Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Xê Đăng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Xê Đăng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2019

Múa Chiêu, nét văn hóa độc đáo của người H’Lăng

Nói đến Tây Nguyên, du khách sẽ nhớ về những điệu múa xoang nhịp nhàng bên đống lửa bập bùng hòa quyện với làn điệu cồng chiêng trầm bổng, hay những bức tượng nhà mồ, mái nhà Rông cao vút… Tuy nhiên, ít người được chiêm ngưỡng làn điệu múa Chiêu, nét văn hóa đặc sắc của người H’Lăng tại Kon Tum, bởi điệu múa này chỉ lưu truyền trong một tộc ít người nơi đây.
Về huyện Sa Thầy (Kon Tum) được nghe kể về những giai thoại của múa Chiêu mới thấy vẻ huyền bí, đậm đà bản sắc văn hóa của tộc người H’Lăng. Làng Khúc Na, xã Sa Bình có 100% dân số là người dân tộc H’Lăng. Những người phụ nữ cũng lên rẫy, phát rừng tỉa bắp trồng lúa nhưng vẫn giữ phong thái uyển chuyển, nhịp nhàng như những nghệ sỹ múa. Hầu hết các chị em ở đây đều biết múa Chiêu, do vậy, cách đi đứng cũng nhẹ nhàng, thướt tha hơn các nơi khác.

Múa Chiêu là điệu múa đặc trưng của người H’Lăng được thực hiện chủ yếu trong đám ma hay lễ hội. Các động tác múa Chiêu thực hiện rất khó. Để giữ gìn bản sắc dân tộc, trẻ em gái người H’Lăng thường được các bà, các mẹ dạy cho từ bé. Phải mất 5-6 buổi, các nghệ nhân mới tập được cho dân làng cách di chuyển từng bước chân. Không giống như điệu xoang, người múa Chiêu phải nhịp nhàng điều chỉnh mũi bàn chân và gót chân xoay đều 80 độ nhưng không được để bàn chân rời khỏi mặt đất.

Về căn bản, các động tác chân ở cả hai bài Chiêu trong đám ma và trong lễ hội không thay đổi nhưng các động tác tay lại khác nhau hoàn toàn. Ở bài Chiêu trong lễ hội, dù xoay về hướng nào, hai cánh tay của nghệ nhân giữ nguyên tư thế đưa vòng ra trước ngực, lòng bàn tay hướng vào trong, các đầu ngón tay chạm nhau. Nhưng ở bài Chiêu trong đám ma, hai tay người múa phải dang rộng tấm choàng, giống như cánh bướm dập dìu, bay lượn. Các động tác tay không khó nhưng các nghệ nhân cũng phải mất nhiều thời gian phân tích, hướng dẫn kỹ lưỡng để dân làng không bị nhầm lẫn.

Cũng như Khúc Na, làng Rơ Kơi, xã Rơ Kơi, huyện Sa Thầy là một trong những khu vực đông người H’Lăng sinh sống và hầu như còn lưu giữ được làn điệu múa Chiêu độc đáo. Già làng A Linh chia sẻ: “Múa Chiêu là bản sắc văn hóa của người H’Lăng, bà con cùng chung tay giữ gìn điệu múa độc đáo ấy. Nghệ nhân trong làng luôn cổ vũ, động viên và tích cực truyền dạy cho các em nữ để văn hóa của dân tộc không bị mai một.”.

Để góp phần lưu truyền và gìn giữ văn hóa của các dân tộc trong khu vực, Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Sa Thầy đã phối hợp với Huyện Đoàn và cấp ủy, chính quyền xã Rơ Kơi mở lớp học truyền dạy nghệ thuật văn hóa dân gian, trong đó có điệu múa Chiêu của người H’Lăng. Chỉ diễn ra trong vòng một tuần, lớp học đã thu hút đông đảo chị em các làng tham gia. Cán bộ văn hóa thông tin còn tuyên truyền, động viên các nghệ nhân từ các thôn, làng chỉ dạy cho mọi người tại nơi mình sinh sống học các động tác múa. Đến nay, mỗi thôn trong xã đều có từ 20-30 người biết múa Chiêu.

Nghệ nhân ưu tú Y Run, làng Rơ Kơi, xã Rơ Kơi cho biết: “Múa Chiêu phải có cồng chiêng đệm theo, múa nhịp nhàng theo nhịp nhanh chậm của tiếng cồng, tiếng chiêng. Thường ngày, bà con đi làm rẫy, nhưng nếu sắp đến kỳ lễ hội, buổi tối cả làng cùng tập trung tập luyện. Bà con dân làng nỗ lực cùng chính quyền truyền dạy và bảo tồn điệu múa Chiêu độc đáo này”.

Theo bà Y Run, mặc dù múa Chiêu khó, hơn nữa lại không có nhiều thời gian tập luyện nhưng nhờ sự kiên trì, tập trung chú ý, hòa mình vào điệu múa, chỉ sau khoảng 10 buổi tập luyện, mọi người đã có thể nắm bắt nhanh chóng và múa nhịp nhàng.

Trang phục múa Chiêu có những đặc trưng riêng. Do vậy, nên khi biết múa Chiêu, đa số nghệ nhân đều dạy cho con cháu mình cách dệt đồ truyền thống đi kèm. Những chiếc váy, chiếc áo dài tay màu đen, màu xanh, được gọi là “Trah” với những đường viền được thêu nhã nhặn, tinh tế. Vật dụng không thể thiếu trong điệu múa Chiêu là tấm khăn choàng thổ cẩm đa màu sắc được những phụ nữ trong làng tự tay dệt nên. Hầu hết phụ nữ trong xã Rơ Kơi đều biết múa Chiêu. Không chỉ người già mà những thiếu nữ mới lớn cũng nhịp nhàng, điêu luyện theo điệu Chiêu trong các mùa lễ hội.
T.H 
Biên soạn

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Lễ mừng lúa mới của người Xê Đăng

Hàng năm, cứ vào giữa tháng 11, đồng bào Xê-đăng ở Kon Tum lại thu hoạch lúa và tổ chức lễ hội mừng lúa mới. Lễ hội được chia làm 2 phần: ăn lúa mới tại nhà và uống rượu mừng lúa mới tại nhà Rông.
Mọi người cùng nhau nhảy múa ăn mừng quanh cây nêu
 
Nghi lễ cúng thần lúa tại nương rẫy

Khi lúa chín, các gia đình tập trung lên rẫy, chọn chỗ lúa chín đẹp nhất làm lễ xin phép thần lúa rước hồn lúa về nhà. Gặt xong, mọi người đưa lúa về kho ở gần rẫy, chỉ mang một ít lúa về nhà để cúng lúa mới.

Giã gạo nấu cơm làm lễ
 
Tại nhà, cơm mới được nấu lên bày cùng thịt rừng, cá suối, rượu ghè để cúng mừng hồn lúa về. Sau đó, mọi người trong nhà ăn cơm mới, uống rượu, múa hát.

Lúa được đổ vào gùi để mang về nhà cúng lúa mới
 
Vào sáng sớm ngày lễ, già làng lên nhà Rông đánh trống báo hiệu, bà con mang lễ vật lên nhà Rông cúng Yàng, cầu mong thần lúa giúp bà con cuộc sống no đủ. Sau đó, già làng cùng bà con thăm các gia đình, ăn cơm mới và uống rượu ghè.

Sấy khô lúa để lấy gạo nấu cơm làm lễ

Cuối buổi lễ, dân làng về nhà Rông, tập trung quanh cây nêu để đánh cồng chiêng, múa xoang, uống rượu mừng mùa lúa bội thu.
Bài: Tú Quyên - Ảnh: Thanh Hà

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Tết máng nước của người Xê đăng

Tết máng nước (Clang Đhak) của đồng bào Xê-đăng ở huyện Nam Trà My (Quảng Nam) được tổ chức vào những ngày đầu năm.
Các thanh niên trong làng đã đặt ống dẫn nước xuống khe suối để đưa nước về làng

Để chuẩn bị Tết máng nước, già làng triệu tập thanh niên làm cây nêu, phát dọn lối đi vào dòng suối trong rừng già. Mỗi làng chuẩn bị 2 con gà trống và 1 con lợn (heo) để tế lễ. Sau khi cây nêu dựng xong, tất cả đàn ông trong làng sẽ mang lễ vật vào địa điểm lấy nước. Tại đây, già làng cắt tiết heo, phó già làng cắt tiết gà để cho tiết chảy xuống dòng suối.

