Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Lô Lô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Lô Lô. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

Người Lô Lô “rửa làng”

Nửa cuối tháng 6 âm lịch, người Lô Lô ở Hà Giang nhắc nhau tổ chức lễ rửa làng. Chọn ngày đẹp, mời thầy mo, thành lập đội tháp tùng đoàn lễ…, người Lô Lô ở cao nguyên đá đang chuẩn bị cho buổi lễ mang ý nghĩa lớn của dân tộc mình.
Tiến sĩ Lò Giàng Páo, Phó Viện trưởng Viện Dân tộc học (thuộc Ủy ban Dân tộc) giải thích:

- Lễ rửa làng bắt nguồn từ một sự tích là một năm bao giờ cũng có cái may và cái rủi. Dù thu hoạch mùa màng vụ rừa rồi thắng lợi, nhưng người ta vẫn nghĩ tới rủi ro. Thế là họ phải rửa làng cho sạch sẽ, khang trang.

Đoàn cúng, ngoài thầy mo chính, còn có một thầy mo phụ, và khoảng chục người đàn ông trong bản. Tiếng trống đồng hòa với tiếng chiêng rộn rã. Đoàn người đi từng nhà để cúng, đuổi tà khí đang ẩn náu đâu đó nơi góc nhà, quanh đường, dưới xóm. Họ dắt theo hai con dê khỏe mạnh, lực lưỡng. Người Lô Lô cho rằng phải là mùi của hai con dê đó mới đủ mạnh để đuổi tà khí.

                              Le hoi cau mua cua nguoi Lo Lo1.jpg

                                    Thầy cúng người Lô Lô đang hành lễ. Ảnh minh họa:dantri.com

Thầy cúng được hóa trang, trông khá là dữ dằn. Thầy cúng cất lời đe dọa ma xấu, rằng nơi đây không phải là nơi trú ngụ của ông, của bà. Ma chết bất đắc kỳ tử thì thầy cúng gọi luôn bằng “mày”. Thầy dậm chân, rắc ngô khắp xó nhà để dọa, hò hét, đập khua ầm ĩ. Thầy dọa thật ghê gớm: Đây không phải là nơi trú ngụ của chúng mày, phải ra đi, dứt khoát phải ra đi, nếu không thì sẽ bắn, sẽ chém!

Hò hét, xua đuổi tà khí xong, thầy cúng lấy hai mảnh gỗ có hình dáng như hai chiếc sừng bò ra tung để xem quẻ. Hai mảnh gỗ biểu hiện cho âm – dương được thả xuống đất, xem ma đi hay chưa. Nếu quẻ báo chưa đi thì thầy lại dậm chân đuổi tiếp bằng cách phun nước, phun rượu. Dấu hiệu ma chưa đi là hai cái sừng bò úp sấp, hoặc cả hai đều ngửa. Còn nếu ma đi rồi thì một sấp, một ngửa, tức là cái lành ở lại, còn cái dữ mang đi.

Hai con dê, sau khi hoàn thành nhiệm vụ đi khắp bản, vào từng nhà giúp thầy cúng đẩy đuổi tà ma, thì được đoàn người dẫn ra khu đất rộng giữa làng. Và khi đó, hai con vật có công lại phải trải qua một cuộc đau đớn để mang lại bình an cho dân làng.

- Đánh cho nó bằng kêu, kêu tới thấu trời, thì trời mới biết rằng làng đã làm lễ này. Con dê đó đã làm tròn nhiệm vụ, đẩy đuổi hết tà ma. Chuyện không lành ở làng này đã làm xong. Cái lễ này nó làm khang trang, sạch sẽ làng. Sạch sẽ từ tâm hồn cho tới cảnh quan. Người ta nghĩ rằng làm lễ đó rồi thì mưa thuận gió hòa, năm đó được mùa, yên tâm làm ăn – ông Lò Giàng Páo lý giải.
Theo VOV4

Lễ cúng thần đá hộ mệnh của người Lô Lô đen

Ngoài dịp Tết Nguyên đán, mỗi năm, người Lô Lô đen ở Bảo Lạc (Cao Bằng) có một ngày cả bản không xuất hành, dụng cụ lao động được nghỉ không phải lên nương.
Cứ vào ngày Thìn của tháng 3 Âm lịch hàng năm, người Lô Lô đen ở Bảo Lạc và Bảo Lâm (Cao Bằng) lại làm lễ Mể lồ pỉ, còn gọi là lễ thờ Thần đá hộ mệnh, hay lễ cúng thổ công.

Lễ cúng thần đá hộ mệnh, chỉ người già trong bản còn nhớ gốc tích. Các già kể rằng, chuyện thờ thần đá hộ mệnh của người Lô Lô đen gắn liền với một truyền thuyết: Xưa kia, hòn đá thần đã dẫn đường cho người Lô Lô đến cư trú tại Nà Hầu (xã Bảo Toàn, Bảo Lạc) rồi sang đến  xã Hồng Trị, Kim Cúc (Bảo Lạc), Đức Hạnh (Bảo Lâm) bây giờ.

Đến đâu ở, người Lô Lô cũng thấy hòn đá hình vuông, cao khoảng 2 gang tay xuất hiện trên một mảnh đất bằng phẳng, trong cánh rừng già gần làng. Người Lô Lô coi đó là thần đá đã đi theo để bảo vệ dân làng, nên lập miếu thờ.

Bản Lô Lô đen truyền tai nhau về sự linh thiêng không chỉ của thần đá, mà cả khu rừng bao quanh thần đá, gọi là rừng thổ công.

Anh Chung Văn Sấn, ở xóm Khỏ Cà (xã Hồng Trị, huyện Bảo Lạc) kể rằng: Theo phong tục thì cúng thổ công xong mới gieo lúa, mới trồng ngô. Xem ngày tốt, ngày con rồng ở tháng 3 mới cúng được. Không cúng thì con hổ về kêu, dọa cả xóm luôn.

Mỗi bản người Lô Lô đen có một miếu thờ thần đá, dựng bằng cây que đơn giản trên một gò đất giữa rừng già. Trước ngày cúng chừng 1 tuần, cả bản tất bật chuẩn bị. Ngoài góp tiền để mua chó, mua lợn, mua trâu về giết thịt để cúng ở rừng, thì mỗi gia đình còn phải làm phẩm vật dâng cúng. Bà con làm cơm hoa nhiều màu trắng xanh đỏ vàng. Mỗi hộ dâng một nắm xôi to và một chai rượu.

Cúng thần đá hộ mệnh. Ảnh: baomoi.com

Làng nào đông thì mổ trâu, mổ bò. Con vật tế, sau khi giết thịt thì để nguyên cả con trước miếu, bát tiết đặt bên cạnh. Già làng khấn tế, mong thần đá hộ mệnh về chứng giám lòng thành kính của bà con dân làng, nhận vật tế lễ, rồi giúp dân làng tránh được tai họa, nương rẫy tốt tươi, cuộc sống no đủ. Già làng cũng thay mặt dân làng hứa với thần đá rằng sẽ không có ai dám đốt rừng, chặt cây, không bắn giết thú rừng, không làm điều ác…

Ngày làm lễ cúng thần đá hộ mệnh, bản người Lô Lô khói trắng bay trên từng nóc nhà. Nhà nào cũng thịt gà, đồ xôi. Thế nhưng, theo anh Hoàng Văn Phúng, ở bản Cà Đổng (xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm), góp mặt trong lễ cúng thần đá nơi rừng già, chỉ có người đàn ông chủ nhà:

"Ngày đấy thì con gái còn nhỏ mới đi, lớn thì không được đi. Ai mà có vợ đang chửa thì cũng không được vào khu vực đó. Sáng 8-9 giờ, thịt trâu xong thì sẽ mang một ít lông trâu đi cắm ở cái cọc nằm ở ngã ba đường. Rồi kêu cả làng không phơi quần áo ra sàn".

Kiêng kị trong ngày thờ thần đá được bà con Lô Lô đen tuân thủ tuyệt đối. Trong ngày cúng, bà con trong xóm không ai được đi đâu, không cho ai cầm cuốc cuốc rẫy. Người thực hiện lễ cúng cũng phải kiêng thật kỹ, cúng xong về tới nhà lại kiêng 3 ngày không nói chuyện với mẹ con, không ngủ với vợ, không được xới cơm, khách tới nhà không được nói chuyện... Không kiêng được như thế, người Lô Lô đen tin rằng mai kia con diều hâu sẽ về bắt gà bắt vịt!

Một tháng có vài ngày thìn, nên các bản người Lô Lô thường thỏa thuận với nhau để mỗi bản chọn một ngày, mục đích là để mời anh em bản bên cùng chứng kiến. Lễ cúng thần đá thường được tiến hành vào buổi sáng. Tới gần trưa, những con vật tế lễ được xẻ thịt, nấu cỗ ăn ngay trong rừng. Và có lẽ chỉ có duy nhất ngày đó trong năm, đàn ông Lô Lô đen mới dám bước chân vào khu rừng thiêng của bản.

Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà dân tộc học Việt Nam đã khẳng định: dân tộc Lô Lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, cùng nhóm ngôn ngữ với các dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, Cống, La Hủ, Si La. Dân tộc Lô Lô được chia thành 2 nhóm là Lô Lô đen và Lô Lô hoa. Người Lô Lô hoa cư trú chủ yếu ở Đồng Văn, Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang, còn người Lô Lô đen thì cư trú chủ yếu ở huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm của tỉnh Cao Bằng. Ở Cao Bằng, người Lô Lô đen hiện có trên 2.000 hộ.
 
Thanh Tâm/VOV4

Lạ kỳ tập tục “ăn trộm lấy may” của người Lô Lô

"Ăn trộm lấy may" trong đêm giao thừa là phong tục độc đáo của người Lô Lô ở Hà Giang vào dịp Tết. Tập tục kỳ lạ này vẫn được duy trì trong đời sống của bà con nơi đây.
 
 
Tập tục này theo tiếng dân tộc gọi là “khù mi” tức là "ăn cắp chơi" hay "ăn cắp lấy may". Bởi theo quan niệm của người Lô Lô, nếu ai đó mang về nhà được một chút gì trong thời điểm chuyển giao từ năm cũ sang năm mới thì gia đình đó sẽ gặp được nhiều điều tốt lành, làm nương được mùa.
 
Trong đêm giao thừa ở các bản làng của người Lô Lô thì nhà nhà “ăn trộm”, người người là “kẻ trộm”, mặc dù là ăn trộm, song chẳng pháp luật nào can thiệp đến và nó đã trở thành một phong tục đón Tết không thể thiếu của người Lô Lô.
 
Lấy trộm thịt heo gác bếp
 
Đi ăn trộm để lấy may nên không lấy nhiều, không lấy những đồ vật có giá trị, chỉ là củ hành, củ tỏi, là cây rau, thanh củi nhỏ… và tất nhiên là không lấy cái của gia đình mình.

Đối với người Lô Lô sống ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang thì họ thường sẽ lấy trộm mỗi thứ 12 cái, tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Nếu chưa lấy được đủ con số 12 mà đã bị phát hiện thì sẽ phải bỏ chạy và năm sau phải kiêng kỵ không được làm những công việc lớn vào tháng ứng với con số ăn trộm bị phát hiện bỏ chạy đó.
 
Người Lô Lô đón Tết
 
Người Lô Lô sống ở Mèo Vạc thì số may mắn của họ là số 3 nên họ sẽ lấy trộm mỗi thứ 3 cái, ví dụ có thể thể lấy trộm 3 củ tỏi, 3 lá rau…
 
Còn đối với người Lô Lô ở Lũng Cú thì kiêng chuyện nhổ trộm tỏi mà bị đứt vì họ cho rằng như thế sẽ gặp điềm gở, không tốt trong năm mới. Nếu chẳng may nhổ không đứt thì họ sẽ không cố nhổ lên nữa mà sẽ bỏ đi ngay, tìm “vận may” khác.
 
Một điều khá thú vị là vào đêm giao thừa khi đi ăn trộm thì người Lô Lô phải đi đúng nghĩa "ăn trộm", phải lặng lẽ, không rủ nhau, gặp người quen cũng không chào, cứ coi như không quen biết, và càng không muốn chủ nhà bắt được.
 
Trong cuộc trộm đêm giao thừa, thực ra chẳng có kẻ thắng người thua, chỉ có người may mắn, kẻ kém may, nhưng tất cả dù may hay kém may thì cũng đều vui vẻ, bởi họ đi ăn trộm chỉ để lấy may, một thú vui ngày xuân đã thành tập tục không thể thiếu của bà con Lô Lô vùng cao nguyên đá này.
Theo giadinhvietnam.com

Người Lô Lô đón Tết

Khi hoa mận nở rộ trắng tinh khôi nơi núi rừng, người dân Lô Lô xóm Nà Van, xã Hồng Trị, huyện, Bảo Lạc (Cao Bằng) rộn ràng đón Tết. Tết của người Lô Lô mộc mạc, hấp dẫn và đầy sức sống, ẩn chứa những giá trị văn hóa đậm nét của người dân miền núi cao.
Xóm Nà Van, xã Hồng Trị, huyện Bảo Lạc có khoảng 70 nóc nhà dựa lưng vào núi.
 
Mấy năm gần đây được sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, đời sống của bà con Lô Lô xóm Nà Van được cải thiện đáng kể.
 
Người phụ nữ Lô Lô xóm Nà Van ai cũng biết se tơ, dệt vải.
 
Trang phục truyền thống của người Lô Lô.
 
Trang phục nam giới Lô Lô đơn giản hơn, màu đen cài khuy ngang, quần ống rộng gần giống quần áo của người Tày, Nùng.
 
Ngày Tết, mọi người quây quần bên bếp lửa, chuẩn bị mâm cơm cúng tổ tiên.
 
Sáng mùng 1 Tết, người đàn ông lớn tuổi trong gia đình sửa soạn bàn thờ mời tổ tiên về đón Tết cùng gia đình.
 
Khách đến chơi nhà được người Lô Lô đón tiếp nồng hậu.
 
Ngày Tết, mọi người khi gặp nhau đều gửi lời chúc phúc cho nhau bằng những làn điệu dân ca mượt mà, sâu lắng.
 
Theo baocaobang.vn

Trang phục truyền thống của người Lô Lô

Người Lô Lô ở Cao Bằng rất tự hào bởi nét đẹp trong trang phục truyền thống của dân tộc với sự kết hợp tinh tế về màu sắc, kỹ thuật ghép vải đỉnh cao và hoa văn trang trí hài hòa.
Trang phục truyền thống phụ nữ Lô Lô rất hài hòa, đẹp mắt và tinh tế.

Hiện nay, nhiều cộng đồng người Lô Lô đang sinh sống tại một số xã của 2 huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm đang nỗ lực gìn giữ nét đẹp trang phục của dân tộc.

Phụ nữ Lô Lô tự se sợi để dệt vải.

Bất cứ có thời gian nào trong ngày họ đều ngồi vào khung dệt để dệt vải.

Vải dệt xong được đêm phơi khô để may trang phục truyền thống.

Phần thân áo, tay áo được trang trí kỳ công bằng kỹ thuật ghép vải tài tình.

Đầu hội khăn cuốn rất cầu kỳ với 3 lớp khăn.

Hài hòa với trang phục là chiếc nón lá đan bằng tre có chóp nhỏ.
'
Trang phục của người Lô Lô đen

Như các dân tộc khác, người Lô Lô đen có trang phục riêng. Họ luôn có ý thức, tự tôn dân tộc, tính cộng đồng và tinh thần đoàn kết cao, thể hiện rõ nét trong việc gìn giữ trang phục của dân tộc mình.
Trang phục của người Lô Lô đen có màu đen làm chủ đạo. Đối với người phụ nữ, họ mặc áo ngắn, màu đen chàm để hở bụng, xe ngực, hai ống tay hẹp nối từ bả vai xuống cổ tay bằng những khoanh vải màu xanh, đỏ, tím, vàng (thường là chín vòng màu khác nhau). Hai vạt áo trước được trang trí bởi một diềm vải hoa đỏ, khuy áo bằng vải, cài bằng cúc đồng có hình tròn; phía sau lưng được chắp những miếng vải màu hình tam giác tạo thành các ô vuông với những hoa văn răng cưa kiểu bông lúa, hình sóng nước, mạng nhện; gấu áo được trang trí bằng diềm hoa đỏ rộng khoảng 1cm và đường vải màu xanh rộng khoảng 0,5cm chạy từ hai vạt cổ áo xuống đến gấu áo...
 
Phụ nữ Lô Lô đen trong trang phục truyền thống

Phụ nữ Lô Lô đen mặc quần ống rộng, phía ngoài quần được choàng một tấm vải từ phía sau ra đằng trước mặt và cuộn chặt trước bụng, tấm vải này có tác dụng cuốn chặt cạp quần, tạo cho dáng của người phụ nữ đẹp hơn.

Trên đầu được đội khăn cuốn rất cầu kỳ, gồm có ba lớp khăn, hai lớp bên trong màu trắng, lớp bên ngoài màu đen, khi đi làm hoặc đi chợ, họ đội loại nón lá được đan rất đẹp mắt, nón được đan bằng tre, chóp hơi khum, phía mặt trong nón được trang trí bằng chiếc cánh của con cánh cam, quai nón được buộc bằng hai sợi dây được se từ chỉ hoặc len nhiều màu. Dây đeo thắt lưng được trang trí khá cầu kỳ, đằng trước bao gồm nhiều đồng xu và chìa khóa làm bằng nhôm. Đằng sau có treo 1 túi trầu được bọc bằng tấm vải nhỏ màu xanh.

