàn miền Bắc và miền Trung có hơn 40 đền thờ các thầy cô giáo và các học trò thời trước Hán, tức từ thời Hùng Vương đến thời An Dương Vương.
Soi lại những chứng tích sót lại trong Thiên Cổ Miếu và đặc biệt từ cuốn ngọc phả, các nhà nghiên cứu và các nhà khảo cổ đã tìm thấy danh sách 18 thầy giáo thời Hùng Vương.
Đây là lực lượng tạo ra hiền tài cho các vua Hùng và nhà nước Văn Lang xưa.Trong danh sách đó, nổi bật có thầy Lý Đường Hiên, thời Hùng Vương thứ 6 dạy học ở Yên Vĩ, huyện Hoài Nam, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam (nay là Ứng Hòa, Hà Nội).
Người thứ hai là thầy Lỗ Công, thời Hùng Vương thứ 9 là cháu ngoại vua Hùng Định Vương dạy học tại Kinh đô Văn Lang.
Hai ngôi mộ của vợ chồng Vũ Thê Lang.
Theo tìm hiểu của TS Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Bảo tàng Hùng Vương: “Cho đến nay vẫn còn những đền thờ của các thầy giáo và học trò của họ ở khắp miền Bắc. Ví như đền thờ Hải Đường tiên sinh ở huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu; đền thờ Trương Sơn Nhạc, học trò thầy Lỗ Đường tiên sinh ở Thuận Thành (Bắc Ninh)”.
Cũng theo ông Tuấn, Thiên Cổ Miếu xưa kia gần như là một “miếu chủ” thờ người thầy giáo tài đức nhất ở Kinh đô Văn Lang. Ngày nay, ý nghĩa đó đang được khơi dậy khi nhiều người coi đây là chốn về thể hiện sự tôn sư trọng đạo.
Dù rất nhiều tài liệu quý về Thiên Cổ Miếu đã bị mất mát nhưng vẫn có những bằng chứng thuyết phục chứng minh sự tồn tại lâu đời của cổ miếu này.
Từ cuốn ngọc phả và sắc phong đó, người ta phát hiện chính giữa ban thờ Thiên Cổ Miếu là hai ngôi mộ của vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang – Nguyễn Thị Thục.
Một số cuộc họp bàn muốn khai quật hai mộ cổ này, nhưng theo ông Cáp là có nhiều sự kiện lạ xảy ra nên không ai dám kinh động đến người thiên cổ nữa.
Cây táu nghìn năm được công nhận cây di sản.
Hai cây di sản quý
Theo quan sát của chúng tôi, trước Thiên Cổ Miếu có hai cây cổ thụ rất đẹp mắt. Được biết đây là hai cây táu nghìn năm tuổi đã được Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận là cây di sản năm 2012.
Lạ nhất là cây táu phía tay phải miếu cho hoa màu vàng, cây phía tay trái cho hoa màu trắng.Theo thông tin từ ông Nguyễn Văn Loan, Chủ tịch UBND xã Trưng Vương, trong số các cây di sản được công nhận ở nước ta thì 2 cây táu ở Thiên Cổ Miếu được đánh giá là có tuổi đời lâu năm nhất.
Ngoài ra, còn có cây Da Bò (Xoan đào) ở ngoài lăng mộ của 3 con trai thầy giáo Vũ Thê Lang cũng được công nhận là cây di sản. 3 cây cổ thụ cũng là chứng tích chứng minh sự tồn tại thật sự của cổ miếu.
Cũng theo ông Loan, do thời gian quá lâu nên Thiên Cổ Miếu chỉ còn giữ lại được một số cổ vật thời Tự Đức năm thứ nhất gồm hoành phi và câu đối.
Ngoài ra, một số đồ thờ cúng như tượng vợ chồng Vũ Thê Lang, hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa cũng thoát khỏi trận hỏa hoạn năm nào.


Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2018

Những 'ốc đảo' chè đẹp như tiên cảnh ở Long Cốc, Phú Thọ

Đến xã Long Cốc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, du khách sẽ có những trải nghiệm thú vị tại những “ốc đảo” chè - nơi được ví như “Vịnh Hạ Long” của vùng Đất Tổ.