Cây nêu cao hơn 15 mét được dựng giữa làng để mời gọi thần linh về chứng giám

Sau khi già làng kết thúc phần nghi lễ, các gia đình dùng một ống nứa lấy nước suối mang về nhà nấu cơm. Cả làng mở hội ăn mừng nguồn nước mới. Mọi gia đình đều nấu rượu cần, cơm lam để đãi khách. Không ít hộ còn tổ chức đánh cồng chiêng, hát dân ca...

Dân làng uống rượu cần, ăn thịt, múa cồng chiêng mừng Tết máng nước
 
Dân làng sau khi tổ chức Tết máng nước sẽ sống thẳng thắn, trung thực, không làm chuyện xấu. Nhờ đó, Tết máng nước đã trở thành một trong những phong tục đẹp giúp cho dân làng sống đoàn kết, hòa thuận, luôn hướng đến những việc thiện.
Hoàng Thọ

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Nơi người dân treo rốn trẻ con trong rừng

Những đứa trẻ Xê Đăng (Quảng Nam) sinh ra được người cha đưa phần rốn, nhau thai treo trong rừng.

Là người dưới xuôi lên mưu sinh ở ở huyện miền núi Nam Trà My (Quảng Nam), chị Nguyễn Thị Hồng Thương có một kỷ niệm nhớ đời với cánh rừng rốn của người Xê Đăng ở làng Tắk Long, xã Trà Cang.
noi-nguoi-dan-treo-ron-tre-con-trong-rung
Những đùm rốn được người dân Xê Đăng treo trong rừng. Ảnh: Đắc Thành
Theo chị Thương, cách đây mấy năm, chị lên Tắk Long dựng nhà mở quán bán hàng. Cũng như người địa phương, gia đình chị phát rừng, chặt cây lau, đót, nứa đốt làm nương rẫy. 
“Một hôm tôi đốt lửa không may gặp gió lớn, cháy lan sang khu rừng bên cạnh. Hai vợ chồng hốt hoảng kêu dân làng ra cứu hoả. Thấy vậy mọi người la hét: Mày đốt chết con tao rồi”, chị Thương nhớ lại.
Sau khoảng 30 phút, ngọn lửa được khống chế. Lúc này, dân làng Tắk Long mới nói với chị, đó là cánh rừng rốn linh thiêng. Nơi nhiều đời nay, người dân trong làng treo rốn trẻ con. Có đến cả nghìn đùm rốn trên cành cây ở trong đó.
Theo luật tục, chị Thương đã làm hại đến cánh rừng thiêng nên phải nộp phạt cho làng. Thể lệ được tính theo đùm rốn treo trong rừng mà ngọn lửa gây hại. Mỗi đùm rốn chị Thương nộp một con gà để các gia đình cúng thần linh mong xóa tội. “Tổng cộng tôi mua 15 con gà, mỗi con trên một kg đưa các hộ gia đình, họ mời thầy cúng về làm lễ”, chị Thương kể.
noi-nguoi-dan-treo-ron-tre-con-trong-rung-1
Già làng Tắk Long Hồ Văn Đen cho biết, mỗi làng Xê Đăng đều có một khu rừng rốn linh thiêng. Ảnh: Đắc Thành
Già làng Tắk Long Hồ Văn Đen cho hay,  từ xa xưa cha ông người Xê Đăng đã thực hiện tập tục trên và truyền cho con cháu thực hiện. Mỗi người đàn ông trong cộng đồng khi cưới vợ, sinh con đều phải tuân thủ. Em bé vừa ra đời thì người cha lấy phần rốn, nhau thai và những vật dụng như áo quần, khăn quấn... có dính máu gói lại cẩn thận, đưa vào rừng rốn của làng treo lên cành cây.
"Tất cả những ngôi làng Xê Đăng sống quanh ngọn núi Ngọc Linh đều có rừng rốn", già Đen nói.
Ông cũng cho biết, người Xê Đăng quan niệm, người chết nằm dưới – về với đất. Đứa bé sinh ra phải ở trên - sống trên đời. Nhau thai, rốn đều có linh hồn, nó còn sống, do đó không thể chôn mà phải treo lên.
“Bất cứ ai đụng đến rừng rốn, ví dụ như chặt cây, sắn bắn thì đều bị coi là vi phạm tập tục của làng và phải nộp phạt. Người Xê Đăng quan niệm đùm rốn có giá trị từ khi đứa trẻ sinh ra cho đến lúc già yếu. Khi người đó qua đời đưa chôn cất thì đùm rốn không còn ý nghĩa, tuy nhiên nó vẫn treo trong rừng, không ai được đụng đến”, già Đen cho hay.
Anh Hồ Văn Đơn có vợ vừa sinh con được 15 ngày chia sẻ, anh được cha mẹ truyền lại tập tục treo rồi và thực hiện theo.
“Vợ tôi sinh xong thì tôi đi vào rừng treo rốn cho con. Giữa đám cây, tôi chọn cành vững chắc để treo,  mong con mình sẽ mạnh khoẻ”, anh Đơn nói.
noi-nguoi-dan-treo-ron-tre-con-trong-rung-2
Người dân đốt nương trồng lúa quanh khu rừng rốn, không đụng chạm đến cây xanh ở rừng này. Ảnh: Đắc Thành
Anh Đơn cho biết thêm, khi đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương phát triển, nhiều người nêu vấn đề tập tục treo rốn không còn phù hợp. Tuy nhiên, nhiều dân làng vẫn thực hiện do thói quen, hơn nữa nhờ có rừng rốn mà nhiều cánh rừng được giữ lại, không bị chặt phá.
Ông Hồ Quang Bửu - Chủ tịch huyện Nam Trà My cho biết chính quyền đang nỗ lực tuyên truyền để người dân không thực hiện tập tục treo rốn, thời gian qua đã có xu hướng giảm.
"Chúng tôi đưa ra các chương trình giúp người dân xoá đói giảm nghèo. Huyện phân công, cứ một hộ nghèo thì có ba công chức theo dõi, giúp đỡ và phổ biến kiến thức, văn hóa cho họ, từ cách thức làm ăn, canh tác hiệu quả cho đến chi tiêu hợp lý”, ông Bửu chia sẻ.
Ngoài ra, dựa vào lợi thế sâm Ngọc Linh trên địa bàn, huyện đã thành lập trung tâm để nhân giống, cấp giống miễn phí cho người dân trồng để phát triển kinh tế.
Đắc Thành

Tục đổi gà để cúng 'cái chết xấu' của người Xê Đăng

Người Xê Đăng (Nam Trà My, Quảng Nam) quan niệm ăn lá ngón, treo cổ tự tử là “cái chết xấu”, do con ma gây ra. Để chặn ma về làng, họ chọn gà đen làm vật tế cúng.

