Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Lạng Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Lạng Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

Cao khô Vạn Linh ngon nhờ gạo, thơm nhờ nắng vàng

Cao khô (mỳ khô) là đặc sản của Lạng Sơn với hương thơm của gạo, vị dai, dễ ăn, có thể chế biến nhiều món.

Cao khô Vạn Linh ngon nhờ gạo, thơm nhờ nắng vàng
 
 
 

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2019

Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai

Hằng năm tại khu du lịch núi Mẫu Sơn (tỉnh Lạng Sơn) vẫn diễn ra chợ phiên vùng cao Mẫu Sơn. Tại đây, la liệt các sản vật núi rừng độc, lạ, hiếm thấy, đặc trưng của núi rừng xứ Lạng được đồng bào các dân tộc người Dao nơi đây bày bán khiến nhiều du khách tò mò, thích thú.

Phiên chợ vùng cao Mẫu Sơn không chỉ là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi gặp gỡ giao lưu của bà con vùng cao nơi đỉnh mây mù này. Đặc trưng nổi bật nhất của các phiên chợ vùng cao đó là luôn rực rỡ màu sắc từ trang phục của bà con dân tộc đến những sạp thổ cẩm, chim thú muôn loài... được bày bán la liệt dưới nền đất. Dù ngày nay, các phiên chợ vùng cao không còn được như xưa, nhưng vẫn tạo sự hấp dẫn, hiếu kỳ, háo hức của du khách thời hiện đại.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 1
Sắc màu thổ cẩm từ những bộ đồ của người Dao nơi đây luôn là nổi bật nhất trong Phiên chợ vùng cao Mẫu Sơn.
Mẫu Sơn từ xa xưa vốn đã nổi tiếng với những bài thuốc cổ truyền của người sắc tộc Dao. Vùng núi này cách thành phố Lạng Sơn 30km về phía đông, nằm trên địa bàn 3 xã: Công Sơn, Mẫu Sơn (huyện Cao Lộc) và xã Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình). Dân bản xứ Mẫu Sơn là người Dao, do tập quán sống và canh tác, nên rất am hiểu về núi rừng.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 2
Cuộc sống người dân nơi đây khá biệt lập, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nơi đỉnh mây mù.
Đến chợ phiên vùng cao Mẫu Sơn vào dịp lễ hội du khách sẽ thấy khung cảnh yên bình, dân dã chứ không kẻ bán người mua tấp nập, nhộn nhịp như khu chợ miền xuôi. Khu chợ đặc biệt này khiến nhiều người có cảm nhận những thứ vốn đã thuộc về ký ức, bỗng như lại trở về qua từng sạp hàng bày bán các sản phẩm nông sản,  các cây thuốc....của đồng bào dân tộc Dao nơi đây.
Chợ phiên vùng cao Mẫu Sơn đơn giản, người bán đặt các loại hàng hóa lên tấm bạt, người mua sẽ rất dễ dàng chọn lựa. Nơi đây như địa điểm “hội tụ” bao nhiêu thứ từ đặc sản cho đến bình dân, từ hoa lá cho đến những chú rùa người dân bắt được từ rừng sâu. Nhưng hầu như tất cả đều là “lộc trời cho”, người dân lấy được từ rừng già.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 3
La liệt nông sản, những thứ hay, độc lạ .. thu hút sự tò mò của nhiều du khách khi tham gia chợ phiên vùng cao Mẫu Sơn.
Cuộc sống người Dao trên đỉnh Mẫu Sơn cao 1.000m so với mực nước biển hoàn toàn nhờ cậy vào thiên nhiên. Thức ăn lấy từ rừng, tự trồng trong vườn nhà, lúa gạo trồng trên nương rẫy. Mọi hoạt động đều khá tách biệt với thế giới bên ngoài bởi vị trí địa lý và đường sá di chuyển khó khăn. Để tồn tại giữa rừng thiêng nước độc, chống lại các loại bệnh tật, người Dao nơi đây đã chế biến những cây cỏ trong rừng thành những bài thuốc, vị thuốc có tác dụng chữa bệnh rất đặc biệt, sáng tạo và lưu truyền nhau cho đến nay.
Chị A Múi, xã Mẫu Sơn chia sẻ với PV báo điện tử DANVIET.VN: "Chợ đông vui nhộn nhịp như này ở đây năm chỉ có vài lần nên lần nào tôi cũng tranh thủ vào rừng kiếm hoa lan, cây thuốc... mang lên đây bán. Ở đây hầu như ai cũng biết các loại cây thuốc của người Dao. Đó đều là những bài thuốc gia truyền học từ người lớn tuổi trong gia đình, dòng họ...
Theo chị Múi, nhiều du khách lên đây thường tìm mua các vị thuốc chữa bệnh. Họ tò mò thích thú khi thấy những con rết, con rùa đá, những loại quả lạ làm thuốc... chúng tôi hái được từ rừng”, chị Múi nói.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 4
Những chú rùa đá được người dân bắt từ rừng sâu đem nhốt vào rọ mang ra chợ phiên Mẫu Sơn bán thu hút sự tò mò của nhiều du khách.
Chia sẻ với PV báo điện tử DANVIET.VN, chị Nguyễn Thu Ngọc, khách du lịch từ Hà Nội cho biết: Mình lên Mẫu Sơn chắc cũng phải đến 5 lần rồi nhưng mỗi chuyến đi lên đây là một trải nghiệm mới, một cảm nhận mới. Đặc biệt nhất với mình chính là không gian chợ vùng cao nơi đây, tất cả mọi thứ từ hoa, quả cho đến các vị thuốc. Nông sản của bà con người Dao tất cả đều từ tự nhiên, từ rừng già, đó là một điều riêng biệt hiếm có và điều đó cho mình nhiều cảm xúc. Đặc biệt nữa là sự dân dã, tự nhiên của cảnh đẹp cũng như sự chất phác, hiếu khách của con người nơi đây.
Phiên  chợ vùng cao Mẫu Sơn những ngày lễ nhộn nhịp, đông vui nhưng không quá ồn ào. Nơi đây  không chỉ là nơi người dân du khách trao đổi hàng hóa, mà còn là nơi giao lưu, gặp gỡ, tìm hiểu những nét văn hóa đặc sắc mang đậm tình người, tình quê mộc mạc, ấm áp và chân tình.
Cùng DANVIET.VN và du khách "mãn nhãn" với la liệt những đặc sản, sản vật độc, lạ từ núi rừng của người Dao trên đỉnh Mẫu Sơn:
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 5
Một người Dao ở chợ phiên Mẫu Sơn cho biết: Đây là quả của cây rau ngót rừng. Quả này hiếm thấy vì đi rừng gặp nhiều cây rau ngót, tuy nhiên không phải cây nào cũng có quả. Quả rau ngót rừng có màu vàng tươi độc, lạ này được người dân giới thiệu là vị thuốc đặc biệt có thể chữa các bệnh đau đầu.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 6
Những cây nấm linh chi màu đen và đỏ cũng được người Dao nơi đây hái được từ rừng. Trung bình giá bán của những cây nấm đặc biệt này là khoảng 2 triệu đồng/kg.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 7
Những chú rùa đá được người dân bắt được từ rừng và đem nhốt trong những chiếc lồng tre đan trông rất sơ sài, đơn giản nhưng lạ và đẹp mắt. Giá của những chú rùa đá này là 200.000/con.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 8
Theo như các bài thuốc của người Dao thì rết rừng ngâm rượu cũng là một loại thuốc chữa các bệnh về xương khớp rất hiệu quả.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 9
Những khóm lan rừng bung nở hoa màu tím nhạt đẹp lung linh trong sương sớm vùng cao tại chợ phiên Mẫu Sơn. Nhiều người có đam mê về lan rừng coi đây như là điểm đến để đươc thỏa sức chiêm nhưỡng và lựa chọn những nhánh lan rừng mang về phố trưng và trồng.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 10
Những trái dưa chuột màu vàng được người Dao nơi đây trồng trên các vạt đồi nơi đỉnh mù sương này cũng được nhiều người lựa chọn vì độ đảm bảo sạch, giòn và ngọt. Những trái dưa chuột ở Mẫu Sơn có kích thước to khác thường so với các giống dưa chuột ở miền xuôi.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 11
Chanh rừng Mẫu Sơn nở múi căng mọng được đánh giá là vị thuốc trị ho rất tốt. Tùy từng thời điểm mà giá của loại chanh bé tin hin này có thể dao động từ 50.000-100.000/kg. Thậm chí có thời điểm hiếm giá chanh rừng này có thể lên đến 200.000/kg 
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 12
Những trái đào Mẫu Sơn vốn đã rất nổi tiếng thơm ngon, tuy nhiên nhiều năm trở lại cây vườn đào trên đỉnh Mẫu Sơn đang dần bị thoái hóa nên những trái đào không còn căng mọng như những mùa đào trước đây.
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 13
Vị chua chua ngọt ngọt của những trái quất hồng bì căng mọng khiến nhiều người không thể cưỡng lại. Loại trái này được người dân trồng ở các sườn núi đá, nơi ẩm ướt hoặc hái từ rừng già . 
Đặc sản xứ Lạng: Rùa đá nhốt rọ, quả lạ vàng rực, rết độc nhốt chai - 14
Đây không chỉ là dịp để du khách được hòa mình ngắm cảnh mây trời Mẫu Sơn, mà du khách còn có cơ hội thưởng thức và mua làm quà những thức đặc sản của người Dao chỉ có ở nơi đỉnh mây mù này.
Theo Tuấn Minh - Mộc Trà (Dân Việt)

