Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Raglai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Raglai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2019

Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận

Dịp mùa xuân, người Raglai tiến hành nghi lễ quan trọng thể hiện tình cảm, trách nhiệm đối với người đã mất.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Lễ bỏ mả có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của tộc người Raglai ở Ninh Thuận, thường được tổ chức vào tháng 3, tháng 4. Họ quan niệm, có hai thế giới song song tồn tại, của người sống và những người đã khuất. Sau khi chôn cất, người chết vẫn còn mối quan hệ với người đang sống, bởi linh hồn còn trong cõi nhân gian, nên phải làm lễ bỏ mả để chấm dứt sự liên kết này. Trước đó, toàn bộ thành viên trong gia đình tham gia chuẩn bị cho nghi lễ chính.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Lễ vật gồm có 3 mâm cỗ cúng với heo, gà, cơm, rượu, thịt, chuối, thuyền Kagor… Lễ được thực hiện từ năm thứ ba đến năm thứ năm, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh gia đình có thể làm sớm hơn. Thời gian tổ chức 3-5 ngày, quy mô lớn, thu hút dân trong làng và nhiều vùng khác đến tham gia.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Kagor (chiếc thuyền được làm từ cây gỗ nguyên khối) được chạm khắc, trang trí đẹp, là quà tặng của người sống đối với người đã khuất, biểu tượng cho nơi trú ngụ của ông bà tổ tiên ở thế giới bên kia.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Thầy cúng trong lễ bỏ mả phải có 3 người biểu thị cho ba phần của cơ thể: đầu, mình, chân.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Thầy cúng chính đứng ở giữa gọi là vị Yanuh jalat (người chỉ đường, chỉ thức ăn, đồ uống… cho vong linh) bằng cây “gậy thần”.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Thầy cúng làm lễ mời hồn về nhận lễ vật. Họ chia của cải, thức ăn cho người chết.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Những người đàn ông liên tục đánh Mã la (chiêng đồng) trong suốt buổi lễ như sự dẫn đường cho linh hồn người mất.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Kagor được người thân rước, theo sau là những lễ vật để tiến về khu nhà mồ. 
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Lễ bỏ mả hội tụ nhiều loại hình nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc, múa, trình diễn... với mục đích tiễn đưa người chết về “thế giới bên kia”.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Nhà mồ được dựng trên vùng đồi quang đãng theo hướng Đông - Tây. Mái được lợp bằng tranh tạo dáng thành hình chiếc thuyền đang lật úp, ở giữa có một cây trụ vuông để gắn Kagor.
Nghi lễ chia tay người đã khuất ở Ninh Thuận
Lễ bỏ mả của người Raglai thể hiện tình cảm, trách nhiệm của người sống đối với người chết. Đây còn là dịp thể hiện sự đền ơn đáp nghĩa công lao ông bà, báo hiếu cha mẹ, biểu hiện tình làng nghĩa xóm gắn kết bền chặt.
Năm 2018, lễ bỏ mả của người Raglai (xã Phước Chiến, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận) được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Ngọc Thành

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Lễ bỏ mả của đồng bào Raglai

Đồng bào dân tộc Raglai quan niệm, có hai thế giới song song tồn tại là thế giới của người sống và thế giới của những người đã khuất. Khi người chết đã được chôn cất vẫn còn mối quan hệ với người đang sống, bởi linh hồn còn luẩn quẩn trong cõi nhân gian, nên phải làm lễ Bỏ mả để chấm dứt mối quan hệ này. Lễ Bỏ mả đã được tái hiện lại chân thực tại không gian Làng Văn hóa Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) với sự tham gia của đồng bào dân tộc Raglai đến từ xã Phước Chiến, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
Lễ Bỏ mả của đồng bào Raglai thường diễn ra vào khoảng tháng 4 dương lịch, khi thời tiết khô ráo, thuận lợi. Đây là nghi lễ quan trọng nhất trong các nghi lễ vòng đời của người Raglai, là lễ chia tay giữa người sống và người chết để người chết được trở về thế giới vĩnh hằng, với ông bà tổ tiên, không còn lưu luyến cõi dương gian.