Trời chiều, sương mù bao phủ trên dãy núi Ngọc Linh, xã Trà Cang (Nam Trà My, Quảng Nam). Tại tiệm tạp hóa Năm Thương, nóc Tắk Long, thôn 3, hai phụ nữ ôm con gà bước vào quán. Một người tên Hồ Thị Nếu đặt con gà xuống đất nói: "Mình đem đổi lấy con gà khác về cúng, chứ con này lông màu trắng, không cúng được cái chết xấu".
tuc-doi-ga-de-cung-cai-chet-xau-cua-nguoi-xe-dang
Chị Hồ Thị Nếu đổi gà trắng lấy gà đen về làm lễ cúng đuổi ma. Ảnh: Sơn Thủy.
Chị Nếu cho biết, hôm kia Hồ Văn Thá (16 tuổi) ở cùng nóc ăn lá ngón chết, nay làng làm lễ cúng chặn ma về. "Phải cúng gà đen, không được cúng gà trắng. Con này màu vàng pha vài cọng lông trắng, không được", chị Nếu nói.
Người chủ quán hỏi: "Sao không nuôi gà đen mà cúng lại nuôi gà trắng?". Chị Nếu cười nói: "Hắn đẻ ra mình có biết mô, mà nuôi rồi đi đổi cũng dễ mà".
Cuộc trao đổi tại quán rất sòng phẳng, con gà được đưa lên bàn cân, nếu trọng lượng thừa ra thì chủ quán trả thêm tiền cho người đổi, nếu thiếu người đổi sẽ bù thêm. Người dân không quan niệm gà ngon hay dở, chỉ chú ý đến màu lông.
Từ bao đời nay, người Xê Đăng quan niệm người "chết xấu" có thể bắt người sống. Họ sợ con ma về làng bắt một ai đó. Hôm Thá chết, dân làng giục gia chủ nhanh chóng đưa đi mai táng. Chưa cần cha mẹ Thá lo, anh em Thá cùng đám thanh niên đã kiếm chiếc chiếu quấn thi thể Thá và đưa vào rừng chôn. Xong việc, cả làng làm một lễ cúng chặn ma về tại đoạn đường cuối làng dẫn vào rừng.
Từ chiều, đám thanh niên chuẩn bị "đồ nghề" gồm hai cây đót to, chưa trổ bông. Mỗi cây để lại 5 lá, sau đó gấp ngắn lại thành hình cung. Cây đót buộc thêm hai lá cây rừng to bằng bàn tay và hai chùm cây cỏ. Khi trời sắp tối, họ cắm xuống con đường mòn và tổ chức lễ cúng. Lễ vật chỉ gồm con gà màu đen và rượu.
tuc-doi-ga-de-cung-cai-chet-xau-cua-nguoi-xe-dang-1
Để chuẩn bị lễ cúng chặn mà về, đám thanh niên lấy 2 cây đót cắm ở cuối đường dẫn của làng, nơi đưa người xấu số đi mai táng. Ảnh: Sơn Thủy.
Một thanh niên cho biết những ai "chết xấu" làng không thương, chỉ quấn chiếc chiếu rồi đưa vào rừng mai táng. Chôn xong không ai quay lại đó nữa. Những người đưa đám khi về cũng không đi đường cũ mà tìm đường khác để về vì sợ con ma đi theo.
"Về đến làng, họ tổ chức lễ rào cổng làng để con ma không có đường tìm vào. Còn những ai không phải chết xấu, làng mua quan tài về mai táng đàng hoàng, không bịt đường làm gì", người này lý giải.
Khi xong các phần lễ, thầy cúng cầm con dao rựa để gần trán, miệng lẩm nhẩm bằng tiếng Xê Đăng. Lúc này, tất cả mọi người trong làng đuổi khách đi. Họ giải thích "làng mới có người chết nên người lạ không được vào. Các anh chụp hình cũng ít thôi, chụp nhiều con ma nhìn thấy lại tìm đường về".
Một người dân ở Tắk Long thông tin, từ đầu năm đến nay có 2 người làng chết vì ăn lá ngón. "Cứ liên tục như vậy thì làng hết người mất thôi. Lễ cúng mong muốn dân làng được bình yên, ma không về quấy phá", người này nói.
Ông Nguyễn Văn Bằng, Phó chủ tịch xã Trà Cang cho biết, cán bộ nhiều lần đến các nóc gặp người dân để tuyên truyền về hủ tục cúng "cái chết xấu" nhưng không thuyên giảm. 
"Lá ngón nhiều, diệt không thể hết. Người dân tìm đến lá ngón có thể do cuộc sống khó khăn, hay đơn thuần tức giận. Có cái chết tôi không hiểu nổi, như nghe người ta nói ăn lá ngón chết, có người không tin, tìm ăn thử. Càng như vậy cái chết xấu được nhân lên và dân làng lại đổ tại ma bắt mới chết", ông Bằng nói.
Sơn Thủy

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Khám phá tục “Xoe” của người Xê Đăng

Khi mua bất cứ tài sản có giá trị hoặc ngày con tròn 1 tuổi, thi đậu một khóa học, được mùa… bà con dân tộc Xê Đăng tại tỉnh Kon Tum lại tổ chức “Xoe”.

Theo tiếng Xê Đăng, “Xoe” ở đây được tạm dịch ra là từ Cúng của tiếng Kinh. Khi “Xoe”, người Xê Đăng làm lễ cúng Giàng, báo cáo với Giàng rằng tài sản đó là của mình, cầu xin Giàng ban cho sức khỏe, tài sản sử dụng bền lâu…

Già A Ek, làng Kon Nu, xã Đăk Tờ Re, huyện Kon Rẫy (Kon Tum) cho biết, trước khi vào vụ mùa, các gia đình trong làng đều “Xoe” rẫy. Lễ “Xoe” ở đây phải là gà trống, rượu ghè, nhà nào có điều kiện sẽ “Xoe” heo, dê tùy thuộc vào mức độ lớn, bé tương đương với món đồ cần “Xoe”. Đặc biệt, lễ “Xoe” không được làm thịt chó hoặc bò vì những con vật đó được cho là xui xẻo. Tục “Xoe” được truyền từ đời này sang đời khác nên Già A Ek cũng không biết nó có từ bao giờ, chỉ biết cha mẹ “Xoe” rồi con cái cứ thế làm theo.

Trước khi “Xoe”, chủ nhân phải nhờ Già làng xem ngày lành, tháng tốt, tránh ngày Chủ nhật rồi mới tổ chức “Xoe”. “Xoe” rẫy của người Xê Đăng theo từng giai đoạn, từ lúc phát rẫy đến đốt rẫy rồi dọn rẫy, sau đó “Xoe” Giàng rồi mới tỉa lúa. “Xoe” rẫy được thực hiện tại nhà với nghi lễ là một con gà trống hoặc heo, dê và ghè rượu cần. Sau khi làm thịt gà, heo, dê cắt lấy một phần miếng gan sống đem xiên vào hai thanh tre đã vót nhọn, tiết của những con vật tế lễ được nhỏ giọt vào hai ống lồ ô đã pha rượu cần vào trước rồi lắc đều cho chúng hòa vào với nhau. Phần gan sống được xiên vào thanh tre cộng với 3 ly rượu cần mang lên để trên bàn thờ “Xoe” Giàng.

Gan đem “Xoe” được tính theo số lẻ, không được “Xoe” số chẵn. Ghè rượu cần đặt ở nơi trang trọng, bên cạnh cột chính ngôi nhà, rồi được đánh dấu ngày tháng để nhìn vào ghè rượu sẽ nhớ là của ai và với kỷ niệm gì trong đời người. Khi các vật “Xoe” đã hoàn thành, chủ nhân đứng trước bàn thờ khấn Giàng cho sức khỏe và bình an cho khu vực rẫy của gia đình, cầu mong mùa màng bội thu... rồi tổ chức ăn thịt, uống rượu cần, cách một ngày sau mới tổ chức đi tỉa lúa.

Tục “Xoe” một món đồ mới mua cũng tương tự như thế nhưng có thêm một phần nữa là khi “Xoe” Giàng xong, sẽ mang hai ống lồ ô có đựng rượu cần và tiết con vật tế lễ ra để bôi vào vật dụng mới mua. Chủ nhân món đồ mới khấn Giàng ban cho sức khỏe và đồ vật dùng được bền hơn… sau đó lấy phần rượu tiết này chấm vào một góc của món đồ mới mua như tivi, xe máy… và tổ chức ăn uống tại nhà.

Anh U Ôn, làng Kon Rôn, xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà (Kon Tum) cho biết: “Nhà tôi mới mua một cái tivi. Tôi mới “Xoe” tivi. Mình có niềm vui, phải “Xoe” với Giàng để Giàng biết mà cho mình sức khỏe, cho cái tivi không bị hư. Các già trong làng nói ai mua đồ mà không “Xoe”, đồ nhanh hư lắm. Không “Xoe”, thấy bất an và không may mắn vì Giàng không phù hộ đâu.”

Anh U Rớp, làng Kon Rôn, xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà (Kon Tum) kể rằng, lúc anh đậu đại học không chỉ có gia đình vui mừng mà cả làng, cán bộ xã cùng đến chúc mừng. Do đó, U Rớp quyết định “Xoe” lớn để xứng với kết quả bao nhiêu năm miệt mài đèn sách. U Rớp “Xoe” Giàng một con heo và một con dê.

