Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Stiêng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Stiêng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2019

Lễ cúng cơm mới của người Xtiêng

Người Xtiêng quan niệm rằng “vạn vật hữu linh” tất cả đều linh thiêng đều có thần trú ngụ, như thần mặt trời, thần mặt trăng, thần núi, thần rừng, thần gió, thần mưa… nên đều phải có cúng lễ cầu, mong thần ban phúc.
Trong các tín ngưỡng nghi lễ của người Xtiêng phải kể đến “lễ cúng cơm mới” (paba Khiêu) - nghi lễ quan trọng có ảnh hưởng tới tình cảm đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng người Xtiêng.

Lễ cúng cơm mới thể hiện tấm lòng tôn kính thần lúa đã đem lại cuộc sống ấm no cho người Xtiêng. Được tổ chức vào những dịp thu hoạch mùa màng bội thu, theo nghi lễ của người Xtiêng.

Trong lễ cúng cơm mới, người Xtiêng thường có tục hiến sinh (giết gà, heo, trâu) để tế thần. Ở lễ hiến sinh có tục đâm trâu (có nơi gọi là lễ đâm trâu) khá hấp dẫn lôi cuốn các thành phần trong buôn (bon) tham gia.

Trong lễ hội này người ta có sự chuẩn bị công phu: Rượu ngâm trước hàng tháng. Chọn cây nêu và chạm trổ hoa văn cây nêu (cột buộc trâu) thật đẹp. Chăm sóc con trâu kĩ lưỡng để tế thần. Chuẩn bị quần áo đẹp để đi trẩy hội.

Ngày lễ chọn một số trai, gái trong bon khỏe và đẹp nhảy múa vòng quanh con trâu theo vùng ngược kim đồng hồ để làm lễ đâm trâu.Trai làng cùng nhảy múa, một số người khỏe mạnh trai tráng thì tham gia “đâm trâu” cùng với già làng (hoặc người có uy tín trong làng) được làng cử ra làm trưởng lễ. Sau đó, trâu được mổ thịt chia đều cho dân bon cùng mở hội hân hoan, mừng lúa rẫy tươi tốt.

Lễ đâm trâu là biểu hiện tinh thần trọng vọng thần linh của người Xtiêng. Người Xtiêng giết trâu để dâng hiến thần linh nhờ che chở phù hộ, biểu hiện lòng biết ơn của mình đối với các vị thần đã cho họ mùa màng bội thu.

Tổ chức đâm trâu trong lễ cúng cơm mới.

Ngoài thịt trâu, thức ăn thiết đãi khách trong buổi lễ còn có cơm lam, rượu cần, cháo bồi, canh thụt, đọt mây nướng... Tiệc kéo dài thêm một vài ngày nữa cho đến khi hết thịt, rượu nhạt.

Trong những tín ngưỡng trên, có các điệu múa tham gia như là một thành tố quan trọng không thể thiếu vắng. Những điệu múa do các thầy cúng, ông bóng, bà bóng thực hiện. Thầy cúng, bà bóng là trung gian chuyển tải mối quan hệ giữa thần linh với người trần gian. Từ nhu cầu của sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mà người Xtiêng đã sáng tạo hình thái múa tín ngưỡng.

Múa tín ngưỡng có đặc điểm cơ bản là yếu tố ngẫu hứng và mang tính độc diễn. Tuy theo bài bản, quy ước chung, nhưng nó vẫn mang dấu ấn sáng tạo cá thể. Đó là phụ thuộc vào nghệ thuật của các thầy cúng, bà bóng. Song nó vẫn bảo tồn đặc trưng, bản sắc, bài bản, quy ước của từng tộc người. Do vậy, đều là tín ngưỡng cầu mùa, tín ngưỡng thờ thần nước, thần núi, thần rừng nhưng nghệ thuật múa tín ngưỡng có khác nhau. Mặt khác còn phụ thuộc vào phong tục, tập quán, nghi lễ, luật tục và truyền thống văn hóa của từng người.