Lễ vật cúng trong lễ Bỏ mả của đồng bào Raglai
Kagor (thuyền được đẽo từ thân gỗ nguyên khối) –  được chạm khắc cầu kỳ, lễ vật quan trọng thể hiện sự giàu đầy đủ mà người sống làm để tặng cho người chết
Cây “gậy thần” (gai toah) được làm từ ngày có người chết

Công việc của lễ Bỏ mả phải được gia đình chuẩn bị trước hàng tháng như ủ rượu, làm nhà mồ mới, dựng rạp mả và đặc biệt là chuẩn bị Kagor (chiếc thuyền được làm từ cây gỗ nguyên khối) được chạm khắc, trang trí đẹp, là quà tặng của người sống đối với người đã khuất, là biểu tượng cho nơi trú ngụ của ông bà tổ tiên ở thế giới bên kia. 

Thầy cúng chính luôn ở chính giữa gọi là vị Yanuh jalat (người chỉ đường, chỉ thức ăn, đồ uống… cho vong linh) bằng cây “gậy thần”
Thầy cúng làm lễ cúng mời hồn về nhận lễ vật
Con cháu khóc thương vong linh người đã khuất
Mang lễ vật ra mả để cúng vong linh 

Theo luật tục, thầy cúng trong lễ Bỏ mả phải có 3 người biểu thị cho ba phần của cơ thể: đầu, mình, chân. Lễ vật gồm có 3 mâm cỗ cúng với heo, gà, cơm, rượu, thịt, chuối, Kagor…. Lễ Bỏ mả thường diễn ra trong 3 ngày với những nghi thức khác nhau,  gia đình thân chủ thường  phải mời đủ những người tham dự lễ tang để họ chia tay lần cuối với người đã mất.

Kagor được rước ra ngoài mả và cột chắc chắn trên nóc nhà mồ
Mọi người cùng làm lễ khấn vái chia tay linh hồn người chết 
Thầy cúng làm lễ chia tay linh hồn người chết 

Ngày thứ nhất, thầy cúng thực hiện nghi lễ cúng hồn, mời vong linh về đón nhận lễ vật và cầu xin ông bà tổ tiên cho linh hồn người chết về với tổ tiên ở thế giới bên kia và khiêng Kagor đặt lên nóc nhà mồ. Ngày thứ hai là ngày lễ quan trọng, trong ngày này bà con hàng xóm láng giềng cùng đến ăn bữa cơm để chia tay người chết. Ngày thứ ba được xem là ngày chia tay vĩnh viễn người chết. Lễ vật và của cải tượng trưng được mang ra nhà mồ để chia tay linh hồn người người đã khuất.

Thầy cúng làm lễ chia của cải tượng trưng cho người chết
Tiếng Mã la được đánh liên tục không dừng trong suốt buổi lễ như sự dẫn đường cho linh hồn người mất
Của cải tượng trưng được bỏ vào giỏ mây đem chia cho vong linh
Sau buổi lễ, mọi người biểu diễn văn nghệ truyền thống
Nhịp chày, tiếng chiêng hòa vang sau buổi lễ
Lễ bỏ mả của người Raglai thể hiện tình cảm, trách nhiệm của người sống với người đã khất. Đồng thời là dịp thể hiện sự đền đáp công lao tổ tiên, ông bà, cha mẹ, và còn là biểu hiện của tình cảm làng xóm gắn kết bền chặt, thể hiện văn hóa ứng xử tốt đẹp giữa con người với con người. 
Hoàng Tâm - Nam Sương

Rộn ràng lễ hội ăn đầu lúa mới của dân tộc Raglai

Khác với các dân tộc khác, lễ hội ăn đầu lúa mới của người Raglai bắt buộc phải có con gà, gạo, thóc, ngô, trầu cau và rượu cần. Đây là những lễ vật, con cháu Raglai dâng lên báo với tổ tiên thành quả một năm lao động vất vả và cầu xin tổ tiên phù hộ cho mùa màng năm mới làm ăn khấm khá hơn, gia đình mạnh khỏe.


Gạo, thóc, ngô, trầu cau... là những thứ không thể thiếu trong lễ cúng. Ảnh: Hà Tuấn
Một điểm rất đặc biệt không thể không nhắc đến trong lễ hội ăn đầu lúa mới của người Raglai, đó là lửa. Ngoài các lễ vật, trên mâm lễ cúng phải có lửa. Nếu tiếng khèn bầu, mả la (diều) được xem như lời mời bà con dân bản đến chung vui cùng gia đình thì lửa được xem là “vật thiêng” mời ông bà, tổ tiên về ăn mừng lúa mới.

Thầy cúng (quấn khăn trắng) thực hiện nghi thức cúng mừng lúa mới. Ảnh: Hà Tuấn

Sau khi thầy cúng đã dâng lời cầu khấn sức khoẻ, bình an, mùa màng bội thu, những bát rượu được người Raglai chuyền tay nhau uống cạn. Rượu phải cạn thì người trong gia đình mới khỏe mạnh, cuộc sống mới hạnh phúc.
Những bát rượu được chuyền tay nhau uống cạn. Ảnh: Hà Tuấn
Sau khi thực hiện nghi thức cúng mừng lúa mới, người Raglai bắt đầu hát múa, đánh chapi, khèn bầu... Ảnh: Hà Tuấn

... và cùng nhau nhảy múa. Ảnh: Hà Tuấn

Những cô gái Raglai sặc sỡ trong trang phục truyền thống của dân tộc mình. Ảnh: Hà Tuấn

Theo Langvietonline.vn

Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017

Lễ bỏ mả độc đáo của người Raglai

Lễ bỏ mả là nghi thức quan trọng nhất trong các nghi lễ vòng đời của người Raglai - lễ chia tay vĩnh viễn giữa người sống và người chết để người chết trở về với thế giới vĩnh hằng.

Lễ bỏ mả độc đáo của tộc người Raglai đã được tái hiện tại tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội).

Người Raglai quan niệm rằng: Có hai thế giới song song tồn tại là thế giới của người sống và thế giới của người đã khuất,, trong suốt thời gian này, người nhà phải qua lại thăm viếng, tiếp tế thức ăn, vật dụng cho người chết. Vì thế phải làm lễ bỏ mả để chấm dứt mối quan hệ này.

Lễ bỏ mả của người Raglai thường tổ chức vào khoảng tháng 4 dương lịch, khi thời tiết vẫn còn tạnh ráo, có thể lên rừng, ra nhà mồ làm lễ cúng và di chuyển ngoài trời thuận tiện.
Theo luật tục, trong lễ Bỏ mả phải có 3 thày cúng, biểu thị cho ba phần của cơ thể: đầu, mình, chân. Thầy cúng chính luôn đứng ở chính giữa hai người khác gọi là vị Yanuh jalat (người chỉ đường, chỉ thức ăn, đồ uống… cho ma).
Cây “gậy thần” (gai toah ) được làm từ ngày có người chết, lại đem ra sử dụng.
Để chuẩn bị tổ chức lễ việc dựng mới nhà mồ có ka-go, gia chủ phải chuẩn bị lễ vật là 3 ché rượu cần, heo, một con bò hoặc con trâu, gà, vịt và những sản vật của địa phương để cúng trong 3 ngày.
Ka-go đặt trên sạp để cúng với những lễ vật trong ngày đầu : cơm, hạt nổ, bánh trái, gà, trầu cau, rượu…
Ngày thứ hai được xem là ngày lễ quan trọng, trong ngày này bà con hàng xóm láng giềng cùng đến ăn bữa cơm để chia tay người chết.
Thầy cúng cùng đoàn người thân trong gia đình đến nhà mồ khóc tế, múa Mã la (cồng chiêng) để rước hồn người chết về nhà ăn cơm. Lễ này được xem là quan trọng nhất, tất cả mọi người phải tham gia đông đủ để gặp gỡ và chia tay người chết lần cuối cùng. Mọi người cùng ăn uống, nhảy múa, ca hát bên đống lửa và ché rượu cần cho đến sáng hôm sau.
Ngày thứ ba được xem là ngày chia tay vĩnh viễn người chết. Mọi người khiêng lễ vật ra nhà mồ, bày lễ vật ra xung quanh.
Mọi người đứng xung quanh nhà mồ khấn vái để chia tay linh hồn người chết.
Trong ngày này bao giờ cũng diễn ra tập tục của người Raglai, đó là nghi lễ tiễn Ka-go, chia của cải cho người chết.
Lễ bỏ mả có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của tộc người Raglai.
Lê Phú/Báo Tin Tức

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

Tục lệ "lừa ma" bí hiểm ở Ma Nới

Theo Báo ANTG 

(Dân Việt) Người Raglai ở tỉnh Ninh Thuận đến nay vẫn là chủ nhân của những tập tục kỳ lạ, huyền bí. Nổi bật là tục lệ giải phóng người chết với điểm nhấn của lễ là giả chó chạy nhảy để đánh lừa hồn ma.

Tục lệ lạ kỳ này gắn liền với những bài khấn huyền bí, bữa ăn cộng cảm có một không hai ngay tại nhà mồ và nhiều nghi thức, quan niệm về thế giới ma… lạ lẫm, dị biệt!
Đâu là cội nguồn của tục lệ giả chó để đánh lừa quỷ ma kỳ lạ kia? Vì sao người sống phải đóng màn kịch oái oăm ấy? Đó là phong tục hay hủ tục của tộc người nơi núi cao rừng thẳm? Đem thắc mắc ấy, chúng tôi tìm đến xã vùng cao Ma Nới, gặp các già làng, nghệ nhân - những người vốn rành rẽ chuyện luật tục của buôn làng nhờ... giải mã.
 tuc le "lua ma" bi hiem o ma noi hinh anh 1
Đường vào Ma Nới.
Lạ kỳ "thế giới ngược"
Cách thành phố Phan Rang-Tháp Chàm hơn 40km, là một trong những xã xa xôi cách trở nhất huyện Ninh Sơn nói riêng, tỉnh Ninh Thuận nói chung, Ma Nới có 6 thôn với hơn 3.600 khẩu, trên 95% dân số ở xã là đồng bào tại chỗ Raglai. Có lẽ nhờ ở nơi xa xôi cách biệt nên Ma Nới đến nay vẫn giữ nguyên bản sắc hoang sơ đậm chất núi rừng.
Lúc gặp nhau tại bìa rừng, trước thăm hỏi của khách lạ về những nghi thức an táng người chết ở buôn làng mình, nghệ nhân và là già làng Chamalé Âu - người tinh thông nhiều nhạc cụ cổ truyền và được cộng đồng xem như từ điển sống về văn hóa, luật tục Raglai - say sưa trò chuyện. Những điều ông nói, ông kể đều lạ lẫm, nhuốm màu mê hoặc.
Chamalé Âu nói rằng trước khi đào huyệt, bao giờ thầy cúng cũng rót rượu tắm đất và cầu xin thần đất đai cho việc đào huyệt không đụng phải đá bởi đá là vật cản, khiến hành trình về với thế giới ma của người chết, lẫn cuộc sống sau này của người còn sống sẽ nhiều trúc trắc, trở ngại.
Ngỡ ngàng khi được già làng bật mí theo quan niệm ngàn đời của người Raglai, thế giới ma hoàn toàn trái ngược với thế giới người sống. Ở cõi ma người ta đi thụt lùi, thác nước đổ ngược lên trời, đọt cây cắm xuống đất và thân rễ chĩa ngược lên trên… Già Chamalé Âu cho biết khi tiễn một người chết về với đất, gia đình sẽ tiến hành lễ nuôi ma trong vòng một tháng, “cho mả ăn” tại nhà. Mỗi bữa ăn họ bới cơm, gắp thức ăn bỏ vào chén bát rồi đọc câu “wah atâu” (ăn cơm hỡi mả) và tiến hành việc ăn uống!
Quanh chuyện “nuôi mả” (nuôi ma) của người Raglai, có 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất được tiến hành liên tục trong vòng 1 tháng kể từ khi người chết được hạ huyệt xuống lòng đất. Lần nuôi ma thứ 2 được tiến hành vào thời điểm gia đình, thân nhân người chết làm lễ bỏ mả.
Ông Đá Mài Phân, nguyên Bí thư Đảng uỷ xã Ma Nới cho chúng tôi biết, thường thì lễ bỏ mả được tiến hành sau một đến vài ba năm kể từ khi người chết trút hơi thở cuối cùng. Việc nhanh hay lâu, lễ nhỏ hay lớn tuỳ thuộc vào điều kiện của gia chủ. Nhưng về cơ bản, lễ bỏ mả của người Raglai nhanh hơn người Jrai ở tỉnh Gia Lai vì người Raglai không có tục chôn chung nhiều người trong cùng huyệt mộ, nên lễ bỏ mả không tuỳ thuộc vào nhiều gia đình, chờ để khi dư dả, đủ đầy mới cùng nhau bỏ mả như người Jrai!
 tuc le "lua ma" bi hiem o ma noi hinh anh 2
 tuc le "lua ma" bi hiem o ma noi hinh anh 3
Già làng Chamalé âu kể chuyện nuôi ma và ngôi nhà mả vừa xong nghi lễ cuối cùng.
Theo già làng Đá Mài Phân, khi còn chưa làm lễ bỏ mả thì hằng năm, đúng vào ngày người thân qua đời, gia tộc sẽ giết heo, mổ trâu, thịt gà, nấu hàng trăm ký gạo, ủ hàng chục ché rượu cần để làm đám “tuần mả một năm”. Sau khi việc giết thịt, chuẩn bị lễ vật đâu vào đấy, gia đình người chết sẽ mang đồ ăn thức uống bỏ vào một mo cau rồi để sẵn ở nhà, sau đó họ ra nhà mồ cùng thầy cúng làm lễ mời mả về nhà ăn thịt uống rượu…
Tục lệ qui định đám tuần một năm nhất thiết phải có mặt 3 ông thầy, gồm ông Yanuh Jalat (thầy cúng) và 2 người đại diện cho bên nội và bên ngoại của người chết!
Lời khấn mả huyền hoặc
Thật lòng mà nói, những chuyện nuôi ma lúc này không đủ sức hấp dẫn chúng tôi bằng tục lệ lừa ma bí hiểm, người sống giả chó chạy nhảy điên cuồng. Hỏi già làng Chamalé Âu, ông Đá Mài Phân cùng một số người già khác ở Ma Nới rằng tục lệ ấy còn hay đã mất, một già làng tên Đinh Yên, khẳng định tục ấy được người Raglai duy trì hàng trăm năm qua và chỉ được tiến hành vào ngày cuối cùng của lễ bỏ mả.
“Người Raglai sống nhiều ở Ninh Thuận, được phân thành 2 vùng Raglai Nam và Raglai Bắc. Ngoài ra còn sống rải rác ở các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa. Một số sống ở Ninh Thuận… nhưng chỉ người Raglai Bắc mới có tục “lừa ma” thôi” – già Đinh Yên, móm mém, cho biết.
Theo các già làng, để thực hịên nghi lễ “lừa ma” kỳ lạ ấy, trước đó gia chủ phải nhiều lần nuôi ma, phải nhiều lần đọc những bài khấn được duy trì qua bao đời. Bài khấn có một số đọan, như sau: “...Tôi tớ xin chắp hai tay/ Thỉnh mời Ngài ngự về mâm lễ/ Hưởng các lễ vật dâng cúng/ Cầu Ngài ban cho mọi sự bình yên/ Cho con cháu họ hàng gần xa/ Cùng nguyện làm lễ bỏ  mả/ Cho ông, cho cha họ ngày mai đây/... Cầu xin Ngài cho cầm dao chắc dao/ Cầm rìu, cầm rựa, chắc rìu chắc rựa/ Đốn cây, chặt củi/ Gọt bầu, bí, thái rau/ Nấu cơm, canh thiệt đều chín, ngon/ Tôi tới chắp tay lạy Ngài/ Đừng để cho kẻ xấu gan/ Làm điều ác, hại đến lễ bỏ mả”.