Ông Nguyễn Đình Lĩnh, Phó Chủ tịch xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà cho biết: “Tục cúng rẫy, cúng đồ mới của bà con nơi đây khá phổ biến, mặc dù chỉ mang tính chất hộ gia đình. Dân số xã Ngọc Réo hầu hết là người dân tộc Xê Đăng, chúng tôi tôn trọng và cùng giữ gìn những văn hóa đặc trưng của người dân tộc địa phương”.
Hồng Điệp

Khám phá vùng đất thiêng của người Xê Đăng Tơ-đrá tại Kon Tum

Trong mỗi làng người Xê Đăng Tơ-đrá tại tỉnh Kon Tum có một vùng đất thiêng để tổ chức Lễ Bắn. Vùng đất này rộng khoảng 100 - 200 m2, được rào lại bằng tre, nứa theo diện tích khoanh tròn của cột gỗ.

Theo lệ làng, để chọn đúng vùng đất thiêng, già làng lấy củ cây thuốc thiêng bí truyền cạo sạch vỏ, chẻ làm đôi, đánh dấu 1 mặt úp, 1 mặt ngửa như đồng tiền xu, đặt trên cây giáo, cây mác chặt tre, nứa của làng rồi cho rơi xuống một cái nia. Già làng vừa khấn Giàng vừa làm như thế 3 lần, nếu thả 3 lần đều ra mặt khác nhau, làng sẽ đi chọn vùng đất khác, còn nếu kết quả cây thuốc thiêng cho từ 2 lần mặt úp hoặc 2 lần mặt ngửa trở lên thì khu vực đó được chọn làm vùng đất thiêng của làng.

Ở chính giữa vùng đất thiêng, ngay cạnh cây Lung Pliang, già làng chọn ra một khoảnh đất nhỏ, được gọi là “đất thiêng nhất trong vùng đất thiêng” dành để trồng cây thuốc thiêng, thuốc bí truyền của dân tộc Xê Đăng Tơ-đrá. Khoảnh “đất thiêng nhất trong vùng đất thiêng” này là nơi bất khả xâm phạm, chỉ duy nhất già làng mới được vào trong và chỉ có già làng mới được trồng và nhổ cây thuốc bí truyền trồng trong đó để gieo quẻ cho làng.

Cây thuốc bí truyền của người Xê Đăng là một loại cây dây leo, mùa hạn trông cây như đã chết khô nhưng thực tế củ của nó có sức sống mãnh liệt, nằm yên dưới đất đợi mưa xuống rồi vươn cành, đâm chồi nảy lộc phát tán. Cứ thế, cây thuốc sống quanh năm không cần tưới nước. Khi làng có Lễ Bắn, già làng lại đào củ cây thuốc thiêng lên về gieo quẻ làm lễ cầu Giàng.

Vùng đất thiêng là nơi tuyệt đối không được canh tác hay làm nhà, sinh hoạt trên đó. Theo tục lệ, một năm chỉ được lên vùng đất thiêng một lần để rào lại khu vực trồng thuốc bí truyền và phát cây, dọn rác, rào lại vùng đất thiêng.

Đặc biệt, vùng đất thiêng chỉ để sử dụng trong ngày tổ chức Lễ Bắn. Những gia đình đứng ra tổ chức Lễ Bắn tập trung những con vật tế linh lên vùng đất thiêng, cột vào cây Lung Pliang, tiếp theo chủ hộ khấn Giàng, cầm nỏ bắn vào những con vật tế linh trong tiếng cổ vũ của dân làng. Sau đó, họ lấy máu của con vật tế linh nhờ già làng rưới lên khu vực trồng thuốc thiêng để cúng Giàng. Người dân làm thịt những con vật tế linh ngay trên vùng đất thiêng, sau đó mới mang thịt về nhà rông chế biến với ý nghĩa để hồn những con vật tế linh ấy ở lại trên vùng đất thiêng, canh giữ cây thuốc thiêng cho làng.

Thời điểm rào lại lãnh thổ vùng đất thiêng tùy mỗi làng quy định, như Kon Rôn và Đăk Phía lấy ngày 30/4 hay 1/5 dương lịch; làng Kon Brai lấy ngày 25/5 dương lịch. Mỗi người trong làng lên rừng chặt một cây nứa, tre, lồ ô hay trụ gỗ nhỏ để góp vào cùng rào lại vùng đất thiêng.

Sau khi rào lại vùng đất thiêng, già làng lấy củ thuốc thiêng gieo quẻ xin Giàng báo trước về tình hình chung của làng trong năm tới, vừa khấn Giàng, già làng vừa gieo 3 lần rồi tế Giàng bằng máu gà. Kết quả quẻ gieo về tình hình sức khỏe, mùa màng của làng trong năm đó sẽ được già làng thông báo khi dân làng tập trung về nhà rông làm Lễ Bắn.

Vùng đất thiêng được coi như là khu vực bất khả xâm phạm của mỗi làng. Ngày trước vùng đất thiêng được chọn là khu vực đầu làng, nơi cửa ngõ vào làng. Mỗi lần có khách vào làng, khách phải đứng đợi ở vùng đất thiêng đó, người dân chạy đi tìm già làng thông báo, già làng có trách nhiệm ra vùng đất thiêng tiếp chuyện hoặc đón khách vào làng. Nhưng ngày nay, vì nhiều lý do mà vùng đất thiêng được chuyển về phía trên đồi cao, cách nhà rông chừng 50 - 100m nhưng vẫn giữ được sự linh thiêng như bản chất và tên gọi của nó.
Hồng Điệp (TTXVN

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

Lễ Bắn của người Xê Đăng Tơ-Đrá tại Kon Tum

Nguồn: TTXVN

Lễ Bắn là một trong những lễ hội lớn của làng, không cố định thời gian tổ chức, có khi là 1-2 năm, có khi đến 15-20 năm vẫn chưa tổ chức lại.



Ảnh minh hoạ. Ảnh: dantocviet.cinet.gov.vn
Lễ Bắn mang ý nghĩa tâm linh rất lớn với người dân bản địa nơi đây. Khi làng có trên 10 sự kiện lớn, nhỏ, các gia chủ của sự kiện đó mới cùng nhau tổ chức được Lễ Bắn. Lễ hội này không cố định thời gian tổ chức, có khi là 1-2 năm, có khi đến 15-20 năm vẫn chưa tổ chức.
Khi trong làng có sự kiện vui (có người tốt nghiệp đại học, hay làm công an, bộ đội, bác sỹ...) hoặc khi gia đình có chuyện buồn (người chết trẻ, gia súc chết nhiều, mất mùa nhiều năm)... sẽ được báo với Già làng.
Các sự kiện đó được già làng ghi lại, sau đó, tất cả chủ nhân của những sự kiện đó cùng tập trung lại, mỗi gia chủ cúng một con lợn và một con dê làm lễ tế Giàng, coi như là lời thông báo đến Giàng của những gia chủ gặp may mắn hoặc là lời cầu mong an lành đối với những gia chủ gặp vận không may. 
Ngoài ra khi làng có sự kiện trọng đại như tổ chức làm nhà rông mới hay có đại dịch làm chết nhiều người trong làng… bà con người Xê Đăng Tơ-Đrá tại Kon Tum cũng tổ chức Lễ Bắn để cầu mong Giàng ban cho sức khỏe, sự may mắn, bình an. 
Trách nhiệm của Già làng là sau khi tập trung được đủ số hộ và chọn được ngày lành tháng tốt có thể tổ chức Lễ Bắn, Già làng thông báo đến các gia chủ để họ chuẩn bị.
Gia chủ bắt nhốt lợn, dê vào chuồng đợi đến ngày thì dắt chúng lên bãi bắn nằm trong vùng đất thiêng của làng. Những con vật tế linh được cột vào gốc cây Lung Pliang nằm trong vùng đất thiêng đợi làng lấy máu làm nghi lễ tế Giàng.
Trước ngày diễn ra Lễ Bắn, các cô gái được giao nhiệm vụ bện dây thừng để buộc vào cổ, các chàng trai có nhiệm vụ lên rừng vót tên để bắn các con vật tế linh. Đúng ngày, những con vật tế linh được gia chủ đánh dấu, đứng cách 1-2m và bị bắn nỏ.
Máu của lợn, dê được hứng vào một ống lồ lô đã cho sẵn rượu cần vào trước, trộn đều không để máu đông lại. Già làng rưới máu lên cây thuốc thiêng của làng khấn Giàng về sự kiện của mỗi gia chủ rồi mang số máu tế linh còn lại về nhà rông.
Khi tất cả bà con đã tập trung về nhà rông, bộ chiêng thiêng và trống thiêng được để chính giữa nhà rông, gia chủ xếp hàng hai bên mặt trống để sau khi già làng khấn cúng Giàng, được ra hiệu, các gia chủ lần lượt cầm dùi đánh ba tiếng vào trống thiêng như thông báo có sự chứng kiến của Giàng, rồi chuyển sang đánh 1 hồi chiêng.
Lần lượt dân làng cũng đánh trống và chiêng theo các gia chủ, vừa đánh vừa cầu Giàng ban cho sức khỏe, được mùa, may mắn. Song song với nghi lễ đánh trống thiêng và chiêng thiêng là tục lệ đội gan sống được xiên qua những cái que nhọn trên đầu, vừa đội vừa nghe già làng khấn Giàng, tế Giàng. Sau đó, già làng lấy máu của những con vật tế linh bôi lên trán của từng gia chủ.
Lễ tế Giàng kết thúc là lúc dân làng hòa nhịp cùng điệu xoang trong âm vang cồng chiêng đại ngàn, cùng nhau uống những căn rượu cần sóng sánh, ăn những món ăn đặc sản Tây Nguyên, như: cơm lam, gà nướng, thịt heo dê nướng, dé đắng (lòng heo, dê nấu với cà đắng), măng rừng, rau rừng… cùng chúc nhau những câu chúc bình an.
Lễ Bắn diễn ra liên tục trong 3 ngày 3 đêm mới kết thúc, trong 3 ngày đó dân làng không ai được tắm rửa hay vợ chồng không được ngủ chung để giữ cho Lễ Bắn được linh thiêng hơn./.