Hiện nay, hơn 600ha trồng chè của Long Cốc được mở rộng theo hướng sản xuất công nghiệp với nhiều giống chè đặc sản như Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, chè Shan tuyết…

Chú thích ảnh

Chú thích ảnh

Chú thích ảnh

Chú thích ảnh

Chú thích ảnh

Chú thích ảnh

Chú thích ảnh

Chú thích ảnh

Trung Kiên (TTXVN)

Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây

TTO - Du khách có dịp đi ngang qua vùng trung du đất tổ Phú Thọ dịp này đừng quên ghé ngắm cảnh đồi chè Long Cốc bồng bềnh trong sương mây.

Bình minh trên đồi chè Long Cốc - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 2.
Đồi chè nhấp nhô trong sương sớm - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc nằm tại huyện Tân Sơn, Phú Thọ, nằm cách Hà Nội khoảng 125km, đang là điểm đến thu hút du khách thời gian gần đây.
Long Cốc được đánh giá là một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam, với hàng trăm, hàng ngàn quả đồi nhỏ. Vào thời điểm giao mùa cuối thu đầu đông, vùng đồi chè bao phủ sương mù huyền ảo.
Nằm dọc hai bên cung đường uốn lượn là những đồi chè trải dài, xanh mướt nhấp nhô bát ngát nối tiếp nhau đến tận chân trời.
Đến Long Cốc, du khách thỏa thích chụp ảnh đồi chè, khám phá hương vị chè và hòa mình vào không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Mường.
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 3.
Sương khói mờ nhân ảnh - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 4.
Một góc đồi chè trong sương mây - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 5.
Thơ mộng vùng đồi chè - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 6.
Lạc vào tiên cảnh Long Cốc - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Những "ốc đảo chè" Long Cốc được mệnh danh là "vịnh Hạ Long vùng Trung du" khi sở hữu những quả đồi chè to lớn và đẹp nhất nằm liền kề.
Mỗi đồi chè có diện tích khoảng 1ha. Từ trên đồi chè nhìn xuống, Long Cốc nằm gọn trong thung lũng, lúc ẩn, lúc hiện trong sương mây.
Vào những buổi sớm mai, sương và mây lang thang trôi bồng bềnh trên đồi chè, xa xa là những đồi núi chạm mây trời tạo nên bức tranh tựa chốn bồng lai tiên cảnh.
"Chụp ảnh đồi chè vào lúc nắng còn chưa lên là đẹp nhất. Lúc này, sương bay là là và còn đọng trên lá, làn mây giăng giăng hờ hững trên đồi chè mang đến một tầm nhìn mờ ảo đẹp lạ kỳ " - nhiếp ảnh gia Phạm Hoàng Cương (Hà Nội) cho biết.
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 7.
Bồng bềnh mây trôi - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 8.
Những đồi chè Long Cốc hình bát úp trải dài - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 9.
Sương mây mờ ảo - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Cây chè được xác định là cây trồng chủ lực đem lại hiệu quả kinh tế cao của Phú Thọ. Tô điểm cho bức tranh thiên nhiên hùng vĩ ấy là những người công nhân vai đeo gùi, đầu đội nón lá đi hái búp chè.
Hái chè cũng là một nghệ thuật. Một công nhân hái chè cho biết sẽ hái ngay khi búp chè vừa "nhoi lên" để hạn chế sâu.
Nhờ sự chịu thương chịu khó cùng với bàn tay tài hoa của người công nhân, nên chè Long Cốc không chỉ mang lại giá trị sản xuất mà còn là tiềm năng phát triển du lịch.
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 10.
Ban mai xanh - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 11.
Khung cảnh yên bình với những đồi chè trải dài - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 12.
Đàn cò trắng xuất hiện giữa khung cảnh yên bình - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 13.
Cỏ dại ở đồi chè - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Cuối tuần, các bạn trẻ thường hẹn nhau check-in đồi chè Long Cốc. Nhiều cặp đôi chọn nơi đây chụp ảnh cưới, cùng nắm tay dạo bước giữa đồi chè và đắm mình trong không gian bao la của một vùng chè bình yên.
"Bộ ảnh này lưu lại những kỷ niệm của tôi sau những chuyến thăm đồi chè Long Cốc. Thật sự tôi rất ấn tượng với vẻ đẹp đến ngỡ ngàng của vùng đất trung du này. Tạm biệt và hẹn sẽ rất, rất nhiều lần nữa quay trở lại" - anh Cương chia sẻ.
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 14.
Thu hoạch chè - Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG
Khi đến Phú Thọ, du khách có thể chọn tour khám phá đồi chè Long Cốc - vườn quốc gia Xuân Sơn, chọn hình thức lưu trú homestay để trải nghiệm cuộc sống văn hóa, biểu diễn văn nghệ và đốt lửa trại cùng người dân Mường bản địa.
Ngoài hương vị chè Trung du truyền thống, chè Shan Tuyết hay chè Bát Tiên, các món ăn đặc sản địa phương phải thưởng thức là gà nhiều cựa, lợn mán, cá suối, vịt suối lam, xôi ngũ sắc hay cơm lam.
Được biết, các đồi chè đội 3 và đội 5 thuộc quyền quản lý của Công ty chè Phú Đa tại Long Cốc có vị trí đẹp, có tầm bao quát và hứa hẹn trở thành những điểm tham quan du lịch sinh thái.
Đồi chè Long Cốc bồng bềnh sương mây - Ảnh 15.
Đường đi tham quan đồi chè Long Cốc xuất phát từ Hà Nội - Ảnh chụp màn hình