Việc tổ chức lễ hội cúng cơm mới truyền thống đối với đồng bào Xtiêng rất quan trọng, nhằm phát huy và gìn giữ nét đẹp văn hóa bao đời, tạ ơn trời đất, mừng được mùa, gắn kết cộng đồng…
Theo dantocviet.cinet.gov.vn

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

Tố - sự giàu có của người S’tiêng

San Nguyễn Thứ Năm, ngày 26/05/2016 19:01 PM (GMT+7)

(Dân Việt) Tố (đồ đựng rượu) có từ rất lâu đời và có vai trò quan trọng trong phong tục văn hoá của người S’tiêng (huyện Bù Đăng, Bình Phước).

Tố góp mặt trong những ngày trọng đại như lễ đâm trâu, cưới hỏi, ma chay… Tố thể hiện sự giàu có, chỉ những gia đình nào nhiều trâu-lợn mới có được chiếc tố trong nhà.
 to - su giau co cua nguoi s’tieng hinh anh 1
Những chiếc tố của già làng Điểu Gô vẫn còn được giữ gìn tới nay. Ảnh: S.N 
Theo già làng Điểu Gô, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tố có hình dáng và công dụng gần giống như ché rượu cần của đồng bào Tây Nguyên. Rượu cái được ủ từ men lá rừng để trong những chiếc tố này có mùi vị thơm ngon hơn hẳn. Tố không chỉ đơn thuần là vật đựng rượu mà đó còn là tài sản, là của hồi môn của gia đình, mang đậm bản sắc văn hoá S’tiêng. Ngày xưa, chỉ những gia đình có của ăn của để mới có tố trong nhà. Tố càng nhiều chứng tỏ gia đình đó giàu có và được dân làng nể trọng.
Có nhiều loại tố như tố rang, tố tăng wot, tố kơn… được phân biệt bằng hình dáng, hoa văn hoạ tiết trên thân. Loại tố lớn nhất gọi là rơt nơn. Thoạt nhìn rơt nơn gần giống như chiếc chum của đồng bào Bắc Bộ. Chỉ những ngày lễ thật lớn, mổ tới 7 trâu, rơt nơn mới được đem ra sử dụng.
Loại tố thứ hai gọi là xà lung, thường dùng trong lễ cưới và ma chay. Xà lung gần giống rơt nơn nhưng nhỏ hơn, được dùng làm lễ vật “trả của” trong đám cưới. Nếu trong đám cưới của người Kinh nhất định phải có trầu cau thì đám cưới của người S’tiêng ở Bù Đăng không thể thiếu xà lung. Theo phong tục trước đây, chàng trai S’tiêng muốn lấy được vợ thì việc đầu tiên là phải sắm xà lung. Xà lung được xem như tài sản chàng trai trả công cho nhà gái đã sinh thành và nuôi dưỡng cô dâu.
Trong ngày cưới, nhà trai khiêng xà lung đi trước sang trao cho nhà gái, sau đó mới được rước dâu về, việc đó giống như hình thức nạp tài của ngưòi Nam Bộ. Ngày nay, xà lung còn ít, nên nhiều gia đình đã quy đổi số xà lung ra tiền mặt cho nhà trai đỡ vất vả. Đối với đám tang, người S’tiêng thường đập vỡ xà lung trên mộ- như một cách chia của cho người chết. Tuy nhiên, chỉ những gia đình giàu có mới giữ lại phong tục này vì xà lung đã hiếm và giá thành lại cao.
Ngoài rơt nơn, xà lung, còn có tố tăng got. Tăng got có cổ cao hơn rơt nơn, màu sắc bắt mắt, những chiếc tai tố vẫn là số chẵn nhưng to và vồng cao hơn. Hoa văn trang trí cầu kỳ với những con rồng uốn lượn quanh thân tố. Tuy nhiên, tăng got chỉ làm vật trang trí, ít đem ra đựng rượu vì theo ông Điểu Gô “rượu ủ trong tăng got uống nhạt hơn trong rơt nơn”.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

“Cưới vợ trả của” - tập tục lâu đời của đồng bào Stiêng, Bình Phước

Người Stiêng lưu truyền những giá trị văn hóa, quan hệ ứng xử trong đời sống thường ngày mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó có tục “cưới vợ trả của”.
Khi có điều kiện để trả đủ số lễ vật cho nhà gái thì được đưa cô dâu về nhà trai hoặc ra ở riêng

Trong số các dân tộc anh em cùng sinh sống tại tỉnh Bình Phước, người STiêng chiếm số đông và có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa. Người STiêng có ngôn ngữ, tiếng nói và chữ viết riêng; họ cũng lưu truyền những giá trị văn hóa, quan hệ ứng xử trong đời sống thường ngày mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó có tục “cưới vợ trả của”.