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Bầu cử bằng... bắp ở Đắk Tơ Lung

TTO - Ở một xã vùng cao tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum, người dân đang duy trì một tập tục lạ lẫm: thay vì những lá phiếu, các vị trưởng thôn, già làng được người dân bầu ra từ... hạt bắp, trái cây và thậm chí cả đá dăm, gạch vụn...
Bầu cử bằng... bắp ở Đắk Tơ Lung
Người dân ở các làng tập trung về nhà rông để bầu cử trưởng thôn, già làng - Ảnh: B.D.
“Dù lá phiếu bằng hạt bắp nhưng nhất quyết không bao giờ có chuyện bà con gian lận. Người Xê Đăng - Tơ Đra ở đây rất thật thà, bầu cho ai thì đúng bầu người đó, người bỏ bắp không ăn gian mà người được bầu cũng không nhận hạt bắp không phải của mình.
Anh Trần Quốc Bảo (bí thư Huyện đoàn Kon Rẫy)
Chủ tịch UBND xã Đắk Tơ Lung (huyện Kon Rẫy) Nguyễn Trọng Phấn quả quyết với tôi: “Ở Tây nguyên chỉ còn nơi đây đi bầu cử bằng... hạt bắp. Xã vừa chọn được 16 cán bộ thôn ở tám làng, ông nào cũng ôm ống bia chứa đầy... hạt bắp”.
Bầu cử bằng... bắp ở Đắk Tơ Lung
Kiểm... bắp - Ảnh: B.D.
Đại hội thôn làng
A Hơn là chàng trai Xê Đăng, nhánh Tơ Đra ở làng Kon Mông Tu, xã Đắk Tơ Lung. Mấy hôm nay đi đâu Hơn cũng cười tươi rói, cứ ra khỏi nhà là ăn mặc chỉnh tề, quần áo tươm tất, trừ lúc theo vợ đi lên rẫy.
Hơn cùng 15 thôn trưởng, thôn phó ở Đắk Tơ Lung vừa được bà con bỏ nhiều hạt bắp để chọn làm cán bộ nhiệm kỳ mới.
Trưởng thôn Kon Mông Tu vai dày như tấm gỗ, mặt già chát đứng trước mặt chúng tôi mới bước qua tuổi 24.
Hỏi sao ít tuổi thế mà được bà con bầu làm trưởng thôn rồi, Hơn gãi đầu: “Không biết nữa, thấy bà con bầu thì làm thôi”.
Nghe Hơn nói, một người dân đứng cạnh bảo: “Không phải đâu, nó có... trình độ đấy. Nó chịu khó đi rẫy, hiền lành và vừa đi bộ đội về nên bà con ưng, bỏ bắp cho nó”.
Ở Đắk Tơ Lung, người dân coi ngày bầu cử trưởng thôn như ngày lễ lớn của làng. Mà đúng là lớn thật, bởi họ bảo “mình bỏ cái bắp để nó đẻ ra cán bộ đại diện cho bà con”.
Kỳ đại hội thôn trưởng được diễn ra hai năm rưỡi một lần. Già làng U Đê, 62 tuổi, kể: “Làng mình chọn trưởng thôn kỹ lắm, họp hai ba đêm mới xong. Trước ngày bầu cử, bà con họp lại, rất nhiều người giơ tay ứng cử. Người lớn nhất ứng cử trưởng thôn 39 tuổi. Người nhỏ tuổi nhất là A Hơn”.
Ngày 10-5, tiếng cồng chiêng vang lên ở nhà rông Kon Mông Tu. Từ sáng sớm, tiếng chân của người làng đã giẫm thình thịch tập trung về nhà rông dự đại hội thôn trưởng.
Sau khi những cái đầu lô nhô đã chịu ngồi yên dưới sàn nhà rông, ngớt tiếng xì xầm thì già làng đứng lên giới thiệu năm ứng cử viên.
Ban tổ chức nói rõ lý do, thông qua quy chế bầu cử, ý nghĩa của việc chọn cán bộ thôn để đại diện dân làng. Nghe xong, người làng vỗ tay rào rào.
Giờ phút gay cấn nhất tới. Năm ứng cử viên của làng Kon Mông Tu được sắp ngồi thành một hàng, phía trên cùng của bà con. Dáng mặt ai cũng nghiêm trang nhưng khá căng thẳng. Một thanh niên bê ra một lốc ống bia rỗng, được khoét một đầu sắp thành hàng đều nhau trên chiếc bàn sân khấu.
Ngoài ống bia này một tờ giấy trắng được dán phủ lên. Trên đó ghi rõ to tên năm ứng cử viên: A Tiêng, A Hơn, A Bay, A Lợi và Y Bum... Tất cả năm người này đều được bà con đưa ra bầu công khai.
Bầu cử bằng... bắp ở Đắk Tơ Lung
Người dân bỏ bắp vào các lon bia được làm rỗng để bầu người mình ưng ý làm trưởng thôn - Ảnh: B.D.
Kiểm bắp, chọn người
Già làng U Đê bấm ngón tay rồi kể rằng làng ông có 344 nhân khẩu. Làng đã chọn đủ và cử 236 cử tri trên 18 đuổi đến nhà rông đi bầu. 236 con người này ngồi dưới quan sát từng ống bia đựng bắp.
Ban tổ chức đọc tên từng ứng cử viên rồi ôm một túi vải chứa đủ 236 hạt bắp phát cho từng người dân.
Lần lượt từng người đi theo hàng, trên tay cầm một hạt bắp, chọn ống bia rỗng ghi tên người mình ưng ý rồi bỏ vào.
Hết giờ bỏ bắp. Ban tổ chức ngồi xổm, đổ bắp ra để kiểm. Những tiếng vỗ tay ran lên khi biết người được bà con vừa bụng nhất, bỏ nhiều hạt bắp nhất là A Hơn.
Ban tổ chức tuyên bố: “A Hơn thắng cử, giữ chức trưởng thôn. Đề nghị bà con nhiệt liệt hoan hô”. Tiếng loa chưa dứt, cả dàn cánh tay đã ran lên phía dưới.
Hỏi A Hơn được bao nhiêu hạt bắp, Hơn gãi đầu, cười: “Mình không nhớ, tại lúc đó vui quá, nghe nói là 140 hạt bắp”.
Sau khi bầu xong thôn trưởng, người làng tiếp tục sắp hàng “bầu lượt về” cho chức phó thôn. Lần này người thắng cử là A Bay. A Bay hơn tuổi A Hơn, nhưng người làng bảo “ưng A Hơn hơn nên để A Bay cho A Hơn chỉ đạo”.
Kể chuyện bầu cử ở Đắk Tơ Lung, nhiều già làng ở đây bảo đây là phong tục từ thời ông bà để lại.
Không chỉ bắp, trước đây cứ mỗi đợt bầu cử người dân lại ra ruộng đào củ khoai, hái trái cây rừng, thậm chí... hái cả lá cây hoặc nhặt đá vụn để về đi bỏ phiếu chọn thôn trưởng, già làng.
Người nhiều trái cây, đá... nhất là người được chọn. Giải thích về cách bầu cử này, tất cả già làng cho biết: “Mình không biết vì sao. Thấy ông bà làm thế nên làng cũng làm thế”.
Còn chủ tịch UBND xã Đắk Tơ Lung bảo xã tôn trọng tập tục của bà con, để bà con bầu theo cách của họ. Đợt bầu cử nào cũng rất nghiêm túc, vui vẻ.
Chúng tôi đi vòng qua những ngôi làng khác như Kon Bĩ, Kon Vi Vang, Kon Lung, Kon Keng... khi đợt bầu cử cán bộ thôn vừa kết thúc.
Những vị cán bộ mới vừa được bầu lên cười hiền như cục đất, bảo: “Thì bà con bầu mình thế, mình làm thôi”.
Các vị thôn trưởng cho biết sau một đợt bầu cử, bà con lại bê mỗi nhà một ghè rượu tới nhà rông, ai có thịt thì góp thịt, có cá góp cá, không có thịt cá thì góp... 10.000 đồng mỗi hộ gia đình để làm liên hoan, cúng lễ mừng thôn trưởng, thôn phó mới cho làng.
Bầu cử bằng... bắp ở Đắk Tơ Lung
Tên các ứng cử viên được ghi trên vỏ lon bia, người đi bầu sẽ chọn tên người mình ưng ý để bỏ hạt bắp vào - Ảnh: B.D.
Ở nơi có nhiều già làng
Ngoài chuyện bầu cử, tại các ngôi làng ở Đắk Tơ Lung cũng duy trì nhiều tập tục lạ như “cúng thuốc”, cúng chọc tỉa, coi vận mệnh tốt xấu, ốm đau bệnh tật của làng trong năm thông qua củ một loại cây.
Nhiều cán bộ xã còn tiết lộ với chúng tôi một tình tiết khá bất ngờ: hầu như làng nào cũng có ít nhất... hai già làng - khác với nhiều buôn làng khác ở Tây nguyên.
Giải thích về chuyện này, già làng Kon Bĩ A Lôm - 39 tuổi - bấm ngón tay đếm, bảo: “Làng mình có mấy già làng, nhưng hai người phụ trách chính là mình và A Dắt”.
A Lôm là già làng do dân bầu, gọi là “già làng phong tục”, chuyên lo việc cúng kiếng trong làng, “quản” việc coi sóc lề lối, hương ước, luật tục của người Tơ Đra.
Còn A Dắt là “già làng uy tín”, tức là người có uy tín nhất, nói gì cũng đúng, bà con nghe theo. Thanh niên có thể cãi cha mẹ, chứ già làng quát một tiếng là nghe răm rắp, không dám ăn trộm, quậy phá.
Riêng làng Kon Mông Tu có tới ba già làng: một già làng phong tục, già làng uy tín và già làng lớn tuổi do dân bầu.
Hỏi có nơi nào mà nhiều già làng thế trong một làng không, U Đê day trán rồi bảo: “Mình không biết”. Cuối cùng U Đê nhớ ra: “À mà không có đâu, chỉ dân tộc Xê Đăng - Tơ Đra sống ở Đắk Tơ Lung này mới có nhiều già làng như thế”.
THÁI BÁ DŨNG (dungtb@tuoitre.com.vn)