Bài khấn này do thầy cúng khấn thần lửa (Yang Apui) trong lễ cúng đất cầu xin được mọi sự bình yên trong thời gian làm lễ bỏ mả. Những ngày sau đó là bài khấn mời “mả” (hồn người chết-PV) về nhà mới: “...Hỡi mả, mày hãy lên mừng nhà mới, gỗ mới, kaggo mới, một chén rượu mừng, một con trâu/ Mày hãy rủ ông bà của mày lên xem nhà mồ, gỗ mới, kaggo mới/ Bây giờ mày hãy về với gia đình làm lễ cắt đứt, làm lễ đoạn tuyệt từ đây/ Lễ vật cho mày có 3 chén rượu cần, 1 con heo theo tục lệ, một cỗ trầu, một chai rượu/ Mày hãy rủ ông, bà cùng ăn uống với mày...”.
Nếu nói số lượng những lời khấn trong lễ bỏ mả để từ đó dẫn đến nghi lễ cuối cùng - nghi lễ “lừa ma”, con số phải đến hàng chục. Và đây là lời khấn cuối cùng trước khi dân làng, gia đình người chết cùng hòa vào nhau, cùng “thông đồng” với nhau để đánh lừa hồn người chết và các thế lực ma quỷ hắc ám luôn rình rập ở nghĩa địa rừng ma chực chờ hại người, hại làng: “Hỡi mả rồi đây/ Đôi đường cách biệt/ Lối ai nấy đi/ Nhà ai nấy ở/ Chỗ ai nấy nằm/ Nơi ai nấy nghỉ/ Cơm ai nấy ăn/ Nước ai nấy uống... Mày đi đường mày/ Tao đi đường tao/ Ai làm nấy ăn/ Người sống và người chết/ Hai đường cách xa/ Mày đừng bảo họ làng/ Con cháu của mày/ Hãy còn vướng mắc gì với mày/ Một, hai, ba, bốn, năm sáu, bảy/ Mả hãy về với tổ tiên... Hỡi mả!”.
 tuc le "lua ma" bi hiem o ma noi hinh anh 4
Thầy cúng đang làm lễ và ...
 tuc le "lua ma" bi hiem o ma noi hinh anh 5
... những hình vẽ trừ tà ma dùng trong nghi thức bỏ mả.
Các già làng khép lại những nghi thức, lời khấn mả bằng những chén rượu thơm lừng hương lúa rẫy. Với lời khấn này, từ đây hồn người chết sẽ chính thức được giải thoát khỏi sự giam cầm của thần đất, được chính thức trở thành ma và về đoàn tụ với ông bà tổ tiên. Từ đây lời khấn không còn được đọc nữa, nhưng vẫn còn một nghi thức thiêng liêng, kỳ lạ, nghi thức “lừa ma” như chúng tôi đã nói, mọi người phải cùng nhau thực hiện!
Đánh lạc hướng hồn ma!
“Muốn làm chó lừa ma, làm cho ma rối trí, làm cho ma chẳng nhớ đường về phải bẻ Gai Toah” - một già làng, hắng giọng bảo. Và chẳng đợi chúng tôi hỏi, già giải thích với đại ý Gai Toah là biểu hiện của âm dương với đầu được vót nhọn hoặc được găm vào đầu con thịt (vật hiến sinh như heo, hoặc trâu) hoặc được cắm xuống đất.
Khi Gai Toah được bẻ đồng nghĩa với việc từ đây âm dương cách biệt. Từ đây người chết vĩnh viễn ở thế giới hồn tổ tiên ông bà, chẳng còn liên hệ gì với người thân. Từ đây mãi về sau, con cái, anh em, họ hàng của người chết sẽ chẳng bao giờ ra rừng ma nuôi ma, kể chuyện cho ma nghe, hát ru ma ngủ, cho ma ăn thịt uống rượu nữa.
Già làng Đá Mài Phân, tủm tỉm cười cho biết ngay khi Gai Toah được bẻ làm đôi là mọi người tham dự lễ tang cùng nhau giả chó. Điều lạ là với “vai” này, “chó” không sủa gâu gâu mà chỉ chạy nhảy lung tung. Một tục lệ quá đỗi kỳ lạ!
Các già làng cho hay chuyện chạy nhảy như thế nhằm xóa hết dấu chân người. Cứ nghĩ cảnh cả làng, hàng trăm người cùng nhau giả chó chạy nhảy liên hồi, rượt đuổi theo ông Yanuh JaLat (thầy cúng) đến khi mệt mới thôi, bất kể già trẻ, bất kể nam nữ… thật lòng mà nói, chúng tôi hơi thấy buồn cười. Nhưng cái nghi lễ ấy lại có ý nghĩa rất sâu xa. Nó hàm chứa lời nhắn của người sống với hồn ma rằng hãy sống với thế giới của mình, đừng quyến luyến, tơ vương với những người đang sống!
Nhưng tại sao phải giả chó chạy nhảy liên hồi? Sao không giả những con vật vốn dĩ cũng rất gần gũi với đời sống của tộc người như gà, heo, trâu... mà phải là chó? Hỏi ra mới biết chó là con vật hay chạy nhảy. Giả chó để tạo nhiều dấu chân, dấu chân này xóa giẫm lên dấu chân kia, như thế để hồn ma chẳng nhận ra dấu chân người mà từ đó lần theo về làng gây ra những vụ hại người bằng cách khiến nhân thân đau bệnh chẳng rõ nguyên do và chết trong cảnh đau đớn vì chẳng thuốc thang gì chữa trị được?
Đi qua nhiều buôn làng khác của người Raglai ở vùng cao Ninh Thuận, chúng tôi được một số già làng hào hứng kể chuyện họ từng nhiều lần giả làm chó chạy nhảy xóa dấu chân để “đánh lừa ma”, làm cho ma “rối loạn” chẳng biết đường lần về làng. Sau nghi thức chạy nhảy nhốn nháo nhưng kỳ thực có trật tự này, từ đây mối dây liên hệ giữa người sống và người chết coi như đoạn tuyệt. Từ đây vợ (chồng), con (cháu), anh (em) của người chết sẽ chẳng còn luyến lưu gì với người thân. Bỏ mả rồi, họ sẽ chẳng bao giờ ghé thăm mộ phần của người thân nữa và theo thời gian, nhà mồ của người chết sẽ bị cây rừng, lá rừng lấp phủ xóa hết vết tích!
Câu chuyện về tục lệ giả chó xóa dấn chân người của người Raglai là thế. Lẽ ra chúng tôi có thể tóm lược ngắn gọn nhưng để bạn đọc hiểu một cách tường tận hành trình sống ở thế giới khác – thế giới của hồn ma tổ tiên khi họ trút hơi thở cuối cùng được mở đầu và khép lại ra sao, chúng tôi phải “liệt kê” những nghi lễ chính. Điều cần nói rõ là tục lệ giả chó kia là nét riêng trong đời sống tâm linh phong phú của tộc người Raglai, một lụât tục lạ kỳ có không hai ở nơi núi cao rừng thẳm!