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

Phở vịt quay, lạ mà ngon khó quên

Nếu Hà Nội có đặc sản phở bò danh bất hư truyền, đã đi vào thơ ca và trở thành thương hiệu quốc tế thì tại dải đất núi cao mây phủ phía Bắc Tổ quốc - Lạng Sơn, người dân vô cùng tự hào với món phở vịt quay ngon khó quên.
Trong tiết trời se lạnh, chiếc ôtô của chúng tôi dừng chân tại quán của chị Phượng ở số 56 Trần Đăng Ninh, TP Lạng Sơn.
Trời chưa sáng rõ, mây mù sương sớm vẫn vương trên mái nhà phố núi mà quán đã sáng đèn, thơm mùi khói bếp để đón người dân và khách thập phương tấp nập tới thưởng thức.
Tôi chọn cho mình một vị trí khá đẹp, vừa nhìn ngắm phố phường mà cũng quan sát được gia chủ chế biến món ăn. Khác với phở bò Hà Nội, vịt quay đóng vai trò chủ đạo trong món đặc sản này.
Ở chính giữa quán ăn là 2 lò quay vịt đang hoạt động hết công suất.
Từng miếng thịt vịt sau khi được quay vàng rộm, còn lách tách nóng hổi, được đưa lên giá cho nguội trước khi chặt thành từng miếng nhỏ để phục vụ thực khách.
Bát phở nóng hổi được bưng ra cho các thành viên trong đoàn. Ai nấy đều sôi bụng. Sau một đêm không được tẩm bổ, giờ ai cũng đói và thực sự bát phở vịt đầy đặn đủ dinh dưỡng này là một sự lựa chọn không thể tuyệt vời hơn.
Dùng đôi đũa đảo nhẹ, mùi thơm phảng phất hương quế hồi nhẹ khiến tâm hồn sảng khoái hơn bao giờ hết.
Bát phở cũng bao gồm đầy đủ bánh phở, hành, gia vị, hạt tiêu nhưng thay vì thịt bò, thịt gà là những miếng thịt vịt quay nóng hổi với lớp da đỏ bóng, mỡ màng. 
Thịt vịt mềm, đậm đà các gia vị đặc trưng tẩm ướp hòa quyện với sợi bánh phở mỏng cùng rau húng, hành lá xanh tạo nên sự đậm đà pha lẫn vị ngọt khá lạ miệng nhưng không hề khó ăn.
Chị Phượng giải thích rằng chọn vịt và làm thịt là công đoạn khó khăn nhất. Vịt phải chọn loại to, khỏe được làm lông sạch sẽ, sau đó tẩm các hương liệu như hành, hạt tiêu, quả móc mật… Phần bên ngoài da phết mật ong.
Khi đã tẩm ướp xong để chừng 10 phút, vịt được quay trên bếp than đỏ hồng. Khi quay vịt đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện để không cháy đen, bảo đảm độ nóng sao cho lớp da thấm màu nâu sẫm mật ong, có hương vị đậm đà của hương liệu.
Mỗi lần quán quay trung bình là 10 - 20 con. Phần nước mỡ khi quay vịt xong sẽ được sử dụng để chan phở vịt.
Phở vịt quay tuy là món ăn cả ngày nhưng thực khách được khuyên nên dùng buổi sáng vì nhiều năng lượng, giúp bổ sung dinh dưỡng và khơi thông khí huyết cho một ngày làm việc hiệu quả.
Khi ăn phở vịt quay nên dùng thêm chút măng chua hoặc rau húng, bạc hà để hương vị càng đưa đẩy. Vị chua chua của măng rừng, mùi thơm cay cay của lá húng cùng vị thanh đậm của thịt vịt chính là nét độc đáo vốn có, tạo nên sức hấp dẫn riêng biệt cho vùng đất Lạng Sơn.
Theo Huy Tùng/NLĐO

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

Kỳ công làm đặc sản “xanh lét”, tên nghe bí hiểm ngon không ngờ

Mộc Trà 

(Dân Việt) Cái tên “bánh ngải” gợi cho người nghe chút gì đó là lạ, kiểu bí hiểm khiến nhiều người nghĩ ngay tới dân tộc ở các tỉnh miền núi. Tuy nhiên bánh ngải ở đây là món bánh đặc sản thể hiện nét văn hóa của người dân Tày, Nùng nơi mảnh đất biên giới xứ Lạng.