BÌNH LUẬN


Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Nơi cõng xác chết duy nhất ở Việt Nam để bày tỏ lòng hiếu nghĩa

Đôi mắt của già Tênh đêm đó nhìn chằm chằm vào đống lửa đang cháy hừng hực, dường như mắt ông sáng hơn. Lời khẩn cầu dành cho người cha thân yêu vừa mất mấp máy trên môi. Đoạn, ông nhẹ nhàng nâng xác cha đặt lên lưng như một sự lưu luyến cuối cùng. Rồi những người khác trong làng khi có người thân tạ thế cũng làm như vậy.
Đêm hành lễ tiễn biệt và tâm sự với xác chết
Nghi lễ có từ bao giờ, những người Xê Đăng cũng không nhớ rõ. Nhưng dọc dài trong các bản làng Xê Đăng vẫn tồn tại một nghi lễ lạ lùng và đầy huyền bí là cõng người chết để bày tỏ lòng hiếu nghĩa. Sự sâu đậm trong cuộc sống dương gian được thể hiện chính trong sự quyến luyến cuối cùng đó.
Già  Đinh Y Tênh năm nay cũng đã gần 70 tuổi, ông là một trong những già làng Xê Đăng hiếm hoi nắm rõ các luật tục lẫn những nghi thức nhuốm màu “rừng rú” của người Xê Đăng. Sinh ra ở buôn R’leang, xã Ea Uy (Krông Pắk, Đắk Lắk), thế nhưng cuộc đời của ông cứ như một chuỗi dài du mục.
Ông kể rằng: “Nhiều nghi lễ thiêng liêng của người Xê Đăng đang mai một và mất dần đi, bởi vậy nên dù được sinh ra trong ngôi làng này nhưng từ suốt hai mươi năm nay tôi thường đi dọc dài khắp các bản làng để “tiếp lửa” cho đồng bào mình giữ lấy những nếp truyền thống của ông cha, bởi đó cũng là nét đẹp đẽ làm phong phú thêm cho nền văn hóa đó chứ”.
Đêm đó, một già làng uy tín vừa từ giã cuộc sống, từ giã nương rẫy mà về bên kia thế giới nên cả buôn làng như trang nghiêm hẳn. Thường, khi trong buôn có người trút hơi thở cuối cùng, già làng bắt đầu tổ chức buổi lễ tiễn biệt, buổi lễ diễn ra trang trọng dưới ánh sáng lửa và tiếng chiêng vang lên.
Già làng Đinh Y Tênh khẳng định lễ tiễn biệt người chết của người Xê Đăng là “đặc sản” không giống với bất cứ dân tộc nào ở Việt Nam, tuy nhiên, người Xê Đăng ở mỗi một vùng đất lại không áp dụng và thực hiện nghi lễ giống nhau. Đây cũng là điều để lại nhiều băn khoăn cho các già làng.
Sau khi lửa cháy lên phừng phừng, tất cả dân làng xếp thành vòng tròn, Đinh Y Tênh bắt nhịp bài hát bằng tiếng Xê Đăng có tên dịch ra “Đêm đưa hồn ma”. Trong bài hát đặc biệt này có đoạn:
“Hỗi một linh hồn/ Từ giã cõi tạm đi, từ giã cõi tạm đi/ Linh hồn hãy bình yên, bình yên như mùa rẫy đầy ắp no bụng/ Lửa thiêng, lửa ấm, những điệu ca sẽ đồng hành với linh hồn/ Hãy vương vấn nhưng hãy ra đi/ Hãy ra đi khi chiếc nhà mồ được hạ thổ/ Hỡi chim, hỡi rừng, hỡi những thần linh hãy chào đón hồn ma mới đang chuẩn bị được đưa vào rừng…” Lời hát dứt, tất cả lặng phắc, già làng Y Tênh nghiêm cẩm đọc một bài điếu ngay bên xác chết.
Ngược về phía Làng Tắk Giang chưa đầy 100 nóc nhà, thuộc  xã Trà Cang (huyện Nam Trà My, Quảng Nam) chúng tôi cũng được đắm mình vào một ngôi làng người Xê Đăng với vô vàn những nghi lễ lạ lẫm. Họ cũng tiễn biệt người chết như người Xê Đăng ở Đắk Lắk, thế nhưng ở đây còn sáng tạo thêm một kiểu rất đặc biệt, là từng người một trong làng đến bên xác chết dành 5 phút để nói lời tâm sự.
Diễn bài kỹ thuật săn bắn trước khi cõng xác chết
Cứ như vậy, thứ tự từ người già đến người trẻ. Những lời tâm sự này chủ yếu mong cho linh hồn hãy siêu thoát và linh thiêng để phù hộ cho cây cối nương rẫy phát triển, được mùa bội thu chứ họ không bao giờ cầu mong các linh hồn này trở về bản làng mình.
Ông Y Sắc bảo: “Lúc sống có khi không tâm sự được với nhau nhiều, có khi ở cùng làng cả đấy mà chả mấy khi giáp mặt và nói chuyện được với nhau. Bởi thế nên trước lúc đi đưa ma, ai cũng phải bày tỏ những điều mình muốn ra cho linh hồn đó được nghe. Nếu không khi xác di chuyển đi rồi thì không còn nói được nữa.
Đặc biệt, đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, bởi thế nên sau khi cõng người thân của mình đã chết những người đàn ông phải diễn một bài võ hoặc một thao tác kỹ thuật trong việc săn bắn thú rừng”.
Cõng xác chết để bày tỏ lòng hiếu nghĩa
Sau khi làm lễ tiễn biệt, người Xê Đăng không bao giờ khâm liệm xác chết ngay mà họ cõng cái xác đó quanh nhà và vượt qua nhiều cung đồi để đến huyệt chôn mới thôi. Ông Y Tênh bảo: “Vừa lìa đời nghĩa là xác chết vẫn còn chút hơi ấm vấn vương. Lúc đó còn có sự chia sẻ của người thân nếu không linh hồn đó sẽ rất lạnh lẽo. Mà cái sự lạnh lẽo đó sẽ khiến những con ma lành biến thành ma dữ đến quấy phá mùa màng”.