Trang phục của nam giới dân tộc Lô Lô đen gần giống với trang phục của các dân tộc Tày, Nùng. Nam giới Lô Lô đen mặc áo thân dài đến trên đầu gối, xẻ tà hai bên, cài cúc bên nách phải, thường chít khăn trên đầu, dắt mối khăn phía sau gáy, trên khăn không trang trí, mặc quần chân què, cạp lá tọa; đeo thêm 1 vòng tay bằng bạc. Tất cả trang phục là do bàn tay khéo léo của người phụ nữ cắt, khâu. Riêng chiếc áo của phụ nữ, đó là một nghệ thuật tạo hình. Áo ngắn hở bụng nhưng lại bó gọn đôi "bồng đào", dù có lao động nặng hay nhẹ, áo vẫn bó gọn thân hình thon thả đẹp như thân lưng những con ong rừng. Ngày nay, phần bụng hở được mặc thêm một áo lót mỏng màu trắng hồng hoặc xanh da trời bằng vải phin.

Đồ trang sức của người Lô Lô đen được làm bằng bạc, nó không chỉ mang yếu tố thẩm mỹ, tâm linh mà còn là thứ hồi môn cho con gái khi đi lấy chồng. Người Lô Lô quan niệm, khi đeo đồ trang sức bằng bạc có thể trừ được tà ma, giữ vía cho con người và phòng được gió độc. Trong bộ trang phục của người phụ nữ Lô Lô đen không thể thiếu được chiếc vòng cổ, đây là thứ trang sức đắt tiền bởi số lượng bạc để tạo ra chiếc vòng bạc là khá lớn.

Ngay từ khi còn nhỏ, người phụ nữ Lô Lô đã được sâu tai, những chiếc hoa tai cũng được làm bằng bạc hình tròn, hình bông hoa..., hoa tai làm tôn thêm vẻ đẹp khuôn mặt của người phụ nữ được duyên dáng hơn. Nhẫn đeo tay được các cô gái Lô Lô ưa dùng nhất, tùy theo mỗi người có thể đeo nhiều hay ít, đeo ngón nào cũng được. Những chi tiết, phụ kiện nhỏ trên bộ trang phục của người Lô Lô đều thể hiện tính thẩm mỹ, sự tinh tế và quan niệm riêng về cái đẹp c
ủ

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

Những nghi lễ truyền thống của người Lô Lô ở Cao Bằng

Vanhien.vn - Đặc trưng của văn hoá dân tộc Lô Lô ở Cao Bằng được thể hiện rất phong phú và đa dạng qua các hình thức sinh hoạt: ăn, ở, đi lại, phong tục tập quán... Trong đó, các nghi lễ như: Lễ cầu mưa, lễ mừng cơm mới, lễ cúng tổ tiên, lễ làm ma khô... rất độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc.
Nghệ nhân dân gian Lô Lô Lý Văn Dung, xã Hồng Trị, huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) và cán bộ văn hóa huyện bàn về các nghi lễ truyền thống của dân tộc
Lễ cầu mưa: Người Lô Lô thường tổ chức lễ cầu mưa vào tháng ba âm lịch vào các ngày lẻ. Việc cầu mưa không thể làm tuỳ tiện, không phải năm nào cũng làm lễ mà chỉ vào những năm thời tiết khắc nghiệt, khô hạn người dân mới tập trung lại, mời trưởng xóm hoặc người cao tuổi có uy tín trong cộng đồng biết đầy đủ những nghi thức thực hiện Chủ lễ cầu mưa. Chủ lễ sẽ tiến hành những nghi thức cùng với sự tham gia của người dân.
Những lễ vật dâng cúng lễ cầu mưa, gồm: chó, gà. Chủ lễ sẽ khấn một bài lễ cầu cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà, làng bản no ấm. Bài khấn dài hoà với thanh âm trầm bổng người chủ lễ giống như bài văn tế, người khấn như hát văn nghe du dương trong tiếng trống, tiếng nhị. Sau khi khấn xong, người làm lễ sẽ đốt giấy bản ở bốn góc bàn, vẩy rượu ra bốn phương tạ ơn đất trời.
Lễ mừng cơm mới: Do điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của người Lô Lô chỉ trồng một vụ mùa vào cuối mùa xuân sang đầu mùa hè nên thường thu hoạch vào tháng 9, 10 âm lịch. Sau khi thu hoạch xong người Lô Lô tổ chức lễ mừng cơm mới. Trong ngày lễ thường có các lễ vật như: rượu, xôi, gà, lợn... được tổ chức tại một đám nương đã thu hoạch xong. Họ mời thầy cúng đến làm lễ cảm tạ thần nông, tổ tiên, trời đất và cầu khấn cho năm sau mưa thuận, gió hoà, làm cho mùa màng tốt tươi... Lễ mừng cơm mới được người Lô Lô tổ chức hằng năm vừa trang trọng song vẫn gọn nhẹ, tiết kiệm.
Lễ cúng tổ tiên: Lễ cúng tổ tiên là một trong những sinh hoạt thuộc các nghi lễ vòng đời của người Lô Lô mang tính giáo dục cộng đồng hướng về cội nguồn, biết ơn tổ tiên...
Theo phong tục người Lô Lô, khi gia đình có người chết từ 3 - 4 năm, người con trưởng trong gia đình sẽ lập bàn thờ tổ tiên và rước hồn lên bàn thờ, lập bài vị để thờ cúng. Các gia đình Lô Lô thường lập bàn thờ tổ tiên ở sát vách của gian giữa, đối diện cửa chính, có những hình nhân bằng gỗ, được cắm hoặc cài ở vách phía trên bàn thờ để tượng trưng cho linh hồn tổ tiên. Lễ cúng thường được tổ chức hằng năm vào ngày 14/7 âm lịch tại các gia đình trưởng họ và được chuẩn bị trước cả năm. Theo lệ thường, khi làm lễ, trưởng họ sẽ là người đứng ra sắm lễ, các gia đình trong dòng họ đóng góp theo khả năng. Lễ vật bắt buộc phải có để dâng lên cúng tổ tiên gồm 1 con lợn, 1 con gà, đôi trống đồng, xôi, rượu, đèn dầu, tiền vàng...
Trống đồng là khí cụ không thể thiếu trong Lễ cúng “Ma khô” của người Lô Lô ở Cao Bằng.
Lễ thờ thần đá: Còn gọi là lễ "Mề lồ pí" để cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, bội thu cho mọi người khoẻ mạnh, sống lâu,hạnh phúc... Ngày lễ hội, thầy cúng thay mặt dân làng đọc bài hát tế dài trên nghìn câu trong 2-3 ngày gửi lên thần linh, xin thần phù hộ cho bản làng. Trong ngày diễn ra lễ có nhiều trò chơi dân gian diễn ra trên những bãi đất trống ở đầu làng.
Lễ cúng “Ma khô”: Đây là lễ thể hiện rõ nhất nét đặc trưng và phong phú, đa dạng của văn hoá dân tộc Lô Lô. “Ma khô” nghĩa là khi chết, người ta không cúng ngay mà phải đợi thêm một thời gian sau mới tổ chức lễ cúng. Trong lễ cúng ma khô, bảo vật quý nhất của người Lô Lô là trống đồng cổ sẽ được đem ra sử dụng trong thời gian diễn ra lễ. Âm hưởng của trống đồng vang khắp núi rừng hoà với tiếng thầy cúng đọc những bản trường ca dài bảy ngày đêm không hết, kết hợp với những điệu múa uyển chuyển, nhịp nhàng làm cầu nối giữa cõi sống với cõi chết, dẫn dắt linh hồn người quá cố về với nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên.
Mỗi một nghi lễ của người Lô Lô đều nói lên nguồn gốc, ước mơ, khát vọng của con người. Đồng thời, phản ánh giữa cái thiện và ác, về khả năng chống chọi với thiên nhiên, với thú dữ, với kẻ thù để bảo vệ quê hương, bản quán, bảo vệ sự sinh tồn của cộng đồng dân tộc Lô Lô.
Nguồn: Báo Cao Bằng

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Đặc sắc nón lá của dân tộc Lô Lô đen

Nón lá của dân tộc Lô Lô đen ở huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) không chỉ là vật dụng gắn bó mật thiết với người dân trong sinh hoạt, lao động hằng ngày mà còn là sản phẩm thủ công độc đáo, thể hiện bàn tay tài hoa, trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân, mang nét đặc trưng văn hóa của người Lô Lô nơi đây.
Nón lá của dân tộc Lô Lô đen là một nghệ thuật tạo hình mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc.
 

Dây mây là nguyên liệu chính để làm nón lá của dân tộc Lô Lô. Mây được lấy từ những vùng núi cao, thường người ta chọn những thân mây chắc, khỏe, dóng đều và cứng về làm sạch, sau đó chẻ thành nan. Tiếp đến, người Lô Lô lấy lõi cành hoa của một loại cây gần giống cây moóc (tiếng địa phương là "rò xí"), tách thành sợi như sợi cước, phơi khô.