Bài: HUỲNH PHƯƠNG. Ảnh: PHẠM HOÀNG CƯƠNG

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Huyền tích kỳ lạ về ngôi đền “phát tích” bài thơ Nam Quốc Sơn Hà

(Kiến Thức) - Sự ra đời của ba vị tam công hay gốc tích hình thành bài thơ được người dân nơi đây xem là “nguyên gốc” của Nam quốc sơn hà là những bí ẩn thú vị gắn liền với ngôi đền Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. 

Huyền tích ra đời của ba vị tam công
Nằm giữa cánh đồng lúa xanh mướt, yên tĩnh, ngôi đền Đào Xá (huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) vẫn trầm mặc lưu giữ những câu chuyện hư hư thực thực quanh mình. Làng cổ Đào Xá thuộc xã Đào Xá, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Làng nằm ở phía bờ Tây sông Đà, những người dân trong vùng có lẽ cũng không biết ngôi đền đã yên vị ở đây chính xác là bao lâu. Họ chỉ biết rằng, từng viên ngói, những sắc phong được lưu giữ tại đền đều gắn liền với lịch sử khai hoang, đấu tranh của cư dân Việt với thiên nhiên và giặc giã phương Bắc.
Mỗi câu chuyện được người dân quanh vùng lưu truyền với nhiều huyền tích đầy bí ẩn.
Theo truyền thuyết được lưu truyền ở địa phương và bản thần phả (chép năm Hồng Phúc thứ hai,1573) hiện lưu ở đền làng, vào thời Hùng Vương, vua phái Hùng Hải Công cai quản vùng giáp ranh của ba con sông (sông Đà, sông Hồng, sông Bữa). Hùng Hải Công và vợ là đức bà Trang hoa công chúa lấy nhau đã lâu mà chưa thể có con. Trong một lần, đức ông và đức bà đi thuyền rồng từ Đào Xá lên Thọ Xuyên. Trong thời gian lưu lại nơi đây, đức bà đã nằm mơ sinh ra quý tử. Ít lâu sau, bà thụ thai và sinh ra ba người con trai đặt tên là Đạt Linh Long, Mãn Linh Long và Uyên Linh Long. Các con vừa cất tiếng khóc chào đời thì đức bà hóa thân. Đức ông và ba con sau này đã có công tiêu diệt thú dữ và cùng bà con trị thủy đem lại cuộc sống yên bình cho người dân. Để tưởng nhớ công ơn của Đức ông, Đức bà và 3 người con có công với làng, người dân đã lập đền thờ từ đó.
Đền Đào Xá được người dân trong vùng coi là nơi gắn liền với sự ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt.. 
Ông Nguyễn Hữu Sàn, người từng có 6 năm làm thủ từ đền Đào Xá tự hào kể rằng: “Mỗi năm, xã Đào Xá tổ chức khoảng 11 ngày lễ lớn nhỏ nhằm suy tôn Hùng Hải Công, đức bà Trang hoa công chúa và Tam vị Đại vương - có công giúp dân trị thủy, cùng nàng Quế Hoa”.