Sau đêm lễ tiễn biệt cái chết của ông Y Man ở buôn R’leang, xã Ea Uy hôm ấy, con trai ông là anh Y Toàn lặng người đi một hồi lâu rồi xốc cái xác cha lên lưng cứ thế cõng xác cha mình đi quanh ngôi nhà và cả khu vườn người cha từng khai hoang và canh tác suốt bao nhiêu năm ở đó nữa. Vừa cõng xác cha, Y Toàn vừa lẩm bẩm trong miệng điều gì đó cứ như hệt đang tâm sự với một người sống vậy.
Y Toàn thổ lộ rằng: “Đây là cách để người Xê Đăng của mình thể hiện lòng hiếu nghĩa và đạo làm con với bề trên của mình. Nếu không cõng xác chết là một đứa con bất hiếu đấy. Nếu là cha hoặc mẹ chết thì nhất quyết con trai cả phải là người cõng trước sau đó mới đến những người con thứ.
Y Toàn tin rằng những người xa rời cha, mẹ lúc chết thì sau này cũng sẽ bất hạnh liên miên và gặp nhiều rủi ro về sức khỏe. Để thể hiện tình nghĩa và sự quyến luyến sâu đậm những người con không chỉ cõng xác người thân mình quanh nhà, quanh vườn mà họ còn cõng lên tận nghĩa địa. Y Toàn bảo: “Lúc sống tôi rất thương cha mình. Bởi vậy nên nhất định tôi sẽ cõng xác ông đến tận huyệt mộ.
Ở đây không biết dùng xe tang đâu, cũng không khâm liệm ở nhà nữa. Chỉ tắm rửa sạch sẽ cho tử thi, mặc bộ quần áo mới và cõng họ ra nghĩa địa thôi”. Đặc biệt, những lời khẩn cầu gửi đến người thân được cho là linh nhất khi được thổ lộ trong lúc cõng xác chết. Những lời tâm sự này cũng không được tiết lộ cho ai biết, bởi có thể nó liên quan đến số mệnh của những người cõng xác chết thông qua việc kêu cầu.
Ngay bên cạnh nhà Y Toàn, anh Đinh Voan đến giờ vẫn cứ giữ trong lòng niềm băn khoăn rằng: “Cách đây 2 năm cha tôi mất, vì đang ốm, lên cơn sốt cao quá không cõng được xác cha mình lên nghĩa địa. Có lẽ vì thế nên ông ấy nghĩ mình không có hiếu mà chẳng chịu phù hộ gì cả, cứ làm gì thất bát nấy ôi. Niềm tin về tín ngưỡng này đã ăn sâu vào tiềm thức rồi, không làm là có tội đấy”.
Trở lại làng Tắk Giang tôi bần thần hỏi già làng Đinh Sắc: “Chẳng lẽ cứ phải cõng xác chết mới là có hiếu nghĩa ư, có nhiều cách thể hiện khác mà, không sợ như thế là mất vệ sinh ư…” Như “châm” đúng chỗ, ông Sắc hùng hồn tuyên bố: “Người chết cũng như người sống thôi, không có gì phải sợ cả. Chỉ sợ khi cái xác đó được chôn sâu xuống đất.
Còn không ôm, cõng thoải mái. Ai không cõng là không phải người Xê Đăng rồi. Có gia đình, không sinh được con cái nên anh em, họ hàng phải đến cõng đấy. Những xác chết này lại thường là rất thiêng đấy..”. Nói chưa dứt câu, ông Sắc chỉ tay ra phía nghĩa địa của dân tộc Xê Đăng bảo:
“Đấy, chỉ cách đây một tháng thôi, thằng Đinh Nhun nó cõng mẹ nó cả hai cây số đi bộ ra nghĩa địa đó mới khâm liệm đấy. Chắc là lòng hiếu nghĩa và tình thương của nó dành cho mẹ nó nhiều lắm, nhiều thì mới cõng khỏe được thế mà”.
Lòng hiếu nghĩa của người Xê Đăng tuyệt đối chỉ được biểu hiện và thổ lộ lúc cõng xác chết. Còn một khi đã được chôn xuống đất rồi thì dường như họ không ngó ngàng đến nữa. Ông Sắc tâm sự rằng: “Thổ lộ hết lúc cõng xác chết rồi thì sau đó phải để cho con ma nó được yên ổn và tập trung bảo vệ nương rẫy.
Trong một năm chỉ cúng hai lần để kêu các linh hồn về phù hộ cho con cháu thôi, nhưng mà trong lời khẩn cần cũng nói rõ về phù hộ xong thì hãy đi ngay chứ đừng vương vấn mãi để khiến trẻ nhỏ phải sợ hãi. Những xác chết được cõng đến mộ huyệt cũng phải do chính tay con cháu người chết đặt xuống, kiêng kị nhất là để đất lọt vào quan tài.
Trước đây quan tài chỉ bằng tre, trúc nhưng giờ đây có thêm ván nữa”. Ông Đinh Sắc cũng kể rằng xác chết phải được đặt xuống một cách chính xác, đầu hướng về phía mặt trời lặn. Không được vặn vẹo hay chỉnh xác chết nhiều. Nếu chỉnh xác sẽ khiến “con ma” đó ngủ không yên giấc và hay chui lên khỏi mộ thường xuyên để đi làm bậy.
Nhiều cộng đồng ở nơi khác cứ nghĩ những người chết do tự vẫn hay cây đè chết thì ắt sinh ra con ma dữ tợn, nhưng người Xê Đăng lại xem đó là những con ma bất hạnh, nhân từ. Nếu đặt xác người chết mà đầu ngược lại hướng mặt trời mọc thì linh hồn đó sẽ không bao giờ siêu thoát được. Y Toàn bổ sung thêm: “Không được khóc trong lễ tang đâu. Khóc nghĩa là làm các hồn ma tỉnh giấc. Chỉ được tâm sự thôi”.
Võ Thị (SBĐ)

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Bí ẩn rừng ma và tục cõng xác chết độc nhất VN