Bánh ngải là đặc sản nổi tiếng của người dân tộc Tày, Nùng ở tỉnh Lạng Sơn. Trước đây khi đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn thì bánh Ngải thường chỉ được dùng trong các lễ hội mừng lúa mới, ngày lễ Tết hay những ngày lễ quan trọng của dân tộc Tày, Nùng. Ngày nay khi mà đời sống của các dân tộc ở các vùng núi được nâng cao hơn thì người dân tộc nơi đây lại dùng bánh ngải như một món bánh thực phẩm hàng ngày, vừa để làm thương phẩm lại vừa làm bánh ăn trong những ngày nông nhàn.
 ky cong lam dac san “xanh let”, ten nghe bi hiem ngon khong ngo hinh anh 1
Nhắc tới đặc sản với cái tên độc lạ phải nghĩ ngay tới món bánh ngải thơm ngon của người dân nơi đây
Để làm ra được những mẻ bánh ngải xanh rì, dẻo thơm thật sự rất kỳ công. Gạo làm bánh phải là gạo nếp nương (nếp mới) không được lẫn gạo tẻ, đường chấm bánh phải là đường phên, có màu vàng, ngọt, không có sạn và lá ngải phải là những lá ngải tươi, non, có màu xanh thẫm, được “tuyển chọn” kỹ càng.
 ky cong lam dac san “xanh let”, ten nghe bi hiem ngon khong ngo hinh anh 2
Những lá ngỏn non và xanh nhất được hái từ ngoài vườn hoặc trong tự nhiên, bờ ruộng, bờ vườn là những nơi hay mọc loại cây này. 
Nguyên liệu nghe nói thì có vẻ đơn giản nhưng để làm được một chiếc bánh ngải thơm ngon ngoài cần sức lực thì còn cần có sự khéo léo, tỉ mỉ và cả tình cảm của người làm bánh. Nghe có vẻ là khó tin, nhưng người dân tộc Tày Nùng nơi đây luôn đem hết tình cảm, những mong muốn của mình vào bánh ngải – món bánh được người Tày, Nùng dùng trong các ngày Tết và ngày lễ quan trọng như ngày Tết Thanh minh...
 ky cong lam dac san “xanh let”, ten nghe bi hiem ngon khong ngo hinh anh 3
Lá ngải được nấu nhừ sẽ được kẹp thật khô nước có màu xanh đẹp mắt.
Lá ngải sau khi được hái sẽ được rửa thật sạch, đem nấu trên bếp. Nhiều người làm bánh lúc nấu lá ngải còn bỏ thêm nước tro (đã chắt lọc) để lá nhanh nhừ. Sau đó lá sẽ được rửa sạch lại qua nhiều lần nước, nhặt bỏ thật sạch gân lá còn xót lại. Tiếp nữa lá ngải sẽ được kẹp thật chặt cho thật khô nước rồi xé nhỏ ra đợi gạo nếp hấp chín bỏ vào cối đá dùng chày gỗ nghiến giã thật mạnh cho nhuyển dẻo. Hiện nay nhiều nhà không có cối đá đã sáng tạo giã bánh bằng cách cho vào túi dựng hoặc bao thật dày rồi dùng chày giã đến khi nào gạo nếp với lá ngải hòa nhuyễn thành một hỗn hợp thật dẻo.
 ky cong lam dac san “xanh let”, ten nghe bi hiem ngon khong ngo hinh anh 4
Người dân dùng chày bằng gỗ nghiến giã bánh sao cho thật dẻo, công việc này khá mất sức và kỳ công.
Sau đó người thợ làm bánh sẽ nhấc hỗn hợp này ra và nặn thành chiếc bánh hình tròn sao cho đẹp mắt và vừa ăn. Bánh có 2 kiểu nặn, một là bánh không bỏ nhân khi ăn chấm kèm với vừng đen rang giã nhỏ cùng đường phên thơm ngọt; 2 là bỏ nhân vừng đen đường phên vào trong bánh.
 ky cong lam dac san “xanh let”, ten nghe bi hiem ngon khong ngo hinh anh 5
Hỗn hợp nhuyễn dẻo được những người phụ nữ khéo léo nặn thành những chiếc bánh nhỏ hình tròn. Trung bình 1kg gạo nếp tương ứng với 1 kg lá ngải, nếu bỏ nhiều lá ngải, bánh sẽ đắng và mất vị ngon.
Bánh ngải sau khi hoàn thành sẽ thơm thoảng mùi gạo nếp và mùi lá ngải, bánh rất dẻo, ăn vào có vị ngọt của đường, vị đắng nhẹ của lá ngải và cả mùi vị thơm lừng của vừng được rang vàng.
Sang xuân khi cay cối đâm chồi này lộc cũng là lúc lá ngải mọc xanh non mơn mởi. Lúc này người dân sẽ tranh thủ những ngày nông nhàn hay 1 dịp lễ đặc biệt nào đó cùng nhau làm món bánh ngải dẻo thơm để cả gia đình thưởng thức. Bánh cũng được nhiều người dân tranh thủ nông nhàn làm mang ra chợ bán. Ngay từ sáng sớm tinh mơ những chiếc bánh ngải thơm dẻo được bọc trong lớp lá chuối xanh rì đã được người làm chở ra chợ bán hoặc đi rong ruổi qua từng con ngõ nhỏ của thành phố. Trung bình người dân bán với giá 30-40 nghìn/10 cái bánh, giá cũng có thể lên xuống tùy vào từng thời điểm. Ai đến xứ Lạng thời điểm tháng 3, tháng 4 nếu chưa thưởng thức món bánh ngải thì đó là một sự thiếu xót lớn trong hành trình ngắm cảnh đẹp và thưởng thức những món đặc sản Lạng Sơn.
 ky cong lam dac san “xanh let”, ten nghe bi hiem ngon khong ngo hinh anh 6
Ở ngoài phố thì bánh được người dân làm mang ra chợ phố bán. Còn ở quê thì thông thường người dân chỉ làm vào các dịp lễ Tết như Tết Thanh minh... hoặc những lúc nông nhàn.
Bánh ngải là một loại bánh truyền thống của người dân tộc Tày, được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Chính vì lẽ đó mà nó trở thành một phần không thể thiếu trong các dịp lễ Tết của người Tày, Nùng xứ Lạng. Người con gái dân tộc không ai là không biết làm bánh ngải. Người xưa vẫn hay quan niệm rằng những người con gái không biết làm bánh ngải thì không được coi là con gái Tày, Nùng vì qua cách làm bánh người lớn có thể đánh giá được sự tỉ mỉ, khéo léo của các cô gái.
Ngải cứu còn được gọi là thuốc cứu, ngải diệp, là cây thân thảo, có thể sinh tồn trong nhiều năm, lá mọc so le nhau, giống hình lông chim, phiến lá men theo cuống đến tận gốc, đầu lá nhọn giống răng cưa, hai mặt lá có màu khác nhau, trên thì xanh thẫm, dưới thì màu hơi xanh trắng do có một lớp lông nhung bọc phía ngoài. Lá ngải cứu có tác dụng cầm máu, trị nhức đầu, đau bụng, nôn mửa, sát trùng, kháng khuẩn,...

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Độc lạ xôi "lên màu lung linh" nhờ các loại cây từ rừng

VHO- Cuối thu, đầu hạ tại những thửa ruộng của người Nùng ở Văn Quan (Lạng Sơn) đâu đâu cũng róc rách tiếng nước đổ và xa xa các bậc ruộng, nương ngô sáng bừng sắc xanh của chồi cây, của ngô non và mạ mới cấy. Con đường vào bản người Nùng uốn lượn quanh co nhưng dịu mùi nếp mới, thứ nếp ấy nấu xôi là tuyệt nhất. Theo phong tục ngày Tết Thanh minh(3.3 âm lịch) hàng năm người Nùng dùng loại gạo nếp mới đó để đồ xôi ngũ sắc cúng tổ tiên.
"Lên màu" cho xôi
Xôi ngũ sắc là lễ vật không thể thiếu để dâng cúng tổ tiên trong các dịp Tết của người Nùng nơi đây. Xôi được ngâm, đồ từ gạo nếp do chính tay người dân làm ra, hạt mẩy đều để xôi chín sẽ dẻo, thơm, hạt căng đều đẹp mắt.
Để tạo thành xôi ngũ sắc, đồng bào lấy những lá và thân cây mọc trong rừng hoặc vườn nhà để tạo màu cho xôi. Không chỉ đẹp mắt, xôi ngũ sắc còn là món ăn rất thơm ngon, bổ dưỡng và mang hương vị của núi rừng bởi nó được "nhuộm màu" từ các loại lá rừng.
doc la xoi "len mau lung linh" nho cac loai cay tu rung hinh anh 1
Người dân nơi đây vẫn gọi là xôi ngũ sắc ( 5 màu) nhưng thực tế người dân ở đây chủ yếu làm 3 màu đặc trưng là đỏ, vàng, đen.
Ngoài ra theo quan niệm của người Nùng, ăn xôi ngũ sắc trong các ngày lễ tết sẽ mang lại nhiều may mắn, tốt lành bởi xôi ngũ sắc tượng trưng cho ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ; con số 5 cũng là con số tương sinh, là biểu tượng cho hoà hợp âm dương, trời đất, con người. Đó là món ăn đạm bạc nhưng không thể thiếu dâng lên bàn thờ tổ tiên những ngày này. Sống gắn bó với rừng, nên người Nùng nơi đây đã tận dụng những sản vật từ rừng để phục vụ cuộc sống. Như món xôi ngũ sắc này, cũng chỉ từ những lá cây rừng mà làm nên thương hiệu.
doc la xoi "len mau lung linh" nho cac loai cay tu rung hinh anh 2
Cây này tiếng dân tộc gọi là cây sla mục thường mọc dại hoặc được người dân mang về trồng ở đồi, núi gần nhà.
doc la xoi "len mau lung linh" nho cac loai cay tu rung hinh anh 3
Thân cây sau khi được chẻ nhỏ ra sẽ được đun trên bếp nhiều giờ để có được nước màu đỏ dùng nhuộm xôi cho hương thơm đặc biệt.
Gọi là xôi ngũ sắc (5 màu) nhưng hầu như người dân nơi đây chỉ làm 3 màu đó là đỏ đen và vàng rồi trộn đều lại với nhau. Sau đó ai khéo tay thì nặn xôi vào bát sao cho bát xôi có đỉnhh tròn và cao như ngọn núi. Thường người dân nơi đây sẽ nhuộm xôi màu đen bằng lá sau sau, nhuộm mà đỏ bằng thân một loại cây tiếng dân tộc gọi là cô sla mục, còn màu vàng sẽ được nhuộm bằng 1 loại hoa hái từ rừng có tên tiếng dân tộc là cô Bjóoc phón. Loại cây này mọc tự nhiên trong rừng, hoa nở vào mùa xuân có hương thơm rất đặc trưng, đến mùa hoa nở người dân hái về phơi khô dùng quanh năm. Nếu không kiếm được loại hoa này nhiều người sẽ dùng củ nghệ để thay thế.
doc la xoi "len mau lung linh" nho cac loai cay tu rung hinh anh 4
Đây là lá cây sau sau có vị chát được người Nùng nơi đây dùng để nhuộm xôi màu đen. Thường những người có kinh nghiệm mới biết nhuộm các loại xôi được như màu ưng ý và đẹp mắt
Quá trình làm "chất tạo màu" cũng thật cầu kỳ. Lá cây rửa sạch đem vò thật nát hoặc bổ cối giã nát. Mỗi một loại lá đem vò ở một chậu khác nhau. Riêng hoa Bjóoc phóng nhuộm vàng và cây sla mục nhuộm màu đỏ thì đun nhỏ lửa trên bếp để ra màu. Sau đó, nước đun sôi được đổ vào từng chậu. Khoắng đều hỗn hợp nước - lá, sau đó đem hỗn hợp nước này lọc qua tấm vải sạch. Nước màu giữ lại, xác lá đổ đi, người ta mới chogạo nếp mới vô sạch để ráo vào nhuộm màu.