Nón lá của phụ nữ dân tộc Lô Lô đen gọi là "hú tế". Nón có đường kính khoảng 50 cm, hình hơi khum. Ở mặt trên từ đỉnh chóp nón có 5 sợi nan mây gập đôi và kết lại với nhau, rồi chia đều từ đỉnh nón kéo hình dẻ quạt làm trục chính. Sau đó dùng các sợi nan đan lại với nhau tạo mắt lưới hình ngũ giác nhỏ, đan theo vòng tròn đồng tâm từ đỉnh chóp xuống khoảng 20 cm thì bắt đầu dùng nan trúc vót tròn, uốn cong làm 2 nẹp và dùng "rò xí" buộc lại. Sau đó, dùng nan mây đan mắt kín hình dấu cộng chạy theo vòng tròn, có độ rộng khoảng 5 cm.

Ở mặt trong của nón lót một lớp lá cây mai (họ cây tre, có lá to bản) đã phơi khô. Để tránh mưa thấm, người thợ còn lót thêm một lớp ni lông, sau đó dùng nan mây đan một lớp lưới mắt ngũ giác đúng khuôn của mặt trên nón và ép vào để lá mai được gắn cố định. Từ đỉnh chóp, các thanh nan dọc được nẹp vào tỏa đều ra vành nón, được buộc giữ với nhau bằng các nan trúc tròn tạo tia như mặt trời. Điều đặc biệt, nhiều thanh nan dọc được làm từ trúc đen - loại trúc mọc ở các vùng núi trên 1.300 m, nơi có độ ẩm cao, thân trúc sau khi khô vẫn giữ màu đen bóng, rất hiếm và được dân tộc Lô Lô đen ưa chuộng. Phía trong mặt nón còn được trang trí bằng chiếc cánh của con cánh cam, hoặc lấy một số mảnh gương cài vào tạo sự phản quang khi có ánh sáng chiếu vào nón.

Còn nón lá của đàn ông dân tộc Lô Lô gọi là "hú chòa" cũng có hình dáng tương tự như nón của nữ nhưng được làm đơn giản hơn. Mặt trên nón được đan mắt lưới hình ngũ giác, to bằng hạt ngô đều vành nón rồi nẹp lại bằng các thanh nan trúc hình tròn. Mặt trong của nón không có hoa văn sặc sỡ.

Để sơn nón, người Lô Lô đen lấy vỏ cây trẩu về cạo màng bên ngoài và giã nhuyễn rồi cho vào nồi nấu. Sau đó, lọc lấy nước, đun tiếp đến khi cô đặc thành chất dầu sền sệt, có màu vàng nhạt. Dầu sau khi để nguội mới quét lên nón. Nón quét dầu trẩu trở nên óng ả như bôi một lớp sơn, vừa đẹp mắt, đồng thời có tác dụng chống nước, mối mọt. Dây nón được se từ chỉ hoặc len nhiều màu, buộc 4 góc làm quai và buông thõng 2 tua dài để trang trí. Đàn ông Lô Lô đen khi đội nón thì móc quai ra sau gáy, còn phụ nữ Lô Lô đen đầu được đội khăn cuốn rất cầu kỳ, tiếp đến mới đội nón lá trông rất đẹp mắt.  Có lẽ chính bởi sự tỉ mỉ, kỳ công như vậy mà chiếc nón lá của  dân tộc Lô Lô đen ngày càng ít. Theo ông Chi Viết Hải, xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc (Bảo Lạc), mỗi chiếc nón lá phụ nữ dân tộc Lô Lô đen được làm hơn nửa tháng và có giá trên 1 triệu đồng. Tuy nhiên, hiện nay những nghệ nhân làm được nón lá của dân tộc Lô Lô đen không còn nhiều và tuổi đã cao.
 
Nón lá gắn với trang phục của dân tộc Lô Lô đen là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Những chi tiết, phụ kiện trên nón đều thể hiện tính thẩm mỹ, sự tinh tế và quan niệm riêng về cái đẹp, cho thấy giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc Lô Lô đen tại Cao Bằng rất phong phú và đa dạng, mang đậm bản sắc dân tộc.
Theo baocaobang.vn
 

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô ở Lũng Cú (Hà Giang) là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô ở xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là di sản văn hoá phi vật thể thuộc loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng, được đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia năm 2012. Đây là nghi lễ cổ truyền của cộng đồng Lô Lô, thường được tổ chức hàng năm vào ngày 14/7 (âm lịch) tại các gia đình trưởng họ.
Theo Hồ sơ di sản (tư liệu tại Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lich), khi gia đình Lô Lô có người chết 3-4 năm, con trưởng sẽ lập bàn thờ tổ tiên (ông tổ "duỳ khế") và rước hồn lên bàn thờ, lập bài vị hình người để thờ cúng. Bàn thờ này được đặt ở sát vách của gian giữa, đối diện cửa chính, có những hình nhân bằng gỗ cắm hoặc cài ở vách phía trên để tượng trưng cho linh hồn tổ tiên.
Tuy mọi gia đình Lô Lô đều có ban thờ tổ tiên, nhưng lễ cúng tổ tiên lại thường được tổ chức tại nhà trưởng họ (thầu chư) và được dòng họ chuẩn bị trước cả năm. Theo lệ thường, khi làm lễ, trưởng họ sẽ là người đứng ra sắm lễ, các gia đình đóng góp theo khả năng. Lễ vật bắt buộc phải có để dâng cúng gồm: 1 con bò, 1 con lợn, 1 con gà, xôi, rượu, tiền vàng, đèn dầu, đôi trống đồng.
Khi dòng họ có kế hoạch làm lễ, trưởng họ trực tiếp mời thầy cúng, cử một người đàn ông đi mượn trống đồng - bảo vật linh thiêng của cộng đồng về làm lễ. Nghệ nhân đánh trống đồng, người hóa trang thành người rừng (Ma cỏ) được dòng họ mời tham gia múa nghi lễ. Các Ma cỏ phải cùng nhau tìm loại cỏ Su choeo trên núi Chun ta (đỉnh núi có tên gọi là núi "Sống lưng") để bện quanh người thành trang phục che kín thân. Hoá trang xong, Ma cỏ sẽ nhảy múa cho đến khi kết thúc Lễ cúng tổ tiên. Trong giai đoạn đó, họ không được phép ăn, nói; đi đứng không được vấp ngã, vì nếu vấp ngã hoặc bị nhận dạng thì năm đó sẽ gặp xui xẻo.
Các ma cỏ nhảy múa trong lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô. Ảnh: Cục Di sản văn hóa.
Các ma cỏ nhảy múa trong lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô. Ảnh: Cục Di sản văn hóa.
Lễ cúng tổ tiên hay lễ cúng tang ma cho người đã khuất của người Lô Lô bắt buộc phải có người "nhảy lễ" trong trang phục Ma cỏ. Họ quan niệm, Ma cỏ là nguồn cội của tổ tiên xưa ở trên rừng, lấy cây cỏ làm quần áo. Vì thế, ngày nay khi làm lễ, muốn tổ tiên về được thì phải có Ma cỏ dẫn đường, làm cầu nối giữa con cháu trên trần gian với tổ tiên và người chết mới được dẫn lối về nhận tổ tiên ở thế giới bên kia.
Lễ cúng tổ tiên là một trong những sinh hoạt thuộc các nghi lễ vòng đời, mang tính giáo dục cộng đồng hướng về nguồn cội, biết ơn tổ tiên, tạo sự cố kết cộng đồng gia đình, dòng họ, làng bản... Đây là nghi lễ có tính thiêng, đầy chất nghệ thuật của riêng người Lô Lô, hiện vẫn được cộng đồng này duy trì, thực hành đều đặn theo truyền thống.

 Trống đồng từ thế kỷ 5 của người Lô Lô là bảo vật quốc gia

Người Lô Lô (tên gọi khác là Di) là một trong 54 dân tộc sinh sống, làm việc, lao động và học tập tại Việt Nam. Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cộng đồng này có hơn 4.500 người, thuộc nhóm dân tộc ít người nhất Việt Nam. Người Lô Lô cư trú tại 30 tỉnh/thành, trong đó chủ yếu ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng), hay Mường Khương (tỉnh Lào Cai) và Lai Châu.
Người Lô Lô có hai nhóm đen (quý tộc) và trắng (bình dân). Họ nói tiếng Lô Lô, có chữ viết riêng, nguồn sống chủ yếu là ngô và lúa nương. Cộng đồng Lô Lô có nhiều dòng họ, người trong cùng một dòng họ thường quần tụ với nhau thành một làng.
Trống đồng của người Lô Lô. Ảnh: HaGiangonline.
Trống đồng của người Lô Lô. Ảnh: HaGiangonline.
Người Lô Lô có chiều dày lịch sử và truyền thống văn hóa đặc sắc với nhiều dấu ấn đậm nét. Tiêu biểu trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng, sinh hoạt của tộc người này là trống đồng, được người dân coi như báu vật thiêng liêng biểu tượng sức sống của dân tộc. 
Theo tài liệu của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, trống đồng Lô Lô thường đi thành cặp, một chiếc đực (nhỏ hơn) và một chiếc cái (lớn hơn), dùng trong các dịp lễ Tết, tang ma.
Trống được cấu tạo tang mở, thân eo, chân choãi, có 4 quai bố trí thành 2 cặp đối xứng nhau qua trục thân. Chính giữa mặt trống là hoa văn hình ngôi sao 12 cánh. Trống được trang trí bằng nhiều loại hoa văn tiêu biểu như: đường thẳng song song hướng tâm, vòng tròn chấm, hình người hóa trang cách điệu, mặt trống có nhiều lỗ tròn thủng. Người Lô Lô quan niệm, những lỗ tròn ấy là mặt trời, tia trống là con mắt của mặt trời, vành hoa xung quanh là các hành tinh.
Năm 2015, đôi trống đồng có niên đại thế kỷ 5 của cộng đồng người Lô Lô được Thủ tướng Chính phủ ký công nhận là bảo vật quốc gia, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hà Giang
.