Cũng giống như người Kinh, nghi thức đầu tiên trong đám cưới của người STiêng là “lễ hỏi”. Trong lễ hỏi, nhà trai cử hai người làm mai mối (gọi là Đhran) sang nhà gái hỏi cưới. Trong đám hỏi, khi ông mai dừng lời hát, nhà trai, nhà gái, già làng và ông mai cùng kích năng (thách cưới). Đây là một tục lệ cổ truyền đã có từ lâu đời và đến nay vẫn còn duy trì, dù rằng đã có những thay đổi đáng kể. Số lễ vật thách cưới mà nhà gái đưa ra thường tương đương với giá trị mà ngày trước cha cô gái phải bỏ ra để cưới mẹ cô gái. Trước mặt già làng, hai bên gia đình và bà con trong sóc tham dự, cha cô gái đếm 30 que tượng trưng cho 30 cái tố nhất, 2 que tượng trưng cho tố ghi, 5 que tượng trưng cho 5 tố con rồng, 2 que tượng trưng cho 2 slung, 1 que tượng trưng cho 1 con bò và 2 que tượng trưng cho 2 con trâu, số lễ vật này lần lượt được trao cho ông mai. Và trước mặt mọi người,  ông mai trao lại cho cha của chàng trai.

Thông thường thì nhà trai phải chấp nhận bất cứ yêu cầu nào của nhà gái đưa ra. Cha của chàng trai hoàn toàn chấp nhận yêu cầu cảu nhà gái và sau nhiều hồi bàn bạc cả hai gia đình đã thống nhất những điều kiện của nhau như bắt vợ sau khi cưới, hay gia đình nhà gái có việc gì cần giúp đỡ thì chàng rể phải sang làm… Sau khi định ngày cưới, hai người mai mối thông báo với nhà gái và được nhà gái đồng ý bẻ cây thách cưới, gọi là tục kích năng.

Bản chất của “tục kích năng” chính là hình thức “cưới vợ trả của”. Cha cô gái bẻ những cây que đưa cho người làm mai đếm, để biết nhà gái thách cưới bao nhiêu con trâu, bò, heo, tố (bình, vại) rượu? Nhà trai buộc phải chấp nhận yêu cầu của nhà gái, nếu không đáp ứng được thì bắt ở rể trả nợ. Sau khi thống nhất, nhà trai mang đầy đủ sính lễ tiến hành lễ cưới. Khi hai họ, đôi trai gái và người làm mai ngồi trước tố rượu cúng thần linh, cũng là lúc người nhà gái làm thịt trâu, heo, gà… thết đãi hai họ và bà con trong buôn, sóc.

Khi có điều kiện để trả đủ số lễ vật cho nhà gái thì được đưa cô dâu về nhà trai hoặc ra ở riêng, nếu chưa trả được thì phải ở rể cho nhà gái đến khi trả hết nợ. Ngày nay vợ chồng có thể ra ở riêng và trả nợ cho cha mẹ vợ sau. Sau ngày cưới đôi vợ chồng trẻ bước vào cuộc sống mới với gia đình, dòng họ và cộng đồng…

Người STiêng có quan niệm, việc cưới không phải là việc riêng của gia chủ, mà cũng là niềm vui và trách nhiệm của cộng đồng, buôn, sóc. Vì vậy, mỗi khi có đám cưới họ cùng nhau chuẩn bị lễ vật, thức ăn, chia sẻ công việc với gia chủ và say sưa tham dự lễ. Bên cạnh đó, họ còn tồn tại “tục nối dây”: Nếu vợ chết, người chồng có thể lấy em gái vợ; anh trai chết, em trai có thể lấy chị dâu (nếu được em gái, chị dâu chấp thuận).

Theo dantocviet.cinet.gov.vn