Theo tập tục của người Xơ Đăng, khi cha mẹ chết, con trai là người phải cõng xác cha mẹ đi chôn để tỏ lòng hiếu thảo.
Không biết tập tục này có tự bao giờ, nhưng theo những vị cao niên, trong tập tục tang ma của người Xơ Đăng, khi cha mẹ chết, con trai phải tự cõng xác cha mẹ ra cánh rừng thiêng để chôn cất.
Trong sự thống nhất là cơ tầng chung cho văn hoá mọi vùng miền ở Việt Nam, những quan niệm về quan- hôn- tang- tế của các cộng đồng tộc người sinh sống ở Việt Nam cũng có sự khác biệt. Các nghi thức trong tang ma của người Xơ Đăng là một ví dụ.
Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, người Xơ Đăng cho rằng mọi việc đến với con người đều có sự sắp đặt của thần linh; hay nói cách khác, thần linh chi phối cuộc sống của mọi người mà cái chết không là ngoại lệ. Chính vì vậy, trong tâm thức họ, khi chết đi, con người lại trở về với các đấng thần linh. Do đó, trước cái chết của một thành viên, người thân dù thương tiếc nhưng không than khóc nhiều.Việc chuẩn bị đưa người chết về thế giới của ma/thần linh được thực hiện chu đáo với những việc làm thiết thực như lau chùi sạch sẽ và mặc quần áo lành lặn cho người chết. Sau đó người chết được đưa đến nơi chôn cất. Sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là giữa cha mẹ và con cái thể hiện rõ trong việc đưa người chết đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Xơ đăng, rừng ma, an táng,
Tập tục tang ma của người Xơ Đăng có nhiều nét độc đáo. Ảnh: SK&ĐS.
Theo tập tục của người Xơ Đăng, khi cha mẹ chết, con trai là người phải cõng xác cha mẹ đi chôn để tỏ lòng hiếu thảo. Nếu chẳng may, người con chết trước thì sự thương tiếc của cha mẹ được thể hiện qua việc cõng xác con đến nơi an nghỉ cuối cùng ở một cánh rừng già phía tây của làng, nơi vẫn được xem là cánh rừng thiêng, cánh rừng ma của cả làng. Cũng có những trường hợp, cha mẹ chết đi khi người con còn quá nhỏ, không đủ sức cõng cha mẹ đi chôn thì phải nhờ người khác cõng thay. Một điều lưu ý là người được nhờ làm giúp việc này phải là người có quan hệ huyết thống trong dòng họ.
Nếu một số dân tộc như người Êđê, người Giarai, người Kinh... có tập tục đặt xác người chết vào quan tài trước khi đi chôn thì người Xơ Đăng để nguyên xác người chết như vậy và cõng đi chôn. Trong quan niệm tâm linh, người ta cho rằng điều đó sẽ giúp linh hồn người chết dễ siêu thoát hơn.
Táng tục và táng thức của người Xơ Đăng cũng có những khác biệt so với các tộc dân khác trong khu vực. Nếu người Kinh có tục lệ đặt huyệt mộ theo hướng Đông- Tây, để đầu người chết gối về phía núi, huyệt mộ được đào vuông thành sắc cạnh thì người Xơ Đăng có táng thức mang nhiều nét tương đồng với các tộc dân Tây Nguyên hơn.
Huyệt mộ được đào gồm hai phần: từ trên xuống có tiết diện hình vuông, mỗi cạnh khoảng 40cm. Phần huyệt này được đào sâu khoảng 1,5m. Sau đó, huyệt được khoét ngách vừa đủ để người chết nằm ngang, đầu quay về hướng Tây. Chiều cao của huyệt từ đáy đến trần ngách ngang khoảng 60 cm. Khi lấp đất người ta đặt một tấm gỗ vào nơi bắt đầu khoét ngang trước khi đổ đất xuống huyệt. Người ta tránh không để đất rơi xuống thi thể, đặc biệt là không để mặt và phần trên của thi thể người chết tiếp xúc với đất. Sự cẩn trọng khi lấp đất thể hiện thái độ trân trọng, thương tiếc của dân làng đối với người vừa mất.
Cũng giống như nhiều dân tộc khác, trong đó có người Kinh, người Xơ Đăng quan niệm có hai dạng chết: chết lành và chết dữ. Chết lành là những cái chết bình thường theo quy luật tuổi già, ốm đau hoặc chết do một số các nguyên nhân nằm ngoài ý muốn của người chết. Với cái chết này, người Xơ Đăng bày tỏ sự tiếc thương qua việc đào huyệt mộ thật sâu, thật bằng phẳng để người chết có được sự bình yên trong giấc ngủ cuối cùng của mình. Bên cạnh, theo cách nghĩ của tộc dân này, những người chết như vậy là những người hiền lành nên tang ma được thực hiện rất chu đáo.
Xơ đăng, rừng ma, an táng,
Cánh rừng ma (hay rừng thiêng), nơi con trai phải cõng xác cha mẹ đến đây để chôn cất.
Những cái chết như bị cây đè, thú dữ vồ hoặc trôi sông, suối... trong quan niệm của hầu hết các tộc dân khác là chết dữ. Với những cái chết như vậy, người chết không được chôn trong nghĩa địa chung của làng mà phải chôn ở một nơi nào khác như tại chính nơi người đó đã chết hoặc ở bìa rừng một cách sơ sài, các nghi thức cúng tế cũng đơn giản hơn, đặc biệt, hầu hết các dân tộc đều có nghi thức mời thầy cúng “làm phép” để con ma dữ đó không về làm hại những người sống…Nhưng người Xơ Đăng cho rằng những cái chết do tai nạn, rủi ro vẫn là những cái chết lành. Theo quan niệm của họ, những người chết cũng không muốn như vậy. Đó chỉ là tai nạn ngoài ý muốn của người chết và dân làng vẫn chôn cất nạn nhân xấu số rất chu đáo. Điều này thể hiện tính nhân văn của cả cộng đồng tộc người đối với các thành viên trong xã hội người Xơ Đăng.
Đặc biệt, người Xơ Đăng rất quý trọng giá trị của cuộc sống mà theo họ là do thần linh sắp đặt cho con người. Chính vì vậy, cái chết do con người tự gây ra như tự tử bị lên án nặng nề và bị xem là những cái chết dữ. Với những người như vậy sẽ không được cõng mà chỉ được khiêng đến nơi chôn cất. Huyệt mộ là một hố đào sơ sài, không có ngách ngang, người chết không được đặt nằm mà chôn ở tư thế ngồi xổm (ngồi bó gối), vài sợi tóc của người chết được kéo ngược lên trên và để lộ ra trên mặt đất khi lấp đất (người Xơ-Đăng xưa để tóc dài).
Trong những trường hợp này, mặt người chết được đặt xoay về hướng Tây. Người ta cho rằng, làm vậy con ma dữ không thể thấy được người sống để làm hại dân làng (làng của người sống ở về hướng Đông của rừng ma hoặc nghĩa địa).
Đặc biệt với những người thắt cổ chết, người làng hết sức xa lánh. Trước đây người ta thả trôi sông, suối với thái độ ghê sợ. Ngày nay do ý thức giữ sạch nguồn nước và bảo vệ môi trường nên họ khiêng xác đi chôn như chôn một người chết dữ.
Người Xơ-Đăng không có tục chia của, cũng không cúng giỗ người chết. Khi chôn người thân xong, người ta trở về nhà với cuộc sống bình thường. Có thể nói, lễ bỏ mả được thực hiện ngay khi chôn xong người chết. Chỉ khi có dịp quay lại nghĩa địa (thường là để chôn người khác), người ta mới đến thăm mộ người chết mà thôi.
Người Xơ Đăng (hay còn gọi là Xê Đăng) là một tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Có số dân khoảng gần một ngàn người phân bổ chủ yếu ở các tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi, Quảng Nam và xen kẽ cùng các tộc người khác trong khu vực.
Cùng với các tộc người khác như Bana, Brâu, Bru-Vân Kiều, Cơtu, Gié-triêng, H’rê, Khơ Mú, Mạ…, người Xơ Đăng thuộc ngữ hệ Môn-Khơmer. Sự cận cư với các tộc người khác dẫn đến việc giao thoa và đan xen văn hoá là điều tất yếu, nhưng vẫn không làm mất đi những giá trị truyền thống của người Xơ Đăng. Từ ngôn ngữ tộc người, cơ sở kinh tế tộc người đến các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể..., người Xơ đăng vẫn bảo lưu được những giá trị văn hoá truyền thống đã có từ ngàn xưa của mình, trong đó có những tập tục độc đáo trong tang ma.
(Theo Kiến thức)