Lễ vật cưới của người Lô Lô sẽ được đưa cho ông cậu chứ không phải bố mẹ cô dâu

Cưới hỏi là sự kiện vô cùng trọng đại trong cộng đồng người Lô Lô. Hôn nhân của dân tộc này là một vợ một chồng, cư trú tại nhà chồng.
Theo tài liệu của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, tập quán lâu đời của người Lô Lô là sau khi chọn được ngày tốt, nhà trai sẽ nhờ bốn người làm mối mang hai chai rượu và lễ vật đến nhà gái dạm hỏi. Nếu nhà gái đồng ý, nhà trai làm cỗ rồi ấn định ngày cưới. Đồ thách cưới thường là: gạo nếp, gạo tẻ, thịt lợn, rượu. Ngoài ra, nhà gái có thể yêu cầu thêm: váy, áo, vòng tay, vòng cổ cho cô dâu, thậm chí còn thách cả bạc trắng để làm của hồi môn.
Khác với những dân tộc khác, người Lô Lô không đưa lễ vật cho bố mẹ cô dâu mà mang lễ vật đến cho ông cậu. Đây là người có vai trò rất quan trọng trong gia tộc Lô Lô và là người quyết định việc hôn nhân, việc phân chia tài sản. Các lễ vật sau khi được đưa đến nhà ông cậu sẽ được người này chuyển lại cho bố mẹ cô dâu.
Phù dâu trong đám cưới người Lô Lô. 
Phù dâu trong đám cưới người Lô Lô. 
Sau lễ dẫn cưới 1 ngày, nhà trai sẽ làm lễ đón dâu, thường vào ngày chẵn với mong ước đôi trẻ mãi mãi không bị lẻ loi. Lễ dâng cưới diễn ra trong lời ca đón rể, đón dâu mừng hai họ hết sức thân mật. Tối hôm đó nhà gái tổ chức hát thâu đêm suốt sáng để phúc chúc cho cô dâu chú rể.
Sáng hôm sau, cơm nước xong, chú rể cùng phù rể vào bái lạy tổ tiên, lễ sống bố mẹ vợ cùng ông cậu và quan khách. Ông cậu sẽ dắt cháu gái từ trong buồng ra trao cho nhà trai. Cả gia đình nhà gái đều khóc thể hiện sự quyết luyến với người con gái đi lấy chồng, cô dâu thì khóc to hơn như lưu luyến không muốn rời xa bố mẹ đẻ của mình. Nhà trai, nhà gái mỗi bên có một phù dâu dắt tay cô dâu đi ra. Dẫn đầu đoàn dâu là bốn người làm mối, đi sau là cô dâu cùng phù dâu và họ hàng nhà trai.

Bố mẹ chồng lánh mặt đi để cô dâu sau này khỏe mạnh

Theo tập tục, khi cô dâu Lô Lô bước chân vào nhà chồng trong đám cưới, bố mẹ chồng sẽ phải tạm lánh mặt đi nơi khác vì sợ gặp mặt thì sẽ át vía, sau này con dâu sẽ không khỏe mạnh.
Đoàn dẫn dâu về nhà trai được một lúc thì đoàn ông cậu của nhà gái sẽ mang của hồi môn sang, gồm: lợn, gà, rượu, thịt, xôi nếp, cái cuốc, con dao, hòm quần áo của cô dâu... Nhà trai khi đó sẽ tổ chức linh đình và hát mừng suốt đêm để chúc cho hạnh phúc đôi trẻ. Khi tiễn ông cậu về, nhà trai tùy số của hồi môn ít hay nhiều của cô dâu mà đưa lại một số tiền gọi là tiền đi đường và làm quà.
Cỗ cưới của người Lô Lô diễn ra trong ba ngày liên tục. Kết thúc 3 ngày ấy, cô dâu chú rể trở lại thăm nhà vợ, có thể ở lại nhà gái ít bữa, sau đó về ở hẳn tại nhà chồng. Trong hôn nhân, người Lô Lô thịnh hành chế độ một vợ một chồng và rất nghiêm khắc với những ai vi phạm, ngoại tình. Chính vì thế người Lô Lô rất ít khi ly hôn, đời sống vợ chồng của họ khá bền vững.

Tục làm ma khô của người Lô Lô là để dẫn đường cho người chết về với tổ tiên, không quấy quả con cháu

Theo tài liệu của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, làm ma khô là nghi thức không thể thiếu trong tang lễ của người Lô Lô sau khi đã chôn cất người quá cố.
Người Lô Lô quan niệm, con người có 2 phần: linh hồn và thể xác. Khi đem đi chôn, đấy mới chỉ là tiễn đưa thể xác, phần hồn vẫn ở lại, lang thang đâu đó, chưa về được với thế giới tổ tiên. Chính vì thế họ làm ma khô để triệu hồn về, tiễn đưa lần cuối. Lúc này, người chết mới gia nhập được vào thế giới tổ tiên một cách trọn vẹn và được đưa lên bàn thờ thờ cúng. Nếu không tổ chức làm ma khô, hồn người chết sẽ không về được với tổ tiên, sống lang thang vất vưởng hoặc quay về quở phạt, quấy quả con cháu, làm mọi người bệnh tật, súc vật ốm chết.

Quỳnh Trang - Tổng hợp

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Độc đáo lễ cúng sức khỏe của người Lô Lô đen

Người Lô Lô đen quan niệm “vạn vật hữu linh”, tức là mọi vật đều có “linh hồn” để điều khiển mọi hoạt động của con người. Tín ngưỡng của người Lô Lô đen là thờ thần “Nềnh” (nghĩa là ma) để chỉ lực lượng siêu nhiên có khả năng tác động lợi, hại đến đời sống và hoàn cảnh tự nhiên xung quanh con người. Trong đó, lễ cúng sức khỏe hội tụ những nét đẹp trong tín ngưỡng của người Lô Lô đen.


 
Người Lô Lô đen xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc , huyện Bảo Lạc( Cao Bằng) thịt bê làm lễ cúng sức khỏe.
 

Người Lô Lô đen quan niệm có “ma lành” và “ma dữ”. “Ma lành” phù hộ, bảo vệ con người, nương rẫy, gia súc, xóm làng; “ma dữ” gây ra tai họa cho con người, như: ma gió làm cho con người co giật, sốt, chết đột ngột; ma ngựa làm cho con người đau tức ngực; ma cây đa làm cho con người điên... Ngoài ra, người Lô Lô đen còn tin rằng mỗi xóm, làng đều có ma làng cai quản. Ma làng có thể làm cho làng thịnh vượng hay ốm đau, chết chóc, vì thế hằng năm, dân làng phải tổ chức cúng ma làng một lần. Nếu trong làng có nhiều người ốm đau, gia súc bị dịch thì người Lô Lô đen lại cùng nhau đóng góp lễ vật để cúng ma làng.

Lễ cúng sức khỏe được người Lô Lô đen làm khi trong nhà có người ốm, giống như giải hạn của người Tày - Nùng. Trước khi lễ cúng bắt đầu, gia chủ sẽ lấy lá bưởi và lá cây chít bó thành một bó nhỏ để cạnh cầu thang hay cổng rào ngoài sân, báo hiệu nhà có việc. Người nhà sẽ chuẩn bị một bàn bằng gỗ thấp, hình vuông, có chiều dài mỗi cạnh khoảng 1 m, trên bàn để 4 bát con đựng rượu, 6 cuộn vải trắng chia làm 2 bên và phủ vải hoa lên, kèm theo tiền giấy, đèn dầu... Quá trình làm lễ cúng sức khỏe có hai bước: cúng sống, cúng chín. Thủ tục ban đầu là cúng sống, gia chủ giết một con bò (bê), lấy 2 bát to tiết, 2 đôi đũa và rót rượu ra bát, rồi lấy dây thừng buộc vào cổ bò và kéo sợi dây dài đến bàn cúng. Thầy mo là người có uy tín với dân bản, trước ngày làm lễ phải giữ mình thanh tịnh, trong sạch. Khi cúng, thầy mo mặc y phục, ngồi quay lưng lại bàn thờ, hướng nhìn ra cửa chính và làm lễ. Bài cúng của thầy mo là gọi “ma lành” về để phù hộ, độ trì cho người được cúng gặp nhiều may mắn.