Tương truyền, trong những ngày Đức bà mang thai, Quế Hoa công chúa bày các trò chơi để mua vui cho bà. Ngày nay, lễ thức chính được tổ chức vào ngày mùng 2 tết. Đến giờ động thổ, chủ đền hay thủ từ xin âm dương, nếu được thì ra cửa đền đốt pháo, giáp đăng cai nổi ba hồi trống rỗi khắp thôn xóm hò reo. Sau khi khấn Thành Hoàng bằng 12 cỗ tế, giáp đăng cai đến nhà người được làm bánh trâu, rước lồng bánh về đền. Mỗi lồng bánh là một con trâu làm bằng 6 đấu gạo nếp đìn (nếp đen) nghiền thành bột. Trên mỗi con trâu có khắc chữ Xuân ngưu (trâu mùa xuân). Trên bàn thờ đặt hai cái bát nước, một bát đựng quả trứng, bát kia đường chiếc gầu dai bằng giấy cốt tre. Hai người (một nam đại diện giáp đăng cai và bà đồng) nâng lồng bánh trâu múa đối diện nhau. Sau đó, chủ tế vẩy nước ở hai bát vào người múa. Điệu múa truyền thống này được gọi là múa xuân ngưu”. Không chỉ gắn liền với sự tích trị thủy thời Hùng Vương, ngôi đền còn là nơi dừng chân của nhiều đoàn quân giữ nước. Thời nhà Trần, Trần Nghệ Tông đưa quân về đây lánh nạn, chiêu tài hiền sĩ và luyện tập binh mã để đánh Dương Nhật Lễ...
Ngày 12/8/1945, tại ngôi đình này, Việt Minh và du kích địa phương bắt xử tri huyện Đào Bá Kỷ khét tiếng gian ác trong vùng. Sau Cách mạng tháng Tám, đình là nơi hội họp của cán bộ Việt Minh, nơi tập trung của một số đơn vị thiếu sinh quân, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích chuẩn bị cho các chiến dịch Tây Bắc, hòa Bình, Điện Biên.... Vào ngày 29 tháng 1 năm 1964, cụ Hồ đã vào thăm đền. Đặc biệt, ngôi đền được người dân trong vùng coi là nơi “phát tích” bài thơ Nam quốc sơn hà của người anh hùng Lý Thường Kiệt.
Dấu ấn gắn liền với bài Nam quốc sơn hà
Ông Sàn cho biết: “Nguyên xã Đào Xá trong một năm có 11 lễ lớn nhỏ. Trong đó có đến 6 dịp lễ được tổ chức liên quan đến đền Đào Xá. Trong đó dấu ấn rõ nhất liên quan đến việc ra đời bài thơ được coi là “tiền thân” của Nam quốc sơn hà là lễ hội bơi trải. Một lễ hội kéo dài nhất trong năm, từ ngày mùng 9/7 đến ngày 16/7 (âm lịch) tại vùng đất cổ Đào Xá”.
Trong bản thần tích thờ Đức Hải Công ở đền Đào Xá (xã Đào Xá huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ) có ghi rằng: Vào năm 1076, trên đường đi kinh lý các nơi xem xét địa thế để bố trí lực lượng xây dựng phương án đánh địch, Lý Thường Kiệt đã ngược sông Hồng để nghiên cứu đường thủy nối kinh thành Thăng Long với vùng Tây Bắc, sang Vân Nam (Trung Quốc).
Ông Nguyễn Hữu Sàn cẩn thận mở những ghi chép về các ngày lễ. 
Ông đã ghé vào làng Ðào Xá nghỉ chân và xem xét nơi gặp nhau của sông Hồng và sông Ðà. Các bô lão cùng dân làng vui mừng bày tiệc đón Lý Thường Kiệt và cùng ông xây dựng phòng tuyến đánh giặc. Sau khi xong xuôi mọi việc, người anh hùng Lý Thường Kiệt đã vào đình Đào Xá và đền Đào Xá xin các vị thần phù linh hộ quốc. Bất ngờ ban đêm, thần hiển hiện thành rắn lớn, đi thuyền rồng lại cửa đền đọc bốn câu thơ: Nam thiên dĩ định đế Nam quân/ Đại đức giai do đức nhật tân/Thất quận sơn hà đô nhất thống/ Tống binh bất miễn tán như vân. (nghĩa là: Trời Nam đã định vua Nam ta/ Đức lớn ngày thêm đức mới ra/ Bẩy quận non sông về một mối/ Tống binh tan tác tựa mây sa”.
Ngài vừa dứt lời thì từ phía ngoài đầm hiện ra hai thuyền rồng, mỗi thuyền vài trăm người hò reo, bơi thuyền thưởng vào đền. Lý Thường Kiệt tưởng quân nhà Tống bèn bày quân dàn trận ra đánh. Nhưng từ trên thuyền có tiếng: "Thuyền của quan thủy quân đến cùng ông bình Tống, xin đừng ngại". Rồi quân từ hai thuyền lên bờ, tiến vào đền. Quân tướng Lý Thường Kiệt và quan quân trên hai chiến thuyền cùng làm lễ xuất quân đánh giặc.
Theo ông Nguyễn Hữu Sàn, trước kia ở làng Đào Xá có tục bơi chải vào lúc nửa đêm ngày mồng 10/7 âm lịch trên đầm Đào hàng năm, gọi tên là “Lễ hiển Thần phù vua Lý đánh giặc Tống”. Với hai chải của bốn giáp, chải của hai giáp đầu gọi là “chải đực” và chải của hai giáp sau gọi là “chải cái”.
Mỗi chải dài 16m, lòng rộng 1,3m, cao 0,8m, chia làm 12 khoang, do 24 người ngồi hai bên mạn bơi, 1 người cầm lái, 1 người đứng giữa chải cầm mõ chỉ huy bằng hiệu lệnh, 2 người đánh chiêng trống, 1 người cầm bó đuốc, 1 người đứng mũi chải phất cờ. Đúng canh ba thì vào cuộc, hai chải lặng lẽ bơi nhẹ nhàng từ bờ đầm trước cửa đền sang phía dẫy đồi bờ bên kia chừng 1km. Khi có hiệu lệnh gọi thì hai chải quay mũi về đền, nổi chiêng trống hò reo bật đuốc, và bơi thi cật lực. Chải nào đến cửa đền trước sẽ được lĩnh thưởng. Đó là hèm cầu diễn lại cảnh Thần Hải công cai quản đầm Đào Xá, lúc nửa đêm hôm mồng 10 tháng 7 hiển hiện về đền thờ, Ngài ban thơ cho Lý Thường Kiệt. Giặc tan, Lý Thường Kiệt về kinh đô tâu vua, xin phong Hùng Hải Công và tam vị Ðại Vương làm thưởng đấng phúc thần.
Ngày nay, tục bơi chải vẫn còn được diễn ra nhưng vào ban ngày, chải nào có nhiều lần về đích trước thì năm đó, người giáp đó sẽ gặp nhiều may mắn. Chiều ngày 15/7 (âm lịch), kết thúc hội, làng lập đền tế lễ ở đền hạ. Tục bơi chải của dân làng Ðào Xá vừa là nghi thức lễ cầu mưa, cầu mùa của cư dân nông nghiệp vừa để thể hiện tinh thần thượng võ.
Ông Nguyễn Hữu Sàn cho biết: “Hiện nay tại đền còn lưu giữ 13 đạo sắc phong của các đời vua. Hàng năm, vào ngày 12/2 (âm lịch) tại đền Đào xá diễn ra lế tế sắc. Trước ngày này, trong làng phải cử ra 3 cụ để thực hiện nghi lễ mở hộp sắc. Ngôi đền cũng đã được công nhận là di tích quốc gia và được nhân dân xã Đào Xá chăm nom, bảo vệ như một chứng tích lịch sử hào hùng gắn liền với sự cư trú của cư dân ở vùng đất này”.
Thanh Thủy