Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Đồng Tháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Đồng Tháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

Ẩm thực Đồng Tháp Mười - Nét văn hóa của một vùng đất

Mùa nước nổi về không những mang theo phù sa bồi đắp ruộng đồng mà còn mang về biết bao sản vật để rồi quá trình thích ứng của con người với môi trường thiên nhiên ấy làm nên nét văn hóa đặc thù của vùng đất này: Ẩm thực Đồng Tháp Mười.
Cá lóc nướng trui cuốn lá sen non - món đặc sản của mùa nước nổi

Cá lóc nướng trui cuốn lá sen non - món đặc sản của mùa nước nổi
Được hình thành gắn liền với lịch sử khai mở trong điều kiện thiên nhiên sinh thái Đồng Tháp Mười, ẩm thực nơi đây đậm chất hoang dã, phản ánh sự phong phú về sản vật của vùng sinh thái đặc trưng:
Ai ơi! Về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.
Đầu tiên phải nói đến cá lóc bởi số lượng đáng kể của nó, là loại dùng làm khô, nấu canh chua..., nhất là nướng trui, hương vị càng khó quên khi cuốn với lá sen non, chấm mắm me, làm thấm đượm tinh thần hiếu khách của người dân xứ này:
Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa.
Cá lóc nhiều, nhưng cá linh mới thực sự là món quà của thiên nhiên ban tặng khi con nước đổ về. Cá linh non đầu mùa bằng mút đũa thì hấp, cuốn bánh tráng, lớn hơn thì kho me, làm mắm,... Nước mắm cá linh làm bằng phương pháp thủ công được đánh giá là không thua bất cứ loại nước mắm ngon nào, nhưng có lẽ, cá linh nấu canh chua với bông điên điển để lại nhiều dư vị hơn cả khi cùng với bè bạn thưởng thức trong khung cảnh trời nước mênh mông Đồng Tháp Mười:
Canh chua điển điển cá linh
Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon.
Thảm thực vật với quần thể thay đổi theo môi trường tự nhiên trong từng vùng như hoàng đầu ấn, cỏ năn, cỏ ống, cỏ mồm, cỏ lác, cùng các loài thực vật thủy sinh khác là nơi cư ngụ của các loài động vật có tầm vóc nhỏ và bò sát như chuột, rắn, lươn, rùa,... để làm những món ăn lạ, khoái khẩu:
Cần chi cá lóc, cá trê,
Thịt chuột, thịt rắn, nhậu mê hơn nhiều.
Với nhiều người, thịt chuột không phải là thứ xa lạ, thậm chí như ở Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) còn là quà biếu, món ăn nghi lễ trong đám cưới, và có hẳn một bài thơ của tác giả Trần Văn Ðăng viết vào thời Pháp thuộc, ca tụng món thịt chuột trứ danh tại địa phương:
Bao giờ bạn đến thăm nhà,
Thưởng thức đặc sản đậm đà tình quê
Mùa đông xin đón bạn về
Ăn món thịt chuột hương quê tự hào.
Chuột ở Đồng Tháp Mười được gọi vui là “sóc tràm” (có lẽ do chúng sống bạ trên cây tràm qua mùa nước nổi), ngoài cách chế biến phong phú kiểu Nam bộ như nấu lá lốt, muối sả chiên, xào lá cách, nhân bánh xèo, xé phay, nấu lúc lắc, nấu ngũ vị hương, khìa nước dừa, bỏ lò, kho, rô ti, xào lăn, nướng, quay lu, làm khô,..., ở đây còn nấu chua cơm mẻ. Thực ra đó là món canh chua chuột (của người Khmer), nhưng không nêm mắm prahóc mà chuột được luộc bằng nước mẻ (gia vị vừa ăn), rồi xé chấm muối hoặc nước mắm, húp nước mẻ và kèm với các loại rau mùi.
Hệ sinh thái rừng tràm là điều kiện tụ họp của các loài chim trời - sản vật để người phụ nữ Đồng Tháp Mười thể hiện tình nghĩa vợ chồng:
Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông lý nấu chè hạt sen.
“Không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc”, miễn là không độc, các món ăn từ nguồn thực vật, gọi cho gọn là “rau rừng” như bông điên điển, cà na, hẹ nước, môn nước, rau choại, rau dừa, sen, súng, lục bình, bứa, ba khía, tai tượng, kèo nèo,... thì nhiều vô số kể, ngoài ăn sống, nấu canh chua, nhúng mắm kho,... còn có cách chế biến khác:
Kèo nèo mà lại làm chua,
Ăn với cá rán chẳng thua món nào.
Hay:
Điên điển mà đem muối chua,
Ăn cặp cá nướng đến vua cũng thèm!
Ăn sống chấm muối, làm mứt, nhưng phổ biến nhất là ngâm nước muối, cà na tuy dân dã nhưng làm nên nét hồn quê xứ này:
Mộc Hóa là xứ quê mùa
Đi thăm cháu ngoại một vùa cà na.
Nếu như thuở khai phá “má nuôi em bằng bông súng lúa trời”, nay ở đây có gạo Huyết Rồng ngon nổi tiếng, có nguồn gốc từ lúa hoang.
Sẽ là thiếu sót lớn nếu không nói đến món mắm kho bởi sự thể hiện đầy đủ nhất cái đặc trưng địa phương vừa đậm đà phong cách vùng đất phương Nam khi trong món này có mặt gần như hầu hết sản vật thiên nhiên nơi đây, từ các loại cá, lươn,... kho với mắm cá sặt hoặc mắm cá linh, ăn kèm với các loại rau thiên nhiên như rau đắng, ba khía, kèo nèo, tai tượng, rau choại,... đặc biệt là bông súng và hẹ nước là hai loại không thể thiếu. Vừa bổ, vừa ngon, ít tốn kém lại vừa dễ làm, món mắm kho vì vậy với người dân nơi đây vừa đậm đà tình cảm, vừa phảng phất đôi chút tự hào:
Muốn ăn bông súng, mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm.
“Uống trà kiểu Đồng Tháp Mười”, tức nhâm nhi trà nóng với cá khô là một phong cách ẩm thực khá lạ lẫm, bởi cá khô chỉ đúng điệu khi dùng “đưa cay” cho rượu đế, nhưng đằng này lại “đi” với trà hương vị thanh tao, “bài bản” có vẻ như chọi nhau. Ngon dở tùy khẩu vị nhưng hãy thử một lần có cùng cảm nhận: Nhắm cá khô mằn mặn đậm đà, hớp ngụm nước trà pha lợt lợt theo kiểu miền Nam, bỗng cảm nhận vị nhẫn pha chát nhẹ “đi” tiếp sau vị mặn, hương vị trà thơm át hẳn mùi tanh tanh của cá khô. Cứ như vậy “xô đẩy”, nhấm nháp đồ mặn hoài không thấy khát, uống nhâm nhi mãi mà không thấy nhạt, không bị ngán ngang như ăn kẹo bánh, không thấy “quẹo” lưỡi như trà đậm phong cách miền Bắc. Cứ như thế mà bụng no êm, không cồn cào vì chất trà đặc. Có người nói rằng, phong cách ấy là chút dư vị thời khẩn hoang.
Chuột đồng chiên sả ớt cũng là món đặc sản của mùa nước nổi