Đồ xôi cũng lắm công phu
Các loại cây phẩm màu tự nhiên được rửa sạch, giã nát và nấu kỹ sẽ cho ra các màu sắc đặc trưng. Gạo nếp vo, đãi sạch, ngâm vào những chậu nước màu từ 10 - 12 giờ. Trước khi đồ xôi, vớt gạo lên để ráo nước rồi cho vào chõ đồ khoảng 30 - 40 phút cho đến khi xôi chín; quá trình đồ xôi lửa phải đều, không bị khói. Gạo nếp ( khẩu nu) đồ xôi thơm, dẻo, dù nóng hay nguội khi nắm chặt tay xôi sẽ không bị dính. Xôi chín được người thợ đồ xôi sẽ trộn đều 3 màu lại với nhau.
doc la xoi "len mau lung linh" nho cac loai cay tu rung hinh anh 5
Hoa Bjóoc phón được người dân hái từ rừng về được dùng để nhuộm xôi màu vàng
Theo quan niệm của người Nùng đây mỗi màu đều có ý nghĩa khác nhau, mâm xôi ngũ sắc tượng trưng cho âm dương, ngũ hành, biểu tượng của nhân sinh quan cao đẹp, hội tụ đầy đủ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại. Thông qua món xôi đặc biệt này, người Nùng thể hiện sự tôn kính đối với trời, đất, nước, thần linh, tổ tiên, cha mẹ và mong muốn vươn tới sự trọn vẹn, no đủ, hạnh phúc. Mặt khác, xôi ngũ sắc còn thể hiện sự đảm đang, khéo tay của người phụ nữ áo chàm xứ Lạng.
doc la xoi "len mau lung linh" nho cac loai cay tu rung hinh anh 6
Xôi nhuộm bằng loại hoa từ rừng nàu có màu vàng đẹp mắt và hương thơm hấp dẫn.
Ở thành phố, nhiều nhà đã chuyển sang thổi xôi bằng nồi cơm điện, bằng bếp gas. Nhưng ở bản người Nùng này họ vẫn đồ xôi bằng củi, bằng chõ men. Kể cả khi cuộc sống hiện đại đã len lỏi trong mỗi nếp nhà nơi đây, người Nùng nơi đây vẫn không bỏ nếp cũ.
Chiếc chõ là một khối men hình trụ, dài khoảng 3 gang tay người lớn, đường kính 30 - 40 phân. Người làm đã nhào nặn và nung rất lâu mà thành, phần đáy có nhiều lỗ. Khi bổ gạo vào người làm thường lót 1 miếng xơ mướt mới lên rồi mới đổ gạo vào. Gạo sau khi đã ăn màu, ráo nước, người ta cho vào chõ. Mỗi màu một tầng riêng. Sau đó, chất củi bắc nồi nước. Nước sôi, người ta đặt chõ trong nồi, đậy vung lại. Hơi thốc qua lớp xơ mướp làm chín gạo. Đun khoảng 1 tiếng là có mẻ xôi ngon. Sống ở vùng đồi núi chủ yếu làm lúa nước và làm nông nghiệp điều đó đã hình thành nên văn hóa ăn cơm nếp đặc trưng của đồng bào Nùng.
doc la xoi "len mau lung linh" nho cac loai cay tu rung hinh anh 7
Xôi ngũ sắc là món không thể thiếu trên bàn cúng tổ tiên ngày Tết Thanh minh của người Nùng xứ Lạng
Bằng sự sáng tạo của mình, họ đã có nhiều cách thức để chế biến chúng thành món ăn truyền thống thơm ngon. Nếu đến thăm người Nùng Văn Quan vào dịp Tết Thanh minh chắc chắn bạn sẽ được thết đãi bằng món xôi ngũ sắc lên màu chuẩn tự nhiên có một không hai mang hương vị đặc trưng núi rừng của những con người mến khách nơi đây.
Xôi ngũ sắc có mùi thơm khác biệt bởi hương nếp mới hòa trộn với mùi thơm của hoa “Bjoóc phón”, mùi hăng hăng của lá cây sau sau, mùi ngai ngái của cây sla mục..., tất cả tạo nên một món xôi vừa đẹp mắt vừa có mùi vị đặc trưng riêng của núi rừng xứ Lạng mà ai dù chỉ thử qua 1 lần cũng phải bồi hồi mỗi khi nhắc tới. 
Dân Việt

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2019

"Ếch đại gia": Đặc sản "thần dược" đồn đoán tốt hơn cả viagra


Thánh địa Mẫu Sơn có một loài ếch được mệnh danh là “ếch đại gia”. Thịt loài ếch này được coi là “thần dược” trong chốn phòng the.


Người dân tộc Dao đỏ Khuổng Tẳng (xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn) sống ở thẳm sâu nơi đại ngàn thâm u vẫn luôn tự hào về một loài vật tồn tại ở đây từ hàng ngàn năm. Chúng “thống trị” bằng sức mạnh của âm thanh và mùi hương quyến rũ. Đó là loài ếch hương Mẫu Sơn hay còn gọi bằng tên gọi khác là ếch đại gia, ếch vương, ếch công nương…
Mùa sinh sản của ếch hương vào khoảng tháng 5, tháng 6. Tới khoảng tháng 10, tháng 11 là thời điểm ếch đạt trọng lượng và chất lượng cao nhất. Tại các tỉnh miền Bắc, chỉ duy nhất tại Lạng Sơn người ta mới tìm thấy giống ếch này.
"Ếch đại gia": Đặc sản "thần dược" đồn đoán tốt hơn cả viagra - 1
Ếch "đại gia" có dáng vẻ bệ vệ oai phong, to con, dáng đậm hơn và rắn chắc gấp bội ếch thường
Cơ thể loài ếch hương tỏa ra một mùi hương đặc trưng và rất lạ. Nguời dân tộc Dao đỏ thường tự hào mà nói rằng thực khách khi ăn một miếng thịt ếch này sẽ có cảm giác giống như da thịt của một công nương cổ xưa, nồng nàn và dịu, hương vị ngây ngất, rất dễ khiến con người ta say đắm.
Ếch đại gia mang màu da đậm nâu của đá pha lẫn với màu cánh gián. Con đực có gai ở cổ dưới. Nhiều người cho rằng, đấy là vương miện bị đeo lệch từ trên đầu xuống dưới của loài ếch này. Đặc biệt, chỉ cần chạm nhẹ vào lớp gai, ếch sẽ tự khoanh tay lại. Cặp đùi của ếch hương lớn hơn hẳn ếch đồng và to như đùi gà ri.
Xưa, ếch hương là đặc sản dùng cống nạp lên vua chúa, chỉ những phần thừa sau đợt cống nạp người dân mới được phép ăn nên người ta còn gọi là ếch tiến vua. Ngày nay, ếch hương vẫn là món ăn quý hiếm nên người địa phương thường chỉ sử dụng trong những dịp lễ lạt trọng đại hoặc dành đãi khách quý.
"Ếch đại gia": Đặc sản "thần dược" đồn đoán tốt hơn cả viagra - 2
Ếch hương xưa kia là món ăn để dâng lên vua chúa
Ếch đại gia Mẫu Sơn được người dân tộc Dao đỏ đặt tên là Tồng Keng (theo tiếng người Dao đỏ tức là ếch lớn). Chúng thường sinh sống trong các hang đá ở cao nguyên núi cao, nơi có nhiệt độ thấp, thức ăn thường là cào cào, châu chấu, sâu bọ và thậm chí cả rắn và loài rết chúa- loại rết to bằng ngón tay cái hoặc ngón chân cái, có chiều dài từ khoảng 20 đến gần 30cm…
Dụng cụ bắt ếch của người dân tộc Dao đỏ chỉ cần duy nhất một chiếc thuổng nhỏ. Theo kinh nghiệm của người dân, săn ếch ban ngày thì tìm trong mấy khe đá hoặc mấy hốc đất, hễ chỗ nào nghi có ếch thì đào. Còn nếu săn ếch vào ban đêm thì cần trang bị thêm một cái đèn pin hoặc bó đuốc để soi. Tuy nhiên, hiệu quả nhất vẫn là săn ếch về đêm. Lúc đó, ếch ra khỏi hang đá đi kiếm ăn, chúng ngồi trên những mỏm đá, mô đất bằng phẳng kêu ộp oạp, khi soi đèn thì thấy mắt ếch đỏ au giống như mắt mèo, mắt trâu. Ếch hương rất hiền, chúng thấy người không chạy nên chỉ cần túm lấy con ếch bỏ bao tải là xong.
 Ếch đại gia còn được biết đến như “con mắt thần”, giúp dự báo thời tiết cho người bản địa, thể hiện màu sắc trên cơ thể của chúng. Hôm nào trời nắng ráo, đùi của chúng chuyển nhanh thành màu đỏ. Ngược lại, hôm nào đùi ếch chuyển sang màu đen là bầu trời xám xịt, mưa giông kéo về.
Thịt ếch hương cũng giống như tên gọi, đặc biệt thơm, không hề tanh như ếch đồng. Người Dao vùng Mẫu Sơn thường kết hợp nhiều gia vị để chế biến ếch hương thành đủ món hấp dẫn như ếch chiên giòn, ếch nấu măng chua, lẩu ếch, ếch xào sả ớt, hầm thuốc bắc...nhưng trong tất thảy, món ếch hương nấu măng chua vẫn là món ăn độc đáo, đặc sắc hơn cả.
Măng nấu ếch là loại măng tre mọc ngay tại Mẫu Sơn, rất tươi và giòn. Chỉ cần 2-3 con ếch hương bắt được tại khe suối, rửa sạch, bỏ ruột cho vào chảo đảo vàng rồi dùng măng chua ủ vài ba tháng cho vào xào cùng thịt ếch, thêm gia vị đảo tới khi thịt ếch mềm, cho thêm bát nước là đã có món ếch nấu măng chua thơm ngon, bổ dưỡng.
"Ếch đại gia": Đặc sản "thần dược" đồn đoán tốt hơn cả viagra - 3
Không chỉ độc đáo về hương vị, các món ăn từ ếch hư ơng có thể chữa bệnh và mang ý nghĩa về văn hóa
Thịt ếch kết hợp măng chua hợp vị vô cùng, dân dã mà hấp dẫn khó cưỡng. Đây cũng là một cách giao hòa âm dương hài hòa trong quy tắc ẩm thực của đồng bào dân tộc Dao nói riêng và người Việt nói chung.
Là loại ếch có nhiều dưỡng chất đặc biệt, ếch hương được sử dụng kết hợp với món thảo dược được tìm kiếm từ nhiều loại cây rừng trong núi sâu, tạo nên bài thuốc đặc trị kích thích hoóc môn và tăng cường năng lượng, tăng sức dẻo dai cho phái mạnh.

Món ăn từ “ếch đại gia” được xem là thần dược phòng the


Thánh địa Mẫu Sơn (Lạng Sơn) có một loài ếch hương được mệnh danh là “ếch đại gia”. Món ăn từ loài ếch này không những ngon, có mùi thơm đặc biệt mà còn được coi là “thần dược” trong chốn phòng the.

Mấy năm nay, nhiều người dân sống trên đỉnh núi Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đua nhau săn ếch đại gia để bán với giá cao. Thời xưa, ếch hương là đặc sản dùng cống nạp lên vua chúa, chỉ những phần thừa sau đợt cống nạp người dân mới được phép ăn nên người ta còn gọi là ếch tiến vua. Ngày nay, ếch hương vẫn là món ăn quý hiếm nên người địa phương thường chỉ sử dụng trong những dịp lễ lạt trọng đại hoặc dành đãi khách quý.
Món ăn từ “ếch đại gia” được xem là thần dược phòng the - Ảnh 1.
Sở dĩ loài ếch đặc biệt trên núi Mẫu Sơn có tên gọi là ếch hương bởi lẽ thịt của loài ếch này rất thơm, không tanh như ếch đồng dưới chân núi, ếch có màu nâu đen, trọng lượng chỉ 2 - 3 lạng/con ếch trưởng thành. Ếch hương còn có tên gọi nữa là ếch thương vì dưới ngực của ếch có một lớp gai mầu tím, khi người đụng tay vào ngực ếch sẽ ôm chặt lấy tay...
Mùa sinh sản của ếch hương vào khoảng tháng 5, tháng 6. Tới khoảng tháng 10, tháng 11 là thời điểm ếch đạt trọng lượng và chất lượng cao nhất. Tại các tỉnh miền Bắc, chỉ duy nhất tại Lạng Sơn người ta mới tìm thấy giống ếch này.
Ếch hương được đánh giá là có nhiều dưỡng chất đặc biệt, được sử dụng kết hợp với món thảo dược được tìm kiếm từ nhiều loại cây rừng trong núi sâu, tạo nên bài thuốc đặc trị chứng yếu sinh lý của đàn ông, kích thích hormone sinh dục và tăng cường năng lượng, tăng sức dẻo dai của nam giới trong "chuyện ấy".
Bốn món ăn từ ếch đại gia phổ biến nhất là: món chiên- chiên toàn bộ; ếch tần- lọc bỏ những phần xương cứng bỏ, còn phần xương mềm hơn sẽ được dần cho mềm và cho vào tần dừ cả xương cả thịt, sau đó cho canh chua, lá cây vào nồi giữ cho đều lửa, kho cho đến khi khô nước; nấu cháo ếch; chả lá lốt- băm nhỏ phần đầu và phần xương chi trước, chi sau của ếch sau đó trộn lẫn với gia vị và dùng lá lốt cuốn chả rồi cho vào rán…
Món ăn từ “ếch đại gia” được xem là thần dược phòng the - Ảnh 2.

Đặc biệt hơn cả là món ếch hương nấu măng chua vô cùng độc đáo. Măng nấu ếch là loại măng tre mọc ngay tại Mẫu Sơn, rất tươi và giòn. Chỉ cần 2-3 con ếch hương bắt được tại khe suối, rửa sạch, bỏ ruột cho vào chảo đảo vàng rồi dùng măng chua ủ vài ba tháng cho vào xào cùng thịt ếch, thêm gia vị đảo tới khi thịt ếch mềm, cho thêm bát nước là đã có món ếch nấu măng chua thơm ngon, bổ dưỡng.
Thịt ếch kết hợp măng chua hợp vị vô cùng, dân dã mà hấp dẫn khó cưỡng. Đây cũng là một cách giao hòa âm dương hài hòa trong quy tắc ẩm thực của đồng bào dân tộc Dao nói riêng và người Việt nói chung.
Thịt ếch có màu trắng thơm, bùi, thịt có vị ngọt nhẹ và mùi thơm hơn thịt gà, da ếch giòn, thịt dai… đập dập xương sống, lưng, để lại phần "tù và" (đó là phần cái dạ dày của con ếch- Theo nghĩa của người Dân tộc Dao đỏ ở đây- PV), thường thì đó là những cái dạ dày to bằng ngón tay cái hoặc ngón chân cái, tùy theo kích cỡ của từng con ếch.
Theo Thảo Nguyên (vietnamdaily.net.vn)

Ếch "đại gia", đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam


Loài ếch hương là loài ếch đặc biệt trên núi Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn), vốn là loại đặc sản, là ếch "đại gia", xưa kia chỉ dùng để tiến vua ở nước ta và chỉ sống được ở những nơi có địa hình cao.

Ếch đại gia, đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam - Ảnh 1.
Loài ếch hương có thân hình màu nâu đen, kích thước nhỏ, chỉ nặng trung bình khoảng 200g - 300g/con. Loài ếch này sống nhiều ở những con suối nhỏ có nhiều hang đá. Ảnh chiecthiavang.
Ếch đại gia, đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam - Ảnh 2.
Tại miền Bắc, Lạng Sơn là tỉnh duy nhất tìm thấy ếch hương. Ảnh blogspot.
Ếch đại gia, đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam - Ảnh 3.
Dưới ngực ếch hương có một lớp gai mầu tím. Ếch hương sẽ khoanh tay lại khi ta đụng tay vào vị trí này của chúng. Ảnh blogspot.
Ếch đại gia, đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam - Ảnh 4.
Đặc biệt, ếch hương chỉ sống được ở những nơi có địa hình cao, khí hậu lạnh. Nếu đưa ếch hương ra ngoài môi trường có nhiệt độ 30 độ C là ếch sẽ chết. Ảnh cungphuot.
Ếch đại gia, đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam - Ảnh 5.
Ếch hương rất hiền. Chúng thường ra ngoài săn mồi vào ban đêm. Chúng có thể thay đổi màu sắc tùy môi trường sống. Ảnh youtube.
Ếch đại gia, đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam - Ảnh 6.
Ếch hương còn được gọi là ếch "đại gia", ếch vương, ếch công nương và người Dao địa phương vẫn thường gọi là "Tồng Keng" - theo tiếng dân tộc có nghĩa là ếch lớn. Ảnh blogspot.
Ếch đại gia, đặc sản tiến vua xưa ở Việt Nam - Ảnh 7.
Điểm thu hút độc đáo của ếch vương đó chính là tiếng kêu vang dội và mùi hương "quyến rũ". Nguời dân tộc Dao đỏ thường tự hào mà nói rằng, thực khách khi ăn một miếng thịt ếch này sẽ có cảm giác giống như da thịt của một công nương cổ xưa, nồng nàn và dịu, hương vị ngây ngất, rất dễ khiến con người ta say đắm. Xưa, ếch hương là đặc sản dùng cống nạp lên vua chúa, chỉ những phần thừa sau đợt cống nạp người dân mới được phép ăn nên người ta còn gọi là ếch tiến vua.
Theo Hà Nguyễn (kienthuc.net.vn)