Ông Lý Văn Dung, ở xóm Khau Chang, xã Hồng Trị, huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) là thầy mo của dân tộc Lô Lô đen cho biết: Bài cúng ngắn, dài, tùy thuộc vào trình độ của thầy cúng. Dân tộc Lô Lô đen có chữ viết khá sớm nhưng đã bị mai một, một số vùng đồng bào còn lưu giữ những văn tự chữ viết tượng hình nhưng hiện nay không ai đọc được. Các bài cúng của thầy mo phong phú và được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng. Cấp bậc thầy mo được phân biệt rõ ràng, trình độ sơ cấp là biết cúng gà, thứ cấp là biết cúng lợn, thầy mo “cao tay” là biết cúng bò.

Sau khi cúng sống, gia chủ sẽ mổ bò làm cơm và tiến hành cúng chín. Thường ngày, chuẩn bị bếp núc là phụ nữ, nhưng khi có nghi thức tâm linh hay những bữa cơm mời khách thì chủ bếp là những người đàn ông, bởi quan niệm đàn ông là những người biết việc hơn phụ nữ và việc tiếp khách, ngoại giao là của đàn ông.
 
 
Sau khi chế biến xong theo yêu cầu của nghi lễ, mâm cúng chín có thịt luộc, nước canh, xôi, gan nướng, thịt nướng. Thầy mo sẽ cúng tổ tiên, gọi hồn người được cúng về với gia đình, cái tốt quay lại, cái xấu rời đi... Lễ cúng sức khỏe diễn ra từ 10 giờ đến 16 giờ. Sau các nghi thức trên, người ta tin rằng con ma ốm, vận hạn đã bị xua đi, người được cúng sẽ có sức khỏe dồi dào. Sau đó, gia chủ sẽ mời cơm họ hàng và bạn bè. Việc trả lễ cho thầy mo không quá nặng nề, tùy theo điều kiện của gia chủ.
 
 
Một nghi thức cúng chín trong Lễ cúng sức khỏe của dân tộc Lô Lô đen Bảo Lạc.

Dân tộc Lô Lô đen hiện nay sinh sống tập trung tại 2 huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm (Cao Bằng). Với lịch sử phát triển của dân tộc, trong bề dày văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tâm linh của người Lô Lô đen vẫn tồn tại một số hủ tục cần loại bỏ. Tuy nhiên, lễ cúng sức khỏe mang những giá trị về văn hóa dân gian, tín ngưỡng, nghi lễ gắn với tập quán lao động và sinh hoạt, cần được nghiên cứu, gìn giữ và phát huy, góp phần thiết thực bảo tồn bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Lô Lô trong xã hội hiện đại.
Theo baocaobang.vn
 

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc (Hà Giang)

Là một trong những dân tộc ít người ở Hà Giang, nhưng đến nay người Lô Lô ở xóm Sảng Pả A (thị trấn Mèo Vạc) vẫn giữ nguyên vẹn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
Ông Lò Sì Páo, dân tộc Lô Lô, người đã có 32 năm làm trưởng xóm và vừa vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú cho biết: xóm Sảng Pả A có 118 hộ gia đình thì có 63 hộ là dân tộc Lô Lô, sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, dệt thổ cẩm và buôn bán nhỏ trong những ngày chợ phiên. Tuy là xóm nằm tại trung tâm huyện, nhưng người dân ở đây vẫn giữ được những nét văn hóa, thể hiện rất rõ trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày, trong lễ hội và trong trang phục, nhất là trang phục phụ nữ. Năm 2007 xóm Sảng Pả A được công nhận là Làng Văn hóa du lịch của huyện Mèo Vạc.

Thiếu nữ Lô Lô may thổ cẩm.


Với sự đầu tư của huyện Mèo Vạc, mộr nhà văn hóa đã được xây dựng ở xóm Sảng Pả A  để phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. Đây cũng là nơi đội văn nghệ dân gian của xóm thường xuyên tổ chức biểu diễn các điệu múa, làn điệu, nhạc cụ truyền thống của dân tộc Lô Lô; qua đó góp phần bảo tồn vốn văn hóa truyền thống của dân tộc và phục vụ các đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch; nhất là trong dịp Lễ hội Chợ tình Khau Vai hay các ngày lễ lớn được tổ chức hàng năm tại huyện, tỉnh...

Xóm Sảng Pả A còn thành lập Nhóm thêu thổ cẩm Lô Lô với 24 thành viên. Chị Lùng Thị Minh, Trưởng nhóm cho biết: Hầu hết phụ nữ Lô Lô đều phải học thêu thùa, may vá từ khi còn tấm bé, để lúc lớn lên có thể tự tạo cho mình những bộ trang phục đẹp nhất. Trang phục của người phụ nữ Lô Lô được làm rất công phu, trang trí các loại hoa văn tinh xảo như hình tam giác, hình vuông, hình quả thảo quả… Khăn quấn đầu được trang trí bằng các mô típ hoa văn và các tua vải màu sắc sặc sỡ. Để hoàn thiện một bộ trang phục phải mất 2 đến 3 năm mới xong.
 
Các thành viên Nhóm dệt thổ cẩm Lô Lô giới thiệu sản phẩm với du khách.

Theo chị Lò Thị Hoa, thành viên Nhóm thêu thổ cẩm chia sẻ: phụ nữ Lô Lô không dùng khung mà chỉ cầm miếng vải để thêu, các đường kim mũi chỉ được xử lý rất khéo léo và tinh tế. Sản phẩm mà Nhóm làm ra chủ yếu là hàng lưu niệm như thổ cẩm, trang phục, hàng trang sức... Ngoài trồng trọt và chăn nuôi, hàng tháng các thành viên trong nhóm đều có thu nhập trên 2 triệu đồng từ nghề thêu các sản phẩm.

Người Lô Lô có nhiều lễ hội, nhưng tiêu biểu là Lễ mừng ngô mới và Lễ hội cầu mưa. Theo ông Lò Sì Páo: Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, chỉ trồng được một vụ ngô vào cuối mùa xuân sang đầu mùa hè, nên thường thu hoạch vào tháng 9 và tháng 10. Sau khi thu hoạch xong, người dân tiến hành tổ chức lễ mừng ngô mới. Trong ngày lễ thường có các lễ vật như rượu, xôi, gà hoặc lợn được tổ chức tại một mảnh nương đã thu hoạch xong. Họ mời thầy cúng đến làm lễ cảm tạ thần nông, tổ tiên, trời đất và cầu khấn cho năm sau mưa thuận, gió hoà, làm cho mùa màng tốt tươi... Lễ mừng ngô mới được duy trì hàng năm và được tổ chức trang trọng nhưng tiết kiệm.
 
Nhiều sản phẩm phong phú, đẹp mắt được chính bàn tay khéo léo của những người phụ nữ Lô Lô làm ra.

Lễ hội Cầu mưa thường diễn ra vào đầu tháng 3 (âm lịch) hàng năm, với những nghi thức độc đáo, được lưu truyền từ đời này tới đời khác, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Đây là một lễ hội tín ngưỡng phồn thực, họ tâm nguyện, cầu khấn, ước ao năm nay có nhiều hạt mưa rơi xuống tưới cho nương rẫy ngày càng xanh tốt, cho dân bản được mùa, đời đời no ấm. Đồ để tế lễ bao gồm gà trống, chó, thanh kiếm bằng gỗ hoặc sắt, bát nước, chén rượu; ống hương bằng tre tượng trưng cho 4 phương trời, cùng với hương, giấy vàng, bạc. Một vật tế lễ không thể thiếu được trong lễ hội cầu mưa của đồng bào Lô Lô đó là trống đồng và đàn nhị. Thông qua việc tổ chức lễ hội, bà con dân tộc Lô Lô còn truyền dạy cho con cháu của mình niềm tự hào và giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, đồng bào Lô Lô còn có vốn văn hoá dân gian phong phú, thể hiện qua những điệu múa, làn điệu dân ca, truyện cổ tích...
 
Hát múa trong Lễ hội Cầu mưa.
Hát múa trong Lễ hội Cầu mưa.
Thanh Thủy - Phan Mạnh

Nét đặc sắc trong văn hoa, phong tục, tập quán của người Lô Lô đen

Dân tộc Lô Lô ở Cao Bằng hiện nay có khoảng là 2.373 người, phân bố chủ yếu ở các xã Hồng Trị, Kim Cúc, Cô Ba (Bảo Lạc), xã Đức Hạnh (Bảo Lâm). Đời sống văn hóa phong phú của người Lô Lô đã góp những mảng màu tươi sáng, rực rỡ cho bức tranh văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Căn cứ vào trang phục, thổ âm và đặc trưng văn hóa, người Lô Lô được chia thành hai nhóm: Lô Lô hoa và Lô Lô đen. Với đặc điểm sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế của người Lô Lô còn mang tính tự cung tự cấp, trình độ văn hóa còn hạn chế. Chỉ có trẻ em ở độ tuổi đến trường và một số thanh niên đã từng được đi học mới nói được tiếng phổ thông, còn lại đa số dân bản và người có tuổi không biết tiếng phổ thông. Do đó, điều kiện để người Lô Lô tiếp xúc với thế giới bên ngoài rất hạn chế, tình trạng đói nghèo cao.

Thiếu nữ dân tộc Lô Lô.
 
Tuy điều kiện kinh tế chưa phát triển, nhưng bản sắc văn hóa của người Lô Lô lại vô cùng đặc sắc và phong phú. Từ trẻ nhỏ đến người già trong bản hiện vẫn sử dụng trang phục truyền thống. Trang phục của người Lô Lô dựa trên nền vải chàm và được cắt, khâu thủ công. Áo của phụ nữ Lô Lô là loại áo ngắn, hở bụng, thân áo chỉ dài 30 - 35cm, tay áo có những đường viền vải màu sặc sỡ. Dọc sống lưng áo cũng được trang trí cầu kỳ bằng cách ghép vải màu, tạo thành hình tam giác, hình vuông trông rất lạ và đẹp mắt. Gam màu chủ đạo trang trí trên trang phục nữ là đỏ và vàng. Quần ống rộng có dải rút. Trang phục của nam giới của người Lô Lô đen gần giống với trang phục của các dân tộc Tày, Nùng. Nam giới Lô Lô đen mặc áo xẻ tà hai bên, cài cúc bên nách phải, thường chít khăn trên đầu. Quần cũng là loại quần ống rộng hơi giống kiểu quần của nam giới dân tộc Tày. Riêng trong đám ma, nam giới mặc áo dài xẻ nách, trang trí hoa văn sặc sỡ theo từng chi và dòng họ.

Trang sức phụ nữ Lô Lô khá cầu kỳ với túi trầu, nón lá và họ ưa thích trang sức bằng bạc. Đặc biệt, vòng cổ của họ không chỉ dùng một chiếc mà một bộ có từ 5 - 7 chiếc, từ nhỏ đến lớn, khi đeo không bị chồng lên nhau mà được xếp cạnh nhau trông rất đẹp. Ngoài vòng cổ, phụ nữ Lô Lô còn đeo vòng tay và khuyên tai, tất cả đều được chế tác từ kim loại bạc.

Người Lô Lô quan niệm cái chết không giống như các dân tộc khác, họ cho rằng người chết là được về đoàn tụ với tổ tiên và bắt đầu một cuộc sống mới nên họ không quá đau buồn khi trong gia đình có người chết. Đám tang người Lô Lô không thờ cúng 3 ngày, 7 ngày, 49 ngày và 100 ngày như người Kinh, cũng không tảo mộ hay làm giỗ hằng năm. Chôn cất người chết xong, sau 3 năm hoặc khi có điều kiện mới làm ma khô, tức là cải táng và đưa vào nghĩa địa chung của dòng họ. Nghi thức để tang của người Lô Lô cũng khác biệt, với người Lô lô đen ở Cao Bằng, con trai chỉ để tang bố không để tang mẹ, cách thức để tang bao gồm: đặt lên bàn thờ một chiếc khay, trong đó, có 1 - 2 cái chén, 1 điếu thuốc lào, 1 ống tre trên có úp một cái bát. Con gái chỉ để tang mẹ, không để tang bố. Cách thức để tang cũng rất đặc biệt, họ chỉ trùm chiếc áo lên đầu cho đến khi cải táng xong. Cũng có trường hợp con gái để tang mẹ bằng cách cắt một ít tóc cất vào nơi kín đáo, khi nào họ chết sẽ mang tóc đó chôn theo luôn. Thời gian để tang rất ngắn, chỉ từ lúc có người chết đến khi chôn cất xong.

Với quan niệm người chết sẽ bắt đầu một cuộc sống mới ở thế giới khác nên đám ma của người Lô Lô có nhiều lễ thức độc đáo, như hóa trang, nhảy múa, nhào lộn..., Phụ nữ nhảy múa trong đám tang sẽ mặc những bộ trang phục và trang sức đẹp nhất để đưa tiễn người quá cố về với tổ tiên. Đặc biệt, họ sử dụng trống đồng trong đám tang. Trống được bảo quản bằng cách chôn xuống đất, khi nào sử dụng mới đào lên. Dân tộc Lô Lô là dân tộc duy nhất ở Việt Nam còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Vì thế dân tộc Lô Lô được coi là cộng đồng lưu giữ "linh hồn" trống đồng.

Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn với huyền thoại về nạn hồng thủy. Trống của người Lô Lô luôn có một đôi gồm trống đực và trống cái. Trống treo trên giá đặt ở chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ mang thai mới được đánh trống. Đối với người Lô Lô, trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ mang tính chất tôn giáo. Họ quan niệm rằng có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên. Tộc trưởng là người giữ trống đồng, khi trong họ có người chết mới đem ra sử dụng. Trước kia trống được chôn ở dưới đất nơi sạch sẽ kín đáo, ngày nay do sợ bị mất nên một số gia đình đã đem trống cất ở trong nhà. Hiện nay trong kho Bảo tàng tỉnh có 17 trống đồng, trong đó, 11 trống là của người Lô Lô.

Dân tộc Lô Lô có những bản sắc văn hóa độc đáo. Để giữ gìn giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Lô Lô và phát huy trong cuộc sống hôm nay cần được các cấp chính quyền, các ngành chức năng quan tâm. Với số dân ít, sống tương đối tập trung, các làng bản người Lô Lô cần tiếp tục được đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Tiếp tục đầu tư thoả đáng cho công tác nghiên cứu, sưu tầm vốn văn hoá dân gian của dân tộc này hiện còn đang gìn giữ được. Với bản sắc riêng độc đáo của mình, các làng bản người Lô Lô có tiềm năng trở thành những điểm du lịch văn hoá hấp dẫn nếu các ngành chức năng biết đầu tư, khai thác hợp lý.         
 
 
Ngân Hà

Dân tộc Lô Lô

Dân tộc Lô Lô hiện có khoảng gần 4.600 người, là một trong số những dân tộc rất ít người ở nước ta, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai. Dân tộc Lô Lô được chia làm 2 nhóm gồm Lô Lô đen và Lô Lô hoa và có các tên gọi khác là Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn.



Bánh tráng là món ăn đồng bào Lô Lô ưa chuộng

Tiếng Lô Lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến, ngữ hệ Hán – Tạng. Người Lô Lô định cư thành những bản nhỏ. Nhà của người Lô Lô có 3 loại: nhà sàn, nhà đất và nhà nửa sàn, nửa đất.

Trang phục của người Lô Lô hoa

Trong nhà của người Lô Lô, bàn thờ “ma nhà” được đặt ở sát vách sau của gian giữa, bàn thờ tổ tiên được tượng trưng bằng những bài vị hình nhân cắm trên vách bàn thờ.
Người Lô Lô chủ yếu làm ruộng lúa nước và nương định canh. Phụ nữ Lô Lô hoa thường mặc áo cổ tròn xẻ ngực, quần chân què, ngoài quần quấn thêm váy lửng. Phụ nữ Lô Lô đen mặc quần chân què, áo cổ vuông chui đầu. Đàn ông Lô Lô mặc áo xẻ nách năm thân dài tới gối. Quần và áo đều màu chàm.

Trang phục của người Lô Lô đen

Hôn nhân của người Lô Lô là hôn nhân một vợ một chồng. Thanh niên nam, nữ được tự do tìm hiểu để đi đến hôn nhân. Khi bố mẹ qua đời, ít nhất sau 1 năm con cái mới được dựng vợ gả chồng. Người Lô Lô cúng tổ tiên, ông bà vào dịp rằm tháng 7, tết năm mới...

Ăn mèn mén trong lễ ma khô
 
Người Lô Lô có truyền thống văn hóa rực rỡ, thể hiện qua những điệu múa, làn điệu dân ca chan chứa tình yêu con người, cuộc sống, những câu truyện cổ tích, thần thoại. Hiện nay, người Lô Lô vẫn còn giữ được những bộ trống đồng cổ, coi đó là báu vật thiêng liêng mà cha ông truyền lại, là biểu tượng sức sống của dân tộc.

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Niềm vui mới ở xã vùng cao Lũng Cú

Tuấn Khanh 

(Dân Việt) Trong tiết xuân lạnh giá, những cây đào, cây lê chúm chím hé nở bên đường lên cột cờ, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Đặt chân đến nơi đây ai ai cũng cái cảm nhận được cái gió, rét thấu da, cắt thịt, và tiếng phần phật của lá cờ Tổ quốc rộng 54m2 tung bay trên đỉnh núi Lũng Cú.

Lũng Cú là xã nằm ở địa đầu cực Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới dài 16,5km với Trung Quốc; là 1 trong 34 xã, thị trấn biên giới của tỉnh Hà Giang. Xã có 9 thôn (xóm), với 890 hộ thuộc các dân tộc Mông, Lô Lô, Tày, Pu Péo. Năm 2017, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng; tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm trên 50%; xã đã đạt 11/19 tiêu chí nông thôn mới.
 niem vui moi o xa vung cao lung cu hinh anh 1
Quán cà phê của người dân mở phục vụ du khách ở thôn Lô Lô Chải.   Ảnh: T.L
Lô Lô Chải là thôn nằm ngay dưới chân cột cờ Lũng Cú, có 105 hộ, trong đó dân tộc Lô Lô có 95 hộ, dân tộc Mông 10 hộ. Đến thôn này, chúng tôi cảm nhận được không khí đón tết tưng bừng rộn rã ở xóm dưới chân cột cờ này. Cũng như nhiều dân tộc thiểu số ở Hà Giang, ngày tết là dịp được người Lô Lô coi trọng nhất. Phong tục đón tết của bà con cũng rất độc đáo, ẩn chứa những giá trị văn hóa đậm nét của các dân tộc trên vùng công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.
Anh Sình Dỉ Gai – Trưởng Ban phát triển thôn chia sẻ: Từ khi thôn Lô Lô Chải được các cấp chính quyền trong tỉnh đầu tư xây dựng làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với xây dựng nông thôn mới, Lô Lô Chải đã trở thành một trong những điểm du lịch khám phá nét văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước khi đến với Cột cờ Lũng Cú. Với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ chỉ  chăn nuôi, trồng trọt, nay người dân đã biết làm dịch vụ homestay, buôn bán hàng hóa... nên đời sống ngày càng khấm khá, năm nay bà con trong xóm đón tết rất vui.
Bên bếp lửa bập bùng, anh Gai kể: Người Lô Lô ăn tết từ 15 tháng Chạp, mổ lợn để treo thịt ăn vào dịp tết. Từ ngày mùng 1 đến mùng 8 tết là lúc họ hàng đến nhà nhau chơi và ăn tết. Tết được kéo dài đến ngày 15 tháng Giêng, lúc đó mọi nhà đốt vàng giấy (hóa vàng). Với người Lô Lô, trong những ngày xuân, mọi người khi gặp nhau, dù không quen biết, nhưng ai cũng có thể gửi lời chúc phúc bằng những làn điệu, khúc ca đã được truyền giữ từ ngàn đời. Đây là một nét văn hóa rất riêng thể hiện tình cảm mến khách của người Lô Lô.
Còn những chàng trai cô gái Lô Lô, ngày xuân là dịp để họ gặp nhau trao gửi tâm tình qua những điệu dân ca đối đáp mượt mà, nồng đượm. Anh Gai cho biết thêm: “Từ hôm đi họp ở xã về, tôi thông báo cho thôn biết là năm 2018, xã Lũng Cú được tỉnh chọn đưa vào kế hoạch phấn đấu hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới, bà con trong thôn vui lắm. Ai cũng bảo cái nông thôn mới cho ta được thay đổi cuộc sống không còn cảnh đói, nghèo, tết mà không có thịt lợn như trước”.
Những gương mặt rạng ngời của đồng bào Lô Lô Chải và tiếng hát đối đáp của các chàng trai, cô gái Lô Lô vang lên giữa đất trời địa đầu tổ quốc làm cho núi rừng thêm ấm áp, bừng dậy sắc xuân trên đỉnh cao Lũng Cú, cho thấy một mùa xuân no ấm, một năm thành công đang về với người dân vùng cao Hà Giang.

Dân bản Lô Lô Chải góp sức dựng cột cờ Lũng Cú

authorPhóng sự ảnh Trọng Chính 

(Dân Việt) Trên bản đồ Việt Nam, đường biên giới Việt-Trung nếu hình dung là chóp nón mà hai điểm thấp nhất là A Pa Chải (Điện Biên) và mũi Sa Vĩ (Móng Cái) thì đỉnh chóp nằm ở cột cờ Lũng Cú (huyện Đồng Văn, Hà Giang).

Trên bản đồ Việt Nam, đường biên giới Việt-Trung nếu hình dung là chóp nón mà hai điểm thấp nhất là A Pa Chải (Điện Biên) và mũi Sa Vĩ (Móng Cái) thì đỉnh chóp nằm ở cột cờ Lũng Cú (huyện Đồng Văn, Hà Giang). Dưới chân ngọn cờ thiêng, Lô Lô Chải là một ngôi làng độc đáo, nơi quanh năm nhìn thấy lá cờ Tổ Quốc có diện tích 54m2 kiêu hãnh tung bay trong gió.
Được xác định là điểm cực Bắc nơi địa đầu của Tổ quốc ở tọa độ 23021’75’’ vĩ độ Bắc, 105018’97’’ kinh độ Đông, cột cờ Lũng Cú chính là “nơi bắt đầu nét vẽ đầu tiên của bản đồ Tổ quốc”.
Ngược thời gian, vùng biên cương cực Bắc này từng có cột cờ đầu tiên được dựng thời nhà Lý (khoảng năm 1075) bằng thân cây sa mộc khi Thái úy Lý Thường Kiệt hội quân trấn ải biên thùy. Một lá cờ lớn đã được ông treo lên, đánh dấu chủ biên cương lãnh thổ nước ta. Trải qua gần 1.000 năm, cột cờ được nhiều lần xây dựng lại và cột cờ hiện tại được xây dựng năm vào năm 2010 với lá cờ Tổ quốc thiêng liêng có diện tích 54m (chiều dài 9m, chiều rộng 6m).
Đứng dưới chân núi Rồng nhìn lên lá cờ tung bay trong nắng gió là Lô Lô Chải - bản tiền tiêu, nằm cách cột cờ Lũng Cú 1,4km và cách cột mốc 419 giáp ranh tỉnh Vân Nam của Trung Quốc chưa đầy 1km. Dù chỉ có dân số khoảng vài nghìn cư trú tại huyện Đồng Văn nhưng người Lô Lô là dân tộc có công đầu khai khẩn đất đai nơi đây.
Những người già ở bản Lô Lô Chải cũng kể lại rằng, năm 1991 dưới sự chỉ đạo của chính quyền, họ cùng các dân tộc Lũng Cú đã tỏa đi khắp núi rừng, tìm một cây pơmu cao gần 13m, và phải 20 trai tráng mới chuyển được thân cây nặng hàng tạ ấy đưa lên đỉnh núi Rồng, làm cột cờ bằng gỗ. Đến năm 2000, suốt 4 tháng ròng rã người Lô Lô lại cùng các dân tộc Lũng Cú đã cõng lên đỉnh đồi cao 1.460m từng bao cát, từng tảng đá, từng can nước để xây lên cột cờ bê tông kiên cố. Những chiếc quẩy tấu thô mộc này cùng với bước chân cần mẫn để lên đỉnh núi Rồng, góp phần xây lên cột cờ kiên cố cực bắc Tổ quốc.
 dan ban lo lo chai  gop suc dung cot co lung cu hinh anh 1
Sắc phục của cô gái Lô Lô và màu xanh của chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú, những người hàng ngày làm nhiệm vụ hướng dẫn du khách và các đoàn khách lên thăm cột cờ.
 dan ban lo lo chai  gop suc dung cot co lung cu hinh anh 2
Những nếp nhà cổ đã có hàng trăm năm tuổi với những bức tường trình được làm bằng đất nện trong bản Lô Lô Chải.
 dan ban lo lo chai  gop suc dung cot co lung cu hinh anh 3
Từ vị trí phía ngoài của cà phê Cực Bắc, phóng tầm mắt ra xa là  cột cờ Lũng Cú với quốc kỳ Việt Nam phấp phới trong gió.
 dan ban lo lo chai  gop suc dung cot co lung cu hinh anh 4
Nét văn hóa độc đáo của người Lô Lô được biết đến bởi những bộ váy áo truyền thống mà những người phụ nữ như ba cô gái Dìu Thị Phối, Sình Thị Thuyên, Sình Thị Khuyên đang mặc.
 dan ban lo lo chai  gop suc dung cot co lung cu hinh anh 5
Từ thôn Lô Lô Chải, bất cứ ở nhà nào hay thậm chí ngay trên ruộng lúa đều có thể ngắm nhìn lá cờ đỏ sao vàng kiêu hùng bay trong gió.
 dan ban lo lo chai  gop suc dung cot co lung cu hinh anh 6
Cô gái dân tộc Lô Lô hướng dẫn du khách thăm cột cờ Lũng Cú nói rằng nếu chạm được tay vào lá cờ Tổ quốc trên đỉnh núi Rồng là rất may mắn bởi ít khi lá cờ hạ xuống thấp ngang tầm với.
 dan ban lo lo chai  gop suc dung cot co lung cu hinh anh 7
Lô Lô Chải, xóm nhỏ bình yên nằm nép mình dưới chân núi Rồng là nơi người dân mỗi ngày đều nhìn thấy cột cờ Tổ quốc nổi bật giữa vùng đất với 3/4 là đá.