Chuột đồng chiên sả ớt cũng là món đặc sản của mùa nước nổi
Chưa hẳn các món ăn ở đây đều ngon với mọi người, nhưng “tình yêu đất nước là sự thương nhớ thèm thuồng món ăn mà cha mẹ cho mình ăn lúc mình còn nhỏ tuổi” (Lâm Ngữ Đường - văn hào Trung Quốc). Có dịp, bạn hãy đến đây để được một lần trải nghiệm nó trong không gian trời nước mênh mông, đậm chất hoang dã của người dân đi mở cõi đất phương Nam. Một vài món ăn mùa nước nổi khó mà nói hết được ẩm thực Đồng Tháp Mười nhưng ít nhiều biểu hiện nét văn hóa của vùng đất này và chắc chắn sẽ góp phần để người dân nơi đây bộc lộ và cộng cảm với mọi miền đất nước.
Nằm trong dòng chảy văn hóa ẩm thực của dân tộc, được hình thành trong điều kiện thiên nhiên sinh thái và gắn liền với lịch sử khai mở vùng đất này, ẩm thực Đồng Tháp Mười với phong cách hoang dã trong từng món ăn, trong cách chế biến, trong cách thưởng thức cho đến không gian ẩm thực phản ánh đậm nét lịch sử khai phá và ứng xử văn hóa giữa con người và thiên nhiên nơi đây, là một nét sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần đặc trưng của địa phương Long An, góp phần hình thành văn hóa đất Nam bộ. Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa này chính là góp phần bảo lưu bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển KT-XH ở địa phương trên con đường hội nhập và phát triển./.
ThS. Nguyễn Tấn Quốc

Mùi Cà Na


By Hannah Nguyễn

Long Thắng xứ sở quê mùa.
Đi thăm cháu nội đem “dùa” cà na

h1
Cà na- Ảnh Hannah Nguyễn

Có một loại cây trong ký ức tuổi thơ không biết có từ bao giờ, nhưng tôi chỉ nghe ông Nội nói là có từ rất lâu rồi, chắc cách đây hơn cả trăm năm gì đó. Nơi xuất hiện đầu tiên của cây cà na là ở Long Thắng, huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp. Lúc đầu người ta chỉ thấy loại cây này mọc theo các mương rạch và mé sông, những nơi có nước, chủ yếu để giữ cho đất không bị sạt lở. Và cũng không ai biết ngoài công dụng giữ đất thì loại cây mọc hoang này nó công dụng gì khác nữa không. Cho tới khi có người phát hiện ra trái của loại cây này có thể ăn được thì cây cà na được nhân giống khắp các tỉnh miền Tây.
Tôi nhớ ngày trước ở quê hầu như nhà ai cũng nghèo; những món ăn vặt với bọn con nít chúng tôi là một điều rất xa xỉ. Món ăn vặt của bọn tôi là những thứ có sẵn mọc ngoài vườn, như trái cơm nguội, ổi dại, trái sắn hay trái cà na… Đó là những món quà tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho bọn tôi.

mua ca na
Hái cà na- nguồn internet

Hồi đó xứ tôi ở chỉ mỗi nhà ông Hai hàng xóm là có cây cà na. Ông mang giống cây về từ quê của bà Hai gái trồng thử xem thế nào, nên ông rất quý giống cây lạ này. Ông chăm chút rất kỹ mặc dù ở xứ khác cây cà na chẳng có giá trị gì cả. Nhưng ở xứ tôi nó là loại cây hiếm nên người ta quý. Bọn trẻ chúng tôi cứ lăm le cây cà na của ông Hai. Một phần vì hiếu kỳ, một phần vì muốn ăn thử xem trái lạ nó ngon đến cỡ nào. Ông Hai bảo bọn tôi, “Đợi khi nào trái ăn được ông Hai sẽ hái cho mỗi đứa vài trái ăn thử”. Nhưng bọn con nít nghịch như quỷ sứ như bọn tôi làm sao có thể chờ đợi được lâu. Chờ ông Hai đi vắng cả đám con nít trong xóm, trong đó có tôi, lên kế hoạch thực hiện phi vụ hái trộm. Mấy đứa con trai thì chịu trách nhiệm leo lên cây, hái càng nhiều càng tốt. Tôi là con gái nên được phân công đứng dưới gốc canh chừng, nếu thấy ông Hai từ xa thì phải thông báo cho mấy đứa đang ở trên cây leo xuống liền. Đứa nào cũng muốn hái cho đầy túi áo, túi quần rồi mới chịu xuống. Nhưng bất thình lình ông Hai xuất hiện làm bọn tôi trở tay không kịp. Mặt tôi tái xanh, còn bọn con trai không kịp leo xuống, chỉ còn có cách phi thẳng xuống sông để thoát thân. Đứa nào chạy về trước thì đến điểm tập kết là nhà tôi. Còn phần tôi vì sợ quá thay vì chạy đi trốn tôi lại đứng im và run cầm cập tỏ vẻ hối lỗi. Phen này ông Hai mà méc thì thế nào tôi cũng bị đòn tét đít. Nhưng trái với suy nghĩ của tôi, ông Hai không la mà sẵn tay lấy lồng hái cho tôi một nắm đem về. Ông nói, “Lần sau có muốn ăn thì nói ông bẻ, chứ mấy đứa leo lên cây lỡ mà bị té thì nguy hiểm lắm”. Ông Hai nhìn mặt khó vậy, nhưng mà dễ thương thiệt.
Bọn con trai chờ tôi trước sân, tụi nó hỏi ríu rít vụ tôi bị ông Hai bắt lại, rồi tra xét xem tôi có khai tụi nó ra không. Tôi bảo tôi không khai, ông Hai không la mà còn cho thêm. Bọn nó tròn xoe mắt nhìn tôi tỏ vẻ nghi ngờ. Đến khi tôi đưa cho bọn nó xem mấy cái trái nhỏ nhỏ màu xanh trên tay thì bọn nó mới tin.
Hào hứng với chiến lợi phẩm thu được, bọn tôi tò mò quan sát kỹ xem cái trái này nó ra làm sao? Trái cà na có hình bầu dục, to bằng ngón tay cái. Trái non có màu xanh; khi chín thì màu vàng nhạt, có vị chua và chát đặc trưng. Lấy một trái cà na chấm muối ớt, cắn vào một miếng đứa nào đứa nấy méo mặt vì cái vị vừa chua vừa chát của nó — cái cảm giác mà con nít tụi tôi ngày đó hay gọi là “do mót”. Kể từ ngày đó chúng tôi không còn hào hứng hái trộm cà na nữa.
Mấy tuần sau khi cà na bắt đầu chín rộ, bà Hai hái trái đem vào chế biến kiểu làm sao đó, rồi kêu tôi tập hợp mấy đứa nhỏ trong xóm lại để bà Hai cho thưởng thức món cà na bà làm. Bọn tôi tới nhưng không đứa nào dám ăn vì nhớ lại cái vị vừa chua vừa chát của nó. Tôi là đứa được bà Hai thương nhất nên bọn con trai bắt tôi thử trước, nếu tôi ăn được thì chắc chắn bọn nó cũng ăn được. Tôi run run lấy một trái cà na cho vào miệng, từ từ thưởng thức. Bọn con trai sốt ruột cứ hỏi, “Sao rồi, sao rồi? Ăn được không? Làm sốt ruột quá.” Chưa đợi tôi trả lời bọn nó giành nhau ăn lấy ăn để, trong vòng tích tắc không còn sót lại trái nào. Không biết bà Hai làm kiểu gì mà nó ngon thiệt. Lớn lên một chút tôi được bà dạy làm món cà na ngâm đường mà bà vẫn thường làm cho bọn con nít chúng tôi ăn mỗi khi tới mùa.
Món cà na không khó làm nhưng cần phải có thời gian. Cà na hái xuống còn tươi, dùng dao rạch khoảng 4, 5 đường xong ngâm nước muối khoảng 30 phút. Sau đó rửa sạch cho vào nồi, đổ ngập nước nấu cho sôi khoảng 15 phút. Xong tắt bếp, đổ cà na ra rửa lại lần nữa. Kế đến là nấu nước đường ngâm cà na; để khoảng vài giờ đồng hồ là có được món cà na ngâm đường hấp dẫn.

Cà na ngâm chua ngọt
Cà na ngâm chua ngọt

Theo dòng thời gian, bà Hai mất trong một lần bị bệnh. Ông Hai buồn nên chặt luôn cây cà na. Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi hướng, không còn thời gian quay quần bên nhau như hồi trước. Cà na bây giờ cũng được trồng nhiều hơn. Ngoài chợ người ta hay chế biến thành nhiều món như cà na ngào đường, cà na ngâm đường, cà na đập dập ướp muối ớt v.v. Nhưng tìm mãi không thể nào có được mùi vị cà na giống như bà Hai làm. Mỗi lần mùa lũ về, tầm khoảng tháng 8 tháng 9 âm lịch, cũng là mùa cà na. Thấy người ta bán cà na ngoài chợ tôi lại nhớ về ký ức tuổi thơ; nhớ ông bà Hai, nhớ cây cà na, và lũ bạn trong xóm.
                                                                   HNSài Gòn VN

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2019

Tô phở khổng lồ và 4 món ngon phải thử khi đến Sa Đéc

Bạn có thể ăn phở vào sáng sớm, hủ tiếu bà Sẩm trong bữa trưa và đổi vị với cơm tấm vào buổi tối.
Phởa
Phở
Quán nhỏ bán phở kết hợp lẩu bò của gia đình Hai Hiển nằm bên sông Mekong, ngay trung tâm Sa Đéc đã tồn tại gần 50 năm. Đây là địa chỉ quen thuộc của người dân địa phương và là nơi bạn nhất định phải ghé khi có dịp đến nơi này.
Điều khiến nhiều thực khách lần đầu đến quán ngạc nhiên là tô phở bưng ra to gần bằng chiếc nồi nhỏ. Nước lèo chan ngập, được nấu hàng giờ với xương ống bò nên có vị ngọt nguyên chất. Bánh phở ở đây là kiểu sợi nhỏ đặc trưng miền Nam, màu trắng hơi trong, dai mềm như bánh ướt, không bở hay chua. Vừa bán phở vừa bán lẩu nên chủ quán dùng một chiếc nồi lớn để nấu nước đủ tiêu thụ cả ngày. Tô phở này có giá 35.000 đồng.
Bánh mì bít tếta
Bánh mì bít tết trong chảo
Tiệm ăn không thương hiệu mà chỉ hiện diện bảng ghi tên các món chính bằng tiếng Pháp "Pâté - Bifteck - Oeuf plat". Địa chỉ này mở cửa từ năm 1993, hiện nay do hai thế hệ đứng bán. Mỗi phần ăn tại đây là một chảo gang đầy đủ thịt bò, pate, trứng ốp la ăn kèm bánh mì. Tiệm không có thực đơn, chỉ có một bảng gồm 6 loại giá tiền cho thực khách lựa chọn.
Thông thường khi ăn bít tết uống kèm rượu vang là đúng chuẩn. Còn quán nhỏ này không dùng vang mua bên ngoài mà tự ủ rượu nho, cho trực tiếp vào thịt. Thực khách có thể để lại một nửa ly rượu để uống. Giá của mỗi suất ăn tùy theo lựa chọn của khách, thấp nhất là 30.000 đồng. Khách muốn thêm chả mất 5.000 đồng.
Video Player is loading.
Hiện tại 0:13
/
Thời lượng 0:32
Đã tải: 0%
Tiến trình: 0%
Món bò rưới rượu nho trong quán trên đường Trần Hưng Đạo. Video: Di Vỹ.
Hủ tiếu bà Sẩma
Hủ tiếu bà Sẩm
Đây là thương hiệu hủ tiếu trứ danh Đồng Tháp mà bất kỳ du khách nào cũng phải thử qua. Quán ăn trên đường Trần Hưng Đạo, mở cửa đón khách từ năm 1968. Suốt mấy chục năm, quán vẫn giữ mức giá bình dân, lấy chất lượng làm chủ đạo. Mỗi tô hủ tiếu chỉ có giá 7.000 đồng. Bạn có thể gọi suất đặc biệt giá 10.000 đồng hoặc phần ăn theo giá tùy thích. Nếu lần đầu thưởng thức, bạn đừng quên gọi thêm chén khô mực giá 5.000 đồng.
Bò viên và thịt heo luộc là thành phần chính của món ăn. Mỗi ngày, gia đình thức dậy từ 4h sáng để chuẩn bị đồ và nấu nướng rồi mở cửa đón khách từ 6h.
Hủ tiếu mì gốc Hoaa
Hủ tiếu mì gốc Hoa
Đối diện chợ Sa Đéc trên đường Âu Cơ là quán ăn của một gia đình người Hoa, nổi tiếng với món hủ tiếu mì thơm ngon. Nước dùng nấu từ xương nên có vị thanh ngọt. Các nguyên liệu như tôm, mực luôn được đảm bảo độ tươi. Bạn cũng có thể đổi vị với món hoành thánh. Nhờ kinh nghiệm lâu năm của chủ quán, công thức của phần nhân hoành thánh có vị đậm đà, vỏ bên ngoài không bị nhão. Mỗi phần ăn tại đây có giá trung bình 30.000 đồng. Quán thường đông khách vào sáng sớm.
Cơm tấm đêma
Cơm tấm đêm
Trên đường Nguyễn Sinh Sắc, gần trường Võ Thị Sáu là quán cơm tấm không tên chỉ bán vào buổi tối. Nổi bật tại địa chỉ này là những miếng thịt sườn luôn được nướng trực tiếp ngay tại chỗ khi có khách gọi. Nhờ vậy mà dù chỉ đi ngang qua, bạn sẽ bị mùi thơm thu hút. Sự thành công trong hương vị của cơm tấm còn nhờ vào độ ngon của chén nước mắm. Nước mắm ở đây có vị chua ngọt hòa quyện, sền sệt đúng kiểu miền Tây. Mỗi suất ăn có giá từ 25.000 đồng. Quán mở cửa đến hơn nửa đêm thì nghỉ.
Di Vỹ

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

Mùi Cà Na

Long Thắng xứ sở quê mùa.Đi thăm cháu nội đem “dùa” cà na
h1Cà na- Ảnh Hannah Nguyễn
Có một loại cây trong ký ức tuổi thơ không biết có từ bao giờ, nhưng tôi chỉ nghe ông Nội nói là có từ rất lâu rồi, chắc cách đây hơn cả trăm năm gì đó. Nơi xuất hiện đầu tiên của cây cà na là ở Long Thắng, huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp. Lúc đầu người ta chỉ thấy loại cây này mọc theo các mương rạch và mé sông, những nơi có nước, chủ yếu để giữ cho đất không bị sạt lở. Và cũng không ai biết ngoài công dụng giữ đất thì loại cây mọc hoang này nó công dụng gì khác nữa không. Cho tới khi có người phát hiện ra trái của loại cây này có thể ăn được thì cây cà na được nhân giống khắp các tỉnh miền Tây.
Tôi nhớ ngày trước ở quê hầu như nhà ai cũng nghèo; những món ăn vặt với bọn con nít chúng tôi là một điều rất xa xỉ. Món ăn vặt của bọn tôi là những thứ có sẵn mọc ngoài vườn, như trái cơm nguội, ổi dại, trái sắn hay trái cà na… Đó là những món quà tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho bọn tôi.
mua ca naHái cà na- nguồn internet
Hồi đó xứ tôi ở chỉ mỗi nhà ông Hai hàng xóm là có cây cà na. Ông mang giống cây về từ quê của bà Hai gái trồng thử xem thế nào, nên ông rất quý giống cây lạ này. Ông chăm chút rất kỹ mặc dù ở xứ khác cây cà na chẳng có giá trị gì cả. Nhưng ở xứ tôi nó là loại cây hiếm nên người ta quý. Bọn trẻ chúng tôi cứ lăm le cây cà na của ông Hai. Một phần vì hiếu kỳ, một phần vì muốn ăn thử xem trái lạ nó ngon đến cỡ nào. Ông Hai bảo bọn tôi, “Đợi khi nào trái ăn được ông Hai sẽ hái cho mỗi đứa vài trái ăn thử”. Nhưng bọn con nít nghịch như quỷ sứ như bọn tôi làm sao có thể chờ đợi được lâu. Chờ ông Hai đi vắng cả đám con nít trong xóm, trong đó có tôi, lên kế hoạch thực hiện phi vụ hái trộm. Mấy đứa con trai thì chịu trách nhiệm leo lên cây, hái càng nhiều càng tốt. Tôi là con gái nên được phân công đứng dưới gốc canh chừng, nếu thấy ông Hai từ xa thì phải thông báo cho mấy đứa đang ở trên cây leo xuống liền. Đứa nào cũng muốn hái cho đầy túi áo, túi quần rồi mới chịu xuống. Nhưng bất thình lình ông Hai xuất hiện làm bọn tôi trở tay không kịp. Mặt tôi tái xanh, còn bọn con trai không kịp leo xuống, chỉ còn có cách phi thẳng xuống sông để thoát thân. Đứa nào chạy về trước thì đến điểm tập kết là nhà tôi. Còn phần tôi vì sợ quá thay vì chạy đi trốn tôi lại đứng im và run cầm cập tỏ vẻ hối lỗi. Phen này ông Hai mà méc thì thế nào tôi cũng bị đòn tét đít. Nhưng trái với suy nghĩ của tôi, ông Hai không la mà sẵn tay lấy lồng hái cho tôi một nắm đem về. Ông nói, “Lần sau có muốn ăn thì nói ông bẻ, chứ mấy đứa leo lên cây lỡ mà bị té thì nguy hiểm lắm”. Ông Hai nhìn mặt khó vậy, nhưng mà dễ thương thiệt.
Bọn con trai chờ tôi trước sân, tụi nó hỏi ríu rít vụ tôi bị ông Hai bắt lại, rồi tra xét xem tôi có khai tụi nó ra không. Tôi bảo tôi không khai, ông Hai không la mà còn cho thêm. Bọn nó tròn xoe mắt nhìn tôi tỏ vẻ nghi ngờ. Đến khi tôi đưa cho bọn nó xem mấy cái trái nhỏ nhỏ màu xanh trên tay thì bọn nó mới tin.
Hào hứng với chiến lợi phẩm thu được, bọn tôi tò mò quan sát kỹ xem cái trái này nó ra làm sao? Trái cà na có hình bầu dục, to bằng ngón tay cái. Trái non có màu xanh; khi chín thì màu vàng nhạt, có vị chua và chát đặc trưng. Lấy một trái cà na chấm muối ớt, cắn vào một miếng đứa nào đứa nấy méo mặt vì cái vị vừa chua vừa chát của nó — cái cảm giác mà con nít tụi tôi ngày đó hay gọi là “do mót”. Kể từ ngày đó chúng tôi không còn hào hứng hái trộm cà na nữa.
Mấy tuần sau khi cà na bắt đầu chín rộ, bà Hai hái trái đem vào chế biến kiểu làm sao đó, rồi kêu tôi tập hợp mấy đứa nhỏ trong xóm lại để bà Hai cho thưởng thức món cà na bà làm. Bọn tôi tới nhưng không đứa nào dám ăn vì nhớ lại cái vị vừa chua vừa chát của nó. Tôi là đứa được bà Hai thương nhất nên bọn con trai bắt tôi thử trước, nếu tôi ăn được thì chắc chắn bọn nó cũng ăn được. Tôi run run lấy một trái cà na cho vào miệng, từ từ thưởng thức. Bọn con trai sốt ruột cứ hỏi, “Sao rồi, sao rồi? Ăn được không? Làm sốt ruột quá.” Chưa đợi tôi trả lời bọn nó giành nhau ăn lấy ăn để, trong vòng tích tắc không còn sót lại trái nào. Không biết bà Hai làm kiểu gì mà nó ngon thiệt. Lớn lên một chút tôi được bà dạy làm món cà na ngâm đường mà bà vẫn thường làm cho bọn con nít chúng tôi ăn mỗi khi tới mùa.
Món cà na không khó làm nhưng cần phải có thời gian. Cà na hái xuống còn tươi, dùng dao rạch khoảng 4, 5 đường xong ngâm nước muối khoảng 30 phút. Sau đó rửa sạch cho vào nồi, đổ ngập nước nấu cho sôi khoảng 15 phút. Xong tắt bếp, đổ cà na ra rửa lại lần nữa. Kế đến là nấu nước đường ngâm cà na; để khoảng vài giờ đồng hồ là có được món cà na ngâm đường hấp dẫn.
Cà na ngâm chua ngọtCà na ngâm chua ngọt
Theo dòng thời gian, bà Hai mất trong một lần bị bệnh. Ông Hai buồn nên chặt luôn cây cà na. Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi hướng, không còn thời gian quay quần bên nhau như hồi trước. Cà na bây giờ cũng được trồng nhiều hơn. Ngoài chợ người ta hay chế biến thành nhiều món như cà na ngào đường, cà na ngâm đường, cà na đập dập ướp muối ớt v.v. Nhưng tìm mãi không thể nào có được mùi vị cà na giống như bà Hai làm. Mỗi lần mùa lũ về, tầm khoảng tháng 8 tháng 9 âm lịch, cũng là mùa cà na. Thấy người ta bán cà na ngoài chợ tôi lại nhớ về ký ức tuổi thơ; nhớ ông bà Hai, nhớ cây cà na, và lũ bạn trong xóm.
                                                                   HNSài Gòn VN

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

Thương chồng nấu cháo le le

Le le hay còn gọi là vịt trời thường sống ở những đồng cỏ hoang vu, nơi có nhiều lung bàu, nhất là ở Đồng Tháp và vùng tứ giác Long Xuyên. Thịt le le được cho là thơm ngon hơn hẳn vịt nuôi. Le le thường sống thành đàn, khi bay có đội hình chứ ít khi loạn xạ. Con trống trưởng thành có một vòng lông xanh lục quanh cổ rất đẹp, lông cánh, lông ức cũng như con mái, có màu cà phê sữa, nhưng nhìn kỹ thì màu lông con mái nhạt hơn con trống. Những con le le lớn nhất nặng chưa đầy nửa 0,5kg, thịt ngon và ngọt hơn vịt nuôi.
Le le trên đồng nước Tháp Mười
Cách làm le le cũng giống như làm vịt, chặt thịt thành từng miếng, cánh, giò có thể bằm nhuyễn. Thông dụng nhất là món cháo le le. Ướp thịt cho thấm các gia vị: tiêu, hành, tỏi, ớt, nước mắm, bột nêm và chút rượu xong phi tỏi mỡ xào chín; đậy kín nắp để lửa liu riu, đợi khi thịt mềm thì nêm nếm vừa ăn. Gắp thịt le le ra, cho thêm nước vào nấu cháo với gạo lúa mùa cùng ít đậu xanh cà vỏ cho sạch. Cháo nhừ nêm nếm lại vừa ăn rồi múc ra tô, thêm gừng xắt chỉ, tiêu xay… Cháo ăn kèm với gỏi bắp cải, chuối ghém xắt, bên trên rải thịt le le, đậu phộng đâm, vài lát ớt và rau răm. Thịt le le chấm nước mắm chanh, đường và không thể thiếu gừng tỏi bằm nhuyễn. Cháo le le được cho là bồi dưỡng cơ thể rất tốt, lại tăng cường “khả năng phòng the” cho quý ông nữa, nên dân gian mới có câu ca dao: Thương chồng nấu cháo le le/ Nấu canh bông lý, nấu chè hạt sen.
Cháo và gỏi le le
Le le xào bầu
Nhiều người khoái món thịt le le xào bầu. Bầu tươi, không quá non cũng không quá già, xắt miếng chừng lóng tay, xào chung với thịt le le đã hầm chín mềm như cách nấu cháo kể trên. Thịt le le còn được xào với năng tươi, chất lượng cũng không hề thua kém xào với bầu. Le le xào bầu, xào năng được coi là món chính trong bữa cơm của nhiều gia đình nông dân ở vùng Đồng Tháp Mười hoang sơ. Chỉ cần thưởng thức một lần thôi cũng sẽ nhớ mãi món ăn vừa dân dã mà ngon miệng này.
Le le xào năng
Le le khìa nước dừa
Còn một cách chế biến nữa là le le khìa với nước dừa xiêm. Dọn món này ra, chỉ nhìn những miếng thịt le le chín vàng ươm bên cạnh dĩa rau rừng đã thấy đời sao mà đáng sống! Nhâm nhi món ngon dân dã cùng bạn bè bên chung rượu đế cay nồng mà nghe thấm thía câu ca: Le le khìa nước dừa xiêm/ Mời nhau chén rượu vơi niềm nhớ quê.
Thạch Ba Xuyên

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2019

Bén duyên khô “má con lóc”

Ăn thịt cá đồng mà ngỡ như đang nếm đùi ếch, chỉ có thể là khô gò má cá lóc hoàn nguyên.
    Bản hòa ca khô ngộ miền Nam cứ ngân nga, rộ nở mãi và gần như chưa có hồi kết. Nhất là, dịp rót rượu mừng xuân. Kỳ này, xin nói về hàng nuôi có kế hoạch hẳn hoi: dĩa khô gò má cá lóc.
    Bén mồi với “má cũ”
    Phải công nhận rằng, những phần ngon nhất nơi con cá lóc nuôi gồm: bộ lòng giòn giòn béo ngậy với đôi gò má trắng tươi, đầy đặn.
    Má đầu cá lóc nuôi thường nặng nợ với các món bún/lẩu mắm, trong Nam, ảnh: Tạ Tri.
    Thế nên, không ít chủ quán bán bún mắm, bún cá Châu Đốc, bún mắm Campuchia ở TP.HCM, cẩn trọng chưng những cái đầu con lóc bông to hơn cả bắp tay người lớn (đã luộc chín) vào tủ hàng, như một kiểu gọi mời trung thực, nhằm níu kéo bao ánh nhìn của dân sành điệu.
    Thường, những điểm bán uy tín nhóm hàng bún mắm - bún cá lóc ở Sài Gòn, luôn có mối riêng, cung cấp nguồn đầu cá lóc. “Phải chọn lứa lóc nuôi bè hoặc nuôi quảng canh, mới không bị hôi mốc (hôi rong)”, anh Võ Văn Quân, chủ một vựa cá đồng ở chợ đầu mối Bình Điền, TP.HCM chia sẻ.
    Tuy vậy, người nấu các món bún mắm vừa kể, vẫn phải nhờ sự trợ duyên của ít nước cốt ngải bún với làn hương diễm tuyệt của mấy con mắm cá sặc hoặc mắm bù-hóc (làm từ nhóm cá nước ngọt xứ Chùa Tháp), nhằm nâng mùi vị thực phẩm thêm mượt mà hơn.
     Chẳng hạn, quán bún cá Châu Đốc vỉa hè, ở góc đường Võ Thị Sáu - Hai Bà Trưng, quận 3, TP.HCM, mỗi ngày bán không dưới vài trăm tô, theo lời kể của các nhân nhiên phụ bán ở đây. (Giá một bộ đầu lòng cá lóc cỡ lớn  tại đây khoảng 60.000 đồng/bộ).
    Thế nhưng, lối chế biến kiểu này đã “xưa rồi Diễm” so với hàng chuyên… má, dĩ nhiên là của đám lóc lười săn mồi rồi.
    Khô gò má cá lóc phơi 3 nắng, ở Đồng Tháp, ảnh: Thu Tháp Mười.
    Rạo rực - “má dãi dầu”!
    Có lần về miền gái đẹp Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, được người bạn hướng dẫn viên du lịch giới thiệu một cơ sở chuyên chế biến các mặt hàng cá khô lạ: khô rắn, khô cá linh nái…  Trong đó, gây tò mò nhất với người viết là hàng khô  “má cá lóc”, phơi  3 nắng.
    Chị Nguyễn Thị Thu, ở khóm 1 thị trấn Mỹ An huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp đang làm mặt hàng này cho biết, chọn gò má của những con lóc đen, nặng từ 700g/con trở lên. Bởi vì, “tụi” lóc đen ngọt thịt hơn đám lóc môi trề, lóc bông. (https://www.facebook.com/thu.mguyen.98).
    Nguyên liệu tươi, sau khi được xả tanh kỹ lưỡng sẽ được ướp hỗn hợp gia vị gồm: muối, ớt với tiêu giã và rất ít bột ngọt. Sau đó, mang phơi 3 nắng gắt. Tốn 3 ký hàng tươi mới cho ra 