Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Khơ mú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Khơ mú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Nơi người dân kiêng mừng tuổi vào mùng Một Tết


(Baonghean.vn) - Nếu như người Mông quan niệm rằng
 mừng tuổi là việc của con cái dành cho bố mẹ và quà mừng tuổi cũng chỉ đơn giản bằng con gà, đĩa xôi thì người Khơ mú lại kiêng mừng tuổi vào ngày mùng 1 Tết.
Dân tộc Mông có thể nói là dân tộc còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản sắc độc đáo, nhất là những tục lệ trong những ngày Tết đến Xuân về.
Chiều 30 Tết, mọi người cắt những tấm giấy do mình tự làm dán vào khắp nơi ở nhà cửa, bàn ghế, cột cái để cầu may mắn cho năm mới an lành. Khoảng 4 giờ chiều, tất cả mọi người trong dòng họ tập trung tại sân vận động của bản để làm lễ cúng bản.
Trưởng họ tay cầm con gà, dẫn đầu đoàn người đi xung quanh 1 đống cỏ tranh lớn ở giữa cắm một cây tủng xồng (loại cây gỗ mềm) để cúng tống tiễn năm cũ, mời các vị thần năm mới về ăn Tết. Xong ai về nhà nấy chuẩn bị bàn thờ và giết gà gọi vía đón năm mới.
Người Mông chuẩn bị bàn thờ đón Tết. Ảnh: Đào Thọ
Theo ông Lầu Xái Phia trú ở bản Nậm Khiên 2 (xã Nậm Càn - Kỳ Sơn) thì ngày trước, người Mông hầu hết đều có khẩu súng kíp trong nhà nên tất cả đều đưa ra bắn lên trời báo hiệu khoảnh khắc thiêng liêng trong năm đã tới. Khi súng đã được bắn lên cũng chính là lúc con cái tập trung mừng tuổi bố mẹ.
Nam nữ người Mông vui ném pao ngày Tết. Ảnh tư liệu
Việc mừng tuổi của người Mông không quan trọng tiền bạc, chỉ cần người con mang một chai rượu hay con gà, đĩa xôi đến dâng cho cha mẹ cầu chúc bậc sinh thành sức khỏe dồi dào, ban phước cho con cháu là được.
“Ngày trước còn có súng nên việc mừng tuổi năm nào cũng diễn ra đúng vào lúc súng nổ. Bây giờ không có tiếng súng báo hiệu thì tục lệ này không diễn ra đúng thời điểm nữa. Con cái có khi đi chơi đến mùng 3, mùng 4 mới về mừng bố mẹ” - ông Xái Phia nói.
Múa khèn tỏ tình ngày Xuân. Ảnh: Đào Thọ
Sáng mùng 1 Tết, mọi người trong bản đi thăm và mang đến nhà nhau những câu chúc tốt đẹp nhất. Người già ngồi quanh bếp lửa ăn bánh nếp, uống chén rượu ngô hàn huyên tâm sự những chuyện năm cũ và khuyên bảo nhau cách làm ăn trong năm mới; nam nữ thì diện những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất rủ nhau ra sân thổi khèn, ném pao tìm vợ tìm chồng.
Những tiếng khèn lá, khèn môi, cất lên vang vọng khắp núi rừng. Cứ thế ngày Tết kéo dài hết ngày này sang ngày khác.
Với cộng đồng dân tộc Khơ mú, ngày Tết riêng (tức là Gơ rơ) được tổ chức vào cuối tháng 11 (âm lịch) nhưng trong cái Tết cổ truyền chung của dân tộc, người Khơ mú vẫn giữ được những nét riêng trong bản sắc của cộng đồng mình.
Vui rượu cần đón Tết của người Khơ mú. Ảnh: Đào Thọ
Ông Moong Phò Hoan ở bản Cha Ca (xã Bảo Thắng - Kỳ Sơn) cho hay, tối 30 Tết, người Khơ mú chuẩn bị một vò rượu cần để đón giao thừa. Ngày trước, người Khơ mú cũng không có đồng hồ nên mọi người cùng thay phiên nhau thức để nghe tiếng gà gáy dậy đón năm mới.
Khi gà đã gáy báo hệu năm mới đến, các thành viên trong gia đình tập trung lại quanh vò rượu cần cùng nhau uống, chúc nhau sức khỏe, mùa màng nương rẫy tốt tươi. Và điều đặc biệt hơn, trong thời khắc bước sang ngày mùng 1 cho đến hết ngày, người Khơ mú không được bước ra khỏi căn nhà của mình.
Căn bếp thiêng ngày Tết. Ảnh: Đào Thọ
“Chính vì vậy, trong ngày mùng 1, chúng tôi không mừng tuổi cho ai cả và cũng không được đi chơi nhà khác. Bởi nếu mừng tuổi vào ngày đó thì cả năm sẽ mất lộc và đi nhà khác cũng sợ sẽ mang điều không may mắn cho người ta” - ông Phò Hoan cho biết thêm.
Cũng theo ông Hoan, sau ngày mùng 1, ngời Khơ mú mừng tuổi cho người già và trẻ nhỏ. Ai có tiền mừng tiền, ai có quà mừng quà không quan trọng nhiều hay ít, cốt ở tấm lòng.
Mâm cơm cúng tổ tiên ngày Tết của người Khơ mú. Ảnh: Đào Thọ
Như vậy có thể thấy rằng, các cộng đồng dân tộc ở miền Tây Nghệ An đều có những nét riêng trong ngày Tết. Đây cũng chính là điều tạo nên sự phong phú trong bản sắc văn hóa của các dân tộc vùng cao.  

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

Say đắm những vũ điệu của người Khơ Mú

Ths. Phạm Thị Đào 
Vanhien.vn - Từ cuộc sống lao động và môi trường sống với những nét văn hóa đặc trưng, người Khơ Mú đã có những điệu múa điển hình như: Múa Cá lượn (Viêng ver guông), múa Ong eo (Tẹ Viêr Guông), Múa đuổi chim (Tẹ Kam Đặt Sim); múa cầu mùa (Te grơ); múa mừng nhà mới; múa dũ ống (tăng bu); múa tra hạt.
Múa Ong eo (Vũ điệu Tẹ Viêr Guông)
Người Khơ Mú thường múa Ong eo hình trong những dịp lễ hội, lễ mừng cơm mới được tổ chức ngay sau khi vừa kết thúc vụ gặt. Ong eo của đồng bào Khơ Mú là điệu múa lắc hông, uốn lượn eo, được mô phỏng theo các động tác, cử chỉ lao động hàng ngày của người dân nơi đây như: Gặt lúa, bẻ ngô, hái rau, nhổ cỏ, đơm tép, giặt giũ. Điệu múa biểu tượng cho mối cộng cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, từng nhịp điệu đều liên quan mật thiết với tín ngưỡng cầu mùa và khát vọng về tình yêu đôi lứa.
Khi múa Ong eo, người nam thường đeo chiếc khoong khăn vừa là nhạc khí, vừa là đạo cụ, trong khi các cô gái với bộ váy thổ cẩm sặc sỡ, nụ cười duyên dáng, nhịp gót nhún rộn ràng, uốn lượn lưng eo khiến người xem ngẩn ngơ say đắm.
Múa mừng nhà mới
Khi dựng nhà xong, đồng bào Khơ Mú tiến hành nghi lễ lên nhà mới, sau khi làm xong các thủ tục lên nhà mới, mọi người ăn uống, chúc tụng là đến các điệu múa mừng nhà mới. Đám thanh niên trong thôn bản treo bộ chiêng lên một góc nhà, mang chập cheng (chreng) ra, một tốp các cô gái ăn mặc lộng lẫy, tay cầm ống nứa to, dài tới ngang ngực bước vào vòng múa. Một người hô to: “Một hai ba Đánh!”. Lập tức tiếng chiêng vang rền núi rừng.
Tiếng chập cheng vang rộn thôn bản, lôi cuốn các cô gái múa theo nhịp chiêng, vừa múa, vừa dỗ dỗ đầu gậy xuống sàn nhà bịch bịch bịch. Chiêng đánh càng khỏe, chập cheng càng nhanh, nhịp múa càng hối hả, nhịp dỗ dỗ xuống sàn càng tăng, người càng rạo rực. Mọi người vỗ tay, trẻ con reo hò theo điệu múa không ngớt. Rồi tất cả mọi người đều bị lôi cuốn vào vòng múa, vừa múa, vừa hát. Họ vừa múa hát mừng nhà mới, vừa mời rượu nhau.
Múa cá lượn (Viêng ver guông)
Múa cá lượn thường được múa trong lễ sửa nhà của người Khơ Mú. Đây là điệu múa rất đặc trưng của người Khơ Mú. Ngày xưa, khi đi bắt cá, ngồi ngắm nhìn những con cá bơi đi bơi lại, người Khơ Mú về hình dung ra những động tác đuôi cá, vây cá chuyển động và sáng tác ra điệu múa, đặt tên là cá lượn. Múa cá lượn tạo nên không khí vui tươi cho người múa.
Các động tác múa cá lượn nồng nàn, thân mật và ấm áp tình cảm gắn bó cộng đồng. Múa cá lượn gồm sáu động tác chính giống như vẫy đuôi, xòe vòng, ghẹ đầu quấn quýt bên nhau của những con cá trắng dưới lòng khe. Trong mùa tìm nhau kết đôi hoặc trong các lễ hội, ngày vui của dân tộc mình, người Khơ Mú thường múa cá lượn.
Múa chọc lỗ tra hạt (Tẹ chư moi)
Hàng năm, cứ vào dịp tháng 3, tháng 4 là thời điểm người dân tiến hành cày cấy, để có mùa màng bội thu, người dân Khơ Mú thường tổ chức lễ hội tra hạt, lễ cầu mùa. Trong lễ hội cầu mùa này, vũ điệu chọc lỗ tra hạt với chiếc gậy độc đáo gắn với nhạc cụ bao giờ cũng được thể hiện tưng bừng rộn rã như sự giao hòa âm dương, thức dậy những khát vọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Đàn ông khỏe mạnh dàn hàng ngang đi trước, vừa nhún nhẩy, vừa vung gậy chọc lỗ tra hạt, những âm thanh như đánh thức đất trời, khích lệ những người tham gia lao động. Phía nữ cũng dàn hàng, đối diện. Nam vừa húng lỗ vừa lùi. Nữ vừa tra hạt giống vừa tiến, chân gạt nhẹ lấp đất. Cả tốp người, bên nam, bên nữ, cùng làm cùng nhịp nhàng uyển chuyển, hài hòa nhảy múa trong tiếng nhạc rộn ràng và trong khúc dân ca của chính người Khơ Mú.
Múa mừng măng mọc
“Mừng mùa măng mọc” là mỹ tục của người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, thể hiện thái độ sống tôn trọng môi trường sinh thái và trách nhiệm với rừng, đồng thời chuyên chở những ý nghĩa nhân sinh cao đẹp. Múa tăng bu, tăng bẳng - múa ống là điệu múa chủ đạo của hội mừng mùa măng mọc, có nguồn gốc từ chiếc gậy chọc lỗ tra hạt trỉa lúa trên nương cùng dụng cụ bằng ống tre lấy nước suối. Trai gái tay trong tay quanh cây quấn hoa múa những động tác mạnh mẽ, dứt khoát, sôi động theo nhịp của ống tre trỗ mạnh xuống đất, đánh thức những khát vọng và những hạt mầm… Điệu “Tăng bu” sôi nổi bao nhiêu thì điệu “Hưn mạy” - Đàn tre lại mềm mại uyển chuyển và trữ tình bấy nhiêu: âm thanh của nhạc cụ bằng tre gõ vào tay như tiếng thầm thì của núi ngàn.
Múa đuổi chim (Tẹ Kam Đặt Sim)
Múa đuổi chim cũng thường được múa trong lễ cầu mùa. Điệu múa này phần nhiều là những vũ điệu và tiết tấu nhanh, mạnh mẽ, sôi động, nhưng không kém phần hồn nhiên của các chàng trai, cô gái. Mục đích của điệu múa đuổi chim là để xua đuổi các con vật không đến phá nương rẫy làm hại mùa màng nữa. Điệu múa này gắn liền với đời sống lao động của người Khơ Mú.
Thông qua các điệu dân vũ, người dân Khơ Mú mong muốn con người luôn luôn được khỏe mạnh, họ cầu cho mùa màng bội thu, cầu cho mưa thuận gió hòa; đồng thời cũng thể hiện mối cộng cảm giữa con người với con người, con người với thiên nhiên. Các điệu múa liên quan mật thiết với tín ngưỡng cầu mùa và khát vọng tình yêu đôi lứa, sự cố gắng nỗ lực của người dân khi vượt qua mọi khó khăn để tồn tại phát triển cùng cộng đồng. Do đó, nét đặc biệt của múa dân gian Khơ Mú là các động tác thường rất khỏe mạnh, sôi động nhưng không kém phần duyên dáng.
Nguồn: langvietonline.vn

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

Người dân tộc Khơ Mú có họ tên là các loài động thực vật


Cô gái người dân tộc Khơ Mú. Ảnh: Cinet.
Cô gái người dân tộc Khơ Mú. Ảnh: Cinet.
Khơ Mú (tên gọi khác là Kmụ, Kưm mụ, Xá Cẩu, Tày Hạy...) là tộc người thiểu số trong 54 dân tộc Việt Nam. Theo kết quả điều tra năm 2009 của Tổng cục Thống kê, cộng đồng này có gần 73.000 người, cư trú chủ yếu tại các tỉnh Nghệ An, Điện Biên, Thanh Hóa, Sơn La, Yên Bái. Họ sống thành làng bản, mỗi bản có vài chục gia đình thuộc các dòng họ.
Trong cuốn Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam (nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, năm 1999), PGS Khổng Diễn cho biết, đặc điểm chung của các dòng họ Khơ Mú là mang tên các loài chim, thú, cây cỏ và cả đồ vật vô tri vô giác. Ví dụ, họ Rvai có nghĩa là hổ; họ Tmoong là con chồn; họ Chưn đre là loài chim có mình màu nâu; họ Tvạ là loại dương sỉ... 
Người Khơ Mú coi các loài động thực vật là tổ tiên của dòng họ, có cả truyền thuyết về sự ra đời của dòng họ gắn với những động thực vật này. Họ do đó có tục kiêng kỵ săn bắn, ăn thịt và thờ cúng vật tổ.
Thiếu nữ người dân tộc chuẩn bị bàn thờ làm lễ cầu mưa. Ảnh: TTXVN.

Người Khơ Mú nghiêm cấm kết hôn trong cùng một dòng họ

Theo cuốn Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam (nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, năm 1999) và Hôn nhân của Người Khơ Mú (nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, năm 2010), nguyên tắc hôn nhân cơ bản nhất của người Khơ Mú là "ngoại hôn dòng họ", tức cấm người cùng một dòng họ kết hôn với nhau.
Lúc đầu việc nghiêm cấm có hiệu lực đối với tất cả thành viên trong từng dòng họ. Về sau vì số lượng thành viên của từng dòng họ quá đông, mỗi dòng họ lại chia nhỏ thành các ngành nhỏ nên hiện nay người Khơ Mú cho phép người trong cùng một dòng họ, nhưng thuộc các ngành khác nhau; con cháu đời thứ tư của cùng một ông tổ, được kết hôn nhân với nhau. 
Thiếu nữ dân tộc Khơ Mú tại Sơn La trong trang phục truyền thống tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Tây Bắc mở rộng năm 2016. Ảnh: Báo Sơn La.
Thiếu nữ dân tộc Khơ Mú tại Sơn La trong trang phục truyền thống tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Tây Bắc mở rộng năm 2016. Ảnh: Báo Sơn La.
"Người vi phạm nguyên tắc ngoại hôn tức là có quan hệ hôn nhân với người cùng tổ tiên sẽ bị coi là phạm tội loạn luân, bị phạt theo luật lệ của bản rất nghiêm ngặt. Người Khơ Mú quan niệm, tội loạn luân sẽ gây ra sự ô uế cho đất, nước, động đến thần linh, làm cho các thần tức giận trừng trị con người, gây ra lũ lụt, hạn hán, bão tố, sấm sét, động rừng... Do đó người Khơ Mú đã bắt những người vi phạm tội loạn luân phải làm lễ hiến sinh một con dê để cúng thần linh. Sau nghi lễ cúng thần, người phạm tội được sống chung với nhau như vợ chồng nhưng phải rời bản đến sống ở một nơi khác", cuốn Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam viết. 
Ngoài ra, người Khơ Mú xưa còn có nguyên tắc chỉ kết hôn với người cùng dân tộc; con trai của dòng họ A đã lấy con gái của dòng họ B thì con trai của họ B không được lấy ngược trở lại con gái của dòng họ A

Chàng trai Khơ Mú ở rể một thời gian bên nhà vợ

Tác giả Trần Thị Thảo trong cuốn Hôn nhân của người Khơ Mú (nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, năm 2010) cho biết, ở rể là tập tục lâu đời, vẫn duy trì đến ngày nay của cộng đồng người Khơ Mú. Ý nghĩa của tục lệ này là để bố mẹ và gia đình nhà vợ dạy bảo việc làm ăn, các kỹ năng tăng gia sản xuất, tạo điều kiện để chàng rể tập làm chủ gia đình, xây dựng một gia đình mới.
Trong thời gian ở rể, chàng rể tự coi mình là thành viên chính trong gia đình vợ, hòa nhập vào cuộc sống sinh hoạt, sản xuất cùng gia đình vợ. Họ được đối xử bình đẳng và nhận được sự quan tâm của gia đình vợ. Điều này khác hẳn với quan niệm của người Thái là con chàng rể trong thời gian ở rể như người ở và đối xử bất bình đẳng. 
Vợ chồng người Khơ Mú ở Điện Biên. Ảnh: Báo Điện Biên.
Vợ chồng người Khơ Mú ở Điện Biên. Ảnh: Báo Điện Biên.
Ở một số vùng như Nghệ An, Thanh Hóa, chàng rể Khơ Mú sẽ đổi sang họ vợ trong suốt thời gian ở rể. 1-2 tháng sau khi ở rể, lễ kết hôn pưn đệ của đôi trai gái Khơ Mú mới được diễn ra (trước đó chỉ có lễ dạm ngõ, ăn hỏi, lễ hỏi ở rể và lễ tiễn ở rể). Đôi vợ chồng trẻ từ lúc này mới được ăn nằm cùng nhau, được quyền sinh con đẻ cái.
Sau thời gian ở rể (trước đây là 3-12 năm) và nhà trai đã đủ điều kiện kinh tế, nhà trai sẽ xin phép nhà gái và tổ chức lễ cưới con dâu. Đây là lễ cưới chính thức, nghi lễ quan trọng nhất trong hôn lễ của người Khơ Mú. Sau lễ này, đôi vợ chồng về ở nhà chồng. Một thời gian sau, họ có thể chuyển ra ở riêng nếu đủ điều kiện kinh tế và được nhà chồng cho phép. 
Ngày nay, người Khơ Mú giản tiện hơn trong tục lệ ở rể truyền thống. Đa số chàng rể sau vài ba tháng (có trường hợp là một tuần) ở nhà vợ sẽ xin phép tổ chức cưới cô dâu về nhà chồng. 

Người Khơ Mú để sợi dây bên thi hài người chết để dẫn đường lên mặt trăng

Theo cuốn Văn hóa dân gian của người Khơ Mú tỉnh Điện Biên (nhà xuất bản Mỹ thuật, năm 2016), người Khơ Mú có truyền thống bắn 4 phát súng, đốt một đống lửa to trước nhà để báo hiệu cho dân bản biết có người thân trong gia đình mới chết. Họ thường để thi hài ở nhà 2-3 ngày để dân bản tới viếng, bắt nỏ xua đuổi các loài ma đến quấy rối trong suốt thời gian này. 
Người Khơ Mú tỉnh Điện Biên tái hiện lễ cúng tổ tiên tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (năm 2015). Ảnh: Làng Văn hoá du lich.
Người Khơ Mú tỉnh Điện Biên tái hiện lễ cúng tổ tiên tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (năm 2015). Ảnh: Làng Văn hoá du lich.
Theo phong tục truyền thống, người Khơ Mú sẽ bày các đồ vật dâng cúng cùng tài sản chia cho người chết như: vải, một chai rượu, một con dao, bát, đĩa, hòm, tiền... Họ đặt một hào bạc trắng dưới cằm, một chiếc cúc bạc trắng nhỏ đặt trên trán người chết để người này trở thành ma tốt, không đi theo ma xấu về hại dân bản. Dọc theo thi hài, người Khơ Mú đặt một sợi dây dài khoảng một sải với quan niệm đây là dây dẫn người chết lên mặt trăng.
Người Khơ Mú quan niệm, con người khi chết thể xác không còn nữa nhưng hồn vía sẽ thoát khỏi thể xác và hóa thành ma (ma nhà, ma lửa để bảo vệ con cháu...), hóa thành cây hoặc nhập vào con cháu trong gia đình.

Người Khơ Mú ăn Tết cổ truyền theo Tết Nguyên đán của người Kinh

Theo tài liệu của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, đồng bà Khơ Mú ăn Tết cổ truyền theo Tết Nguyên đán của người Kinh. Họ coi đây là dịp để nghỉ ngơi, vui chơi, thăm hỏi, chúc phúc lẫn nhau, cùng tham gia các hoạt động văn nghệ, trò chơi truyền thống. 
Đêm 30 Tết sau khi giao thừa, mỗi gia đình Khơ Mú sẽ mổ một con gà trống thiến để người cao tuổi nhất trong nhà xem chân gà và dự đoán những điều may rủi ở năm mới. Cùng với đó, họ có phong tục nghe xem con vật gì sẽ kêu trước tính từ lúc giao thừa đến sáng. Người Khơ Mú cho rằng, nếu con gà kêu trước thì năm đó sẽ mất mùa vì gà lúc nào cũng ăn. Nếu lợn hay chó kêu trước thì năm đó sẽ được mùa màng no ấm.
Thiếu nữ Khơ Mú (Yên Bái) múa điệu mừng xuân. Ảnh: Cinet.
Thiếu nữ Khơ Mú (Yên Bái) múa điệu mừng xuân. Ảnh: Cinet.
Giống người Kinh, cộng đồng Khơ Mú đặc biệt coi trọng vai trò của người xông nhà trong ngày đầu năm mới. Ngày này nếu vía tốt sẽ mang đến điều may mắn cho gia đình họ xông nhà và ngược lại. Chính vì vậy, người xông nhà thường được các gia đình lựa chọn trước và nhất thiết phải là nam giới.
Đặc biệt, trong năm mới, người Khơ Mú quan niệm phải dùng nước mới để lấy may. Mỗi người uống một ngụm nước nhỏ để lấy may mắn, sau đó mọi người đều rửa mặt, chân, tay bằng nước mới. Nếu gia đình nào không đi lấy nước mới trong ngày đầu năm thì cả năm đó sẽ không gặp điều may, làm ăn không tốt đẹp. 
Hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp (làm nương rẫy) nên các lễ hội khác của người Khơ Mú đều liên quan đến trồng trọt, cầu xin mùa màng bội thu như: lễ hội cầu mùa, lễ hội cầu mưa...

Quỳnh Trang - Tổng hợp

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

Tục cúng rẫy của người Khơ Mú

(Baonghean.vn) - Cũng như các cộng đồng thiểu số khác ở miền núi Nghệ An, nguồn lương thực của người Khơ Mú chủ yếu là lúa rẫy.
Cuộc sống ở rẫy của người vùng cao xứ Nghệ. Ảnh: Hữu Vi
Cộng đồng Khơ Mú cư trú nhiều nhất ở huyện Kỳ Sơn và Tương Dương. Địa bàn cư trú của họ thường cao hơn người Thái và thấp hơn người Mông, vì vậy tập quán canh tác lúa rẫy cũng phụ thuộc vào đặc điểm địa lý.
Người Khơ Mú chọn đất làm rẫy trên những độ dốc khác nhau và trước đây, hình thức canh tác vốn rất lạc hậu. Theo nghiên cứu của PGS Ninh Viết Giao, nông cụ chủ yếu của người Khơ Mú trước kia là dao quắm, rìu… Chỉ một số nơi biết dùng cuốc. Chiếc gậy chọc lỗ trao hạt là nông cụ quen thuộc nhất của họ. Ban đầu nó là gậy hái lượm, chỉ được dùng tạm thời, về sau trở thành nông cụ. Đây cũng là vật dụng được người Thái dùng thuở xa xưa, gọi là “cha lum”.
Cũng theo ông Ninh Viết Giao, người Khơ Mú làm rẫy theo một “lịch” chặt chẽ. Đó là những nghiên cứu dựa trên những thực tế cách đây đã nhiều thập niên về trước. Ngày nay, những nguyên tắc này đã có những thay đổi và giống hơn với “nông lịch” của người Thái.
Giàn cúng rẫy của người Khơ Mú ở Kỳ Sơn Ảnh: Lữ Phú
Trong quan niệm của người Khơ Mú ở xã Bảo Thắng, huyện Kỳ Sơn, thời điểm phát rẫy tốt nhất là khi bắt đầu có những cơn mưa đầu hạ. Phát xong rẫy, chờ có nắng lên sẽ đốt và trỉa rẫy. Ông Cụt Phò Mạnh, một người cao tuổi ở bản Cha Ka 1, xã Bảo Thắng, chia sẻ: Trước mùa phát rẫy, người ta thường đi tìm nơi có địa thế tương đối bằng phẳng để chọn đám rẫy. Để tránh tranh chấp, người chọn rẫy chặt một cái cây làm thành hình chữ thập gắn lên đầu gậy rồi cắm xuống đất để đánh dấu cho người khác biết là “đất đã có chủ”. Sau đó mới cùng người nhà đi phát rẫy. Ngày đi tìm nơi làm rẫy cũng như phát, trỉa và gặt lúa đều được chọn lựa bởi những người hiểu biết về lịch trong cộng đồng. Họ thường là thầy cúng, thầy mo.
Ngày trỉa rẫy được tính là bắt đầu một mùa vụ mới. Sau khi đã chọn được ngày tốt, một người phụ nữ trong nhà sẽ lên rẫy trỉa những khóm lúa đầu tiên. Người đàn ông trụ cột hoặc một ai đó trong cộng đồng hiểu biết phong tục được gia chủ nhờ cậy sẽ lên rẫy làm một bùa trừ tà gọi là “ta leo” dựng ở giữa, hoặc góc phía trên của đám rẫy. "Ta leo" được đan bằng nan nứa hình lưới mắt cáo. Chiếc "ta leo" cũng rất quen thuộc trong những nghi lễ tâm linh của người Thái. Với người Khơ Mú, chiếc “ta leo” có ý nghĩa xua đuổi tà ma, thú dữ không đến quấy nhhiễu cây lúa và người làm rẫy.
Bên cạnh cây “ta leo”, người ta trồng thêm một khóm cây sạ. Chúng tôi cũng chưa rõ ý nghĩa của khóm sạ này như thế nào. Những người Khơ Mú ở xã Bảo Thắng cũng chỉ giải thích rằng, trồng sạ trên rẫy lúa là việc quan trọng.
Sau khi dựng cây "ta leo", trồng sạ, người ta làm nghi lễ cúng thần linh cai quản rừng núi phù hộ cho người làm rẫy được khỏe mạnh, cầu cho mưa về để hạt lúa nảy mầm. Xin thần rừng núi phù hộ cây lúa khỏe mạnh, con chuột, con chim, lợn rừng không biết đường tìm đến moi hạt lên ăn.
Vào vụ làm cỏ, một nghi lễ gọi là “xê hrê” tức là cúng rẫy được tổ chức. Tại căn chòi canh rẫy, người ta mổ gà cúng cho thần linh để tạ ơn các thế lực siêu nhiên đã bảo trợ cho cây lúa được tốt tươi. Trong lễ cúng, người ta dùng lạt kết thành hình con ve, chim, sóc dựng lên giữa rẫy để cầu mong những loài muông thú, sâu bệnh không đến phá lúa. Sau khi xong các nghi lễ là cuộc vui của những người làm rẫy. Họ ăn thịt, uống rượu trong ngày lễ cúng đầu tiên của mùa rẫy. Buổi lễ thêm phần vui tươi khi diễn ra trong không gian màu lúa non và rừng cây xanh mát.
Những lễ vật dâng thần linh trong ngày cúng rẫy. Ảnh: Hữu Vi
Lễ thứ 2 và trong một mùa rẫy của người Khơ Mú là mừng lúa mới. Người Thái thường tổ chức mừng lúa mới tại nhà nhưng người Khơ Mú thì làm nghi lễ này trên rẫy. Trong ngày lễ này, một nhóm các hộ làm rẫy gần nhau cùng tổ chức cúng và ăn mừng tại một căn chòi thuận tiện nhất.
Một giàn cúng được dựng lên. Trên giàn treo những bông lúa, các món ăn như thịt gà, lợn, món moọc được chế biến từ thịt sóc, gạo tấm gia vị gói trong lá chuối đem hấp lên. Váy, áo, vải vóc cũng được đem cúng cho thần linh. Lễ mừng lúa mới là dịp vui lớn nhất của người Khơ Mú ở trên nương rẫy.
Ngày nay, người Khơ Mú ở một số vùng đã ăn mừng lúa mới tại nhà như người Thái. Chúng ta có thể chứng kiến điều này khi về những bản làng người Khơ Mú ở Tương Dương như xã Lượng Minh, Yên Na. Ngoài lễ mừng lúa mới, người Khơ Mú ở xã Yên Na còn có lễ đưa lúa nhập kho. Trong lễ này người ta mổ gà cúng cho ma nhà (nếu kho lúa dựng gần nhà), ma cai quản kho lúa (nếu kho dựng trong rừng)...

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2018

Người Khơ Mú bôi huyết gà vào đầu gối để đón Tết Gơ rơ

(Baonghean.vn) – Người Khơ mú Nghệ An có 1 cái Tết riêng gọi là Tết Gơ rơ. Tết của cộng đồng dân tộc này thường diễn ra vào cuối tháng 11 âm lịch, cũng có nhiều nơi ăn theo Tết dương lịch. Điều độc đáo là ngày Tết của họ chỉ diễn ra vỏn vẹn trong 1 buổi hoặc 1 ngày. Nhà nào tổ chức Gơ rơ rồi thì coi như xong Tết.
Xem clip người Khơ mú thực hiện một số nghi lễ đón Tết Gơ rơ:
Tết Gơ rơ của người Khơ Mú diễn ra gọn nhẹ trong nội bộ gia đình và anh em thân thuộc. Nhà nào tổ chức xong lễ Gơ rơ coi như nhà đó đã xong Tết.
Ngay từ sáng sớm, người phụ nữ Khơ mú phải chuẩn bị đầy đủ đồ lễ và gà là loài vật không thể thiếu.
Món moọc cá cũng là thức ăn của người Khơ mú dâng lên tổ tiên.
Ngoài ra còn có bí đỏ và sắn đã được hông lên.
Bắt đầu vào làm lễ, chủ nhà lấy bình rượu cần đầu tiên để dâng lên tổ tiên mình.
Những chú gà được cắt tiết và bôi lên đầu gối của mọi thành viên trong gia đình cầu mong 1 năm mới an lành, tốt đẹp.
Sau đó gà được đem đi làm thịt và bày biện trong mâm cơm cúng tổ tiên.
Người già cả lấy 1 ít xôi, gà đưa lên trán người trẻ để chúc năm mới và sau đó đến lượt con cháu chúc lại ông bà.
Cuối cùng, chủ nhà thưởng thức món ăn trong mâm rồi mới mời khách cùng vào chung vui.
Cuộc vui kéo dài bao lâu tùy vào gia chủ chuẩn bị được bao nhiêu rượu cần.
 Đào Thọ

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

Người Khơ Mú

Khơ Mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam. Bộ phận Khơ Mú cư trú tại miền núi các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An do chuyển cư từ Lào sang.
Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ.

Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.

Dân số: 72.929 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sửKhơ Mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam. Bộ phận Khơ Mú cư trú tại miền núi các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An do chuyển cư từ Lào sang.
 
Thiếu nữ Khơ Mú trong điệu múa truyền thống. Ảnh: internet
Hoạt động sản xuất: Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa". Ngoài hình thái du canh du cư là chủ yếu, bộ phận định cư thường canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Công cụ sản xuất gồm rìu, dao, cuốc, trong đó đáng lưu ý nhất là chiếc gậy chọc lỗ. Hoặc gậy đơn hoặc gậy kép (bịt sắt) có thể dùng nhiều năm. Hái lượm và săn bắn vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Nghề phụ gia đình chủ yếu là đan lát đồ gia dụng. Một số nơi biết thêm nghề rèn, mộc, dệt vải. Việc trao đổi, mua bán chủ yếu là hình thức hàng đổi hàng. Vỏ ốc "kxoong" trước kia được coi như vật ngang giá. Người Khơ Mú chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà phục vụ sức kéo và nhu cầu tiêu dùng, tín ngưỡng.
ĂnNgười Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô, độn sắn. Họ thích ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng có mùi như chẻo, nậm pịa, cá chua...

Mặc: Người Khơ Mú mặc giống người Thái, nhưng có điều khác là cách trang trí những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía thân áo của phụ nữ. Ngày nay, phần lớn người Khơ Mú, nhất là nam giới đều ăn mặc theo người Việt.

: Hiện nay họ cư trú tại các tỉnh: Yên Bái, Sơn La, Lai Châu. Vì điều kiện du canh, du cư nên bản làng thường nhỏ bé, rải rác. Nhà sàn chủ yếu dùng cột không ngoãm, vách phên, sàn bương. Hiện nay nhiều nơi đã làm nhà khang trang, vững chãi hơn.

Phương tiện vận chuyển: Cơ bản là gùi có dây đeo trên trán, có ách và các loại túi đeo, bộ phận người Khơ Mú làm ruộng dùng thêm sọt gánh.
 
Đan lát cũng là hoạt động quen thuộc trong đơi sống của ngườu Khơ Mú. Ảnh: internet
Quan hệ xã hội: Người Khơ Mú quan hệ chặt chẽ giữa những người đồng tộc và những người láng giềng, nhất là người Thái.Mỗi bản gồm nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau. Mỗi họ có trưởng họ. Người dân bản trong bản đã có phân hoá giàu nghèo. Những dòng họ người Khơ Mú đều mang tên thú, chim, cây cỏ... có thể chia làm 3 nhóm tên họ. Nhóm tên thú gồm hổ, chồn, cầy hương... Nhóm tên chim gồm phượng hoàng đất, chìa vôi, cuốc, bìm bịp... Nhóm tên cây gồm guột, rau đớn, dương xỉ, tỏi ... Ngoài ra còn một số họ mang tên vật vô tri như: rọ lợn, môi múc canh...
Cưới xin: Hôn nhân theo nguyên tắc thuận chiếu, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Trong hôn nhân, nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng... Ðám cưới được tiến hành qua các khâu dạm hỏi, ở rể, lễ cưới ở bên nhà vợ và lễ đón dâu... Trai gái được tự do tìm hiểu nhưng quyền quyết định do bố mẹ, đặc biệt là ông cậu. Ông cậu là người có ý kiến quyết định tiền thách cưới, đồ sính lễ.

Ma chay: Ðám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng. Ðặc biệt bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem thi hài đi chôn.

Nhà mới: Lên nhà mới là dịp vui của gia đình và cả bản. Chủ nhà thường mổ lợn thiết đãi bà con xóm giềng. Ðây là dịp dân bản trình diễn các sinh hoạt văn nghệ có tính cộng đồng.

Lễ tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Khơ Mú còn ăn tết cơm mới. Tết được tổ chức sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Ðây là dịp vui của cả bản sau một thời gian lao động mệt nhọc. Tết cơm mới của người Khơ Mú thể hiện hiện sắc thái văn hoá tộc người đậm nét. Họ còn duy trì nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, trồng trọt.

Thờ cúng: Người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất là: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà. Ðó là các loại ma mang điều lành cho con người nhưng đôi khi giận dữ có thể gây tai hoạ trừng phạt con người.
Ngoài lễ cúng mường, người Khơ Mú còn lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng ma nhà trong các dịp tết và khi con cháu trong nhà đau ốm. Bàn thờ ma nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ ở một gian riêng kín đáo và rất kiêng kỵ đối với người ngoài. Mỗi dòng họ vẫn duy trì tục thờ ma dòng họ với nghi thức và các động tác mang tính đặc trưng riêng.

Lịch: Ngoài theo lịch Thái, người Khơ Mú phổ biến cách tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để vận dụng trong việc dựng nhà, cưới gả...

Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.

Văn nghệ: Làn điệu dân ca quen thuộc nhiều người ưa thích là Tơm. Làn điệu này mang đậm tính sử thi, trữ tình. Cách hát theo kiểu đối đáp. Người Khơ Mú thích xoè, múa, thổi các loại sáo, các bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo, đặc biệt là thổi kèn môi.

Chơi: Trong các ngày lễ tết, trẻ em hay đánh cầu lông làm bằng lông gà, đánh quay và các trò chơi dân gian khác.
Theo cema.gov.vn

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Lễ tra hạt đầu năm mới – nét văn hóa độc đáo của người Khơ Mú ở Điện Biên

Nhằm góp phần tăng cường sự hiểu biết về văn hóa dân tộc cho du khách, sáng ngày 19/3/2017, Làng văn hóa và du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) đã tổ chức tái hiện lễ tra hạt đầu năm của người Khơ Mú ở Điện Biên. Đây là lễ hội quan trọng của người Khơ Mú, cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu…

       Lễ tra hạt là nghi lễ truyền thống có từ xa xưa, gắn bó với đời sống kinh tế, văn hóa nông nghiệp của người Khơ Mú. Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Khơ Mú quan niệm vạn vật hữu linh, thiên nhiên xung quanh chúng ta như trời, đất, nương, rẫy… đều có quan hệ mật thiết với đời sống và sản xuất của con người. Lễ tra hạt có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, để cho cây lúa cây ngô, khoai sắn tươi tốt, bông to, hạt trắc đầy bồ, cây cối đồi núi xanh tươi, hạn chế lũ lụt, hạn hán.
       Lễ thường được tổ chức vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch trên nương rẫy. Quy mô gia đình lễ tra hạt được chủ nhà chọn tại nương rẫy của mình và có sự góp mặt, giúp đỡ của nhiều gia đình khác. Khi bắt đầu vào mùa vụ bà con dân bản chuẩn bị các loại hạt giống như lúa ngô, khoai sắn, đậu đỗ… để xuống giống trong một năm. Các loại hạt dược trồng trên nương rẫy để tự cung tự cấp nhằm phục vụ cho sinh hoạt đời sống hành ngày. Sau phần nghi lễ cúng tế truyền thống kết thúc là phần hội.
       Buổi lễ gồm 2 phần: phần cúng tổ tiên và phần cúng trên nương. Báo ảnh Dân tộc và Miền núi trân trọng giới thiệu một số hình ảnh tại buổi lễ.
Lễ cúng tổ tiên thường được tổ chức trong nhà gồm: 1 con gà trống, 2 ép xôi nương, 1 bát canh, 1 bát ớt, 1 chai rượu và 4 chén rượu, 4 cái thìa, 4 đôi đũa

Sau lễ cúng trong nhà là lễ cúng trên nương, với các lễ vật dâng lên thần linh được sắp xếp theo phong tục từ xưa của người Khơ Mú

Bày xong mâm lễ, thầy cúng lạy 3 hồi và bắt đầu cúng

Sau khi cúng xong, thầy cúng sử dụng nước đã chuẩn bị trước trong các ống tre để rửa tay cho mình và những người phụ nữ tham gia buổi lễ

Rửa tay xong, thầy cúng lấy một ít lá chuối buộc vào gốc cây với ý nghĩa bịt mắt thú rừng để chúng không nhìn thấy hạt giống của mình gieo xuống mặt đất

Việc chọc lỗ thường do nam giới đảm nhiệm,
còn tra hạt là phần việc của nữ giới

Sau khi hoàn tất lễ cúng, thầy cúng sẽ hắt hết nước từ các ống tre

Đến với buổi lễ, du khách còn được thưởng thức các tiết mục văn nghệ đặc sắc. Trong ảnh: Nghệ nhân Đặng Huyền Thanh và Triệu Hải Yến với tiết mục múa “Mùa xuân trên bản Dao”

Nghệ nhân Nguyễn Thị Xuyến biểu diễn bài hát then
"Bác Hồ về thăm quê nọong”

Các nghệ nhân làng dân tộc Tà Ôi biểu diễn hòa tấu
nhạc cụ dân tộc, hát Câr Lơi

Du khách hào hứng tham gia múa hát cùng các nghệ nhân

Các trò chơi dân gian luôn được hưởng ứng nhiệt tình

Bài và ảnh: Nguyễn Thị Thu 

Lễ hội Mah Grợ của dân tộc Khơ Mú

Người Khơ Mú có đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần phong phú với vốn ca múa dân gian qua lễ hội Mah Grợ và điệu múa uyển chuyển, sôi động.
Lễ hội Mah Grợ của người Khơ Mú ở Sơn La

Lễ hội Mah Grợ của người Khơ Mú diễn ra vào mùa xuân khi các thôn bản của người Khơ Mú tổng kết mùa vụ, bắt đầu tra hạt trong tháng giêng, tháng hai âm lịch. Lễ hội Mah grợ và múa Vêr guông thường được tổ chức tại nhà của người có kinh tế khá giả nhất bản, hoặc nhà ông trưởng bản.

Lễ hội gồm 2 phần chính là phần lễ cúng của chủ nhà và phần hội múa của cộng đồng trong bản. Về phần lễ, ngay từ sáng sớm, bà chủ nhà đóng vai “Mẹ lúa” cùng cô con gái mặc váy áo, đội khăn piêu đẹp, đeo cái dỏ, tay cầm con dao mài sắc rồi lên nương. Đến nương nhà mình, hai mẹ con đào lấy củ khoai sọ cuối cùng, cắt lấy phần lá khoai bỏ vào giỏ và thêm mấy que củi khô rồi gùi về bản. Người Khơ Mú xưa quan niệm rằng củ khoai, quả bí đỏ mới là thóc lúa. Trên đường từ nương về bản, bà chủ nhà luôn miệng hú gọi hồn lúa (hmal ngọ) với ý nghĩa: “Nương đã thu hoạch hết, đã đưa thóc lúa về bản, các hồn cũng về nhà thôi. Về để dự hội Mah G rợ”.

Về đến bản, trước khi lên cầu thang của nhà mình, “Mẹ lúa” lại hú hồn lúa lần nữa mới mang củ khoai sọ vùi vào bếp tro lửa nướng chín. Khi khoai chín, chỉ mình “Mẹ lúa” được ăn với quan niệm nếu ai ăn khoai trước sẽ bị đau răng, đau mắt. Tiếp theo, “Mẹ lúa” lấy thịt con sóc, con chuột rừng đã được sấy khô trên gác bếp xuống, rửa sạch rồi bỏ vào nồi nấu.

Trong lúc bà chủ nhà lên nương đem khoai về thì chủ nhà (ông chồng) lấy lạt tre đan Ta leo (phên đan hình mắt cáo có diện tích bằng cái vung nồi) rồi cùng con rể (nếu có) mổ gà chuẩn bị mâm cúng tổ tiên. Khi mổ 3 con gà cho mâm cúng, con gà thứ nhất được cắt mỏ lấy tiết bôi vào hai đầu gối của từng thành viên trong nhà với ý nghĩa: Trong năm, mọi người phải trèo đèo, leo núi làm nương nên đầu gối yếu mềm, nay “sửa lại” cho đầu gối mạnh khỏe, cứng cáp.

Người chủ nhà tiếp tục cắt mỏ con gà sống thứ 2 rồi lấy tiết quyệt vào bồ thóc, rổ khoai, khấn: “Thóc năm nay tốt, sang năm khoai thóc được mùa tốt hơn”. Tiếp tục cắt mỏ con gà thứ 3 đem tiết xuống gầm sàn bôi lên đầu con trâu. Con trâu được phủ miếng vải thổ cẩm, vải trắng lên lưng, đôi sừng trâu được buộc hoa rừng.

Cúng tổ tiên xong, chủ nhà buộc phên “Ta leo” lên chỗ bàn thờ với quan niệm đó là chỗ ở mới của “ma nhà” (tương tự tục thay bát hương bàn thờ tổ tiên trong dịp Tết Nguyên đán của người xuôi).

Tiếp tục phần lễ, ông chủ nhà vê từng viên (4 viên) cơm nếp sôi ở bàn cúng vừa mang xuống, rồi đem dính vào tóc của từng đứa trẻ trong nhà với quan niệm: Hồn đứa trẻ ở trên đầu cũng được ăn cơm mới, không ốm đau, chóng lớn.

Lúc này, bà chủ nhà (Mẹ lúa) cũng trổ tài khoe bông lúa nhà mình trắc hạt với các cụ bà đến dự lễ và cài những cánh hoa rừng lên búi tóc của họ.

Bữa cơm nội gia của chủ nhà ăn xong (không mời khách ăn cùng), bà chủ nhà và những người trong gia đình đem rổ khoai, bí đã đồ chín để ở giữa nhà. Lúc này, cuộc vui bôi khoai, bí chín vào áo của nhau mới bắt đầu. Cả chủ lẫn khách thi nhau nhặt từng miếng khoai, bí ăn một miếng, phần còn lại bôi lên áo ông, bà chủ nhà, rồi bôi vào khách. Ai bôi được nhiều người sẽ được hạnh phúc, gặp nhiều may mắn trong năm (ý nghĩa tương tự như hội té nước của dân tộc Lào, Thái). Sau cuộc bôi bí là cuộc uống rượu cần chum to, lần lượt các cụ ông đến lượt cụ bà, khách quý. Uống rượu cần hết lượt mới bước vào cuộc nhảy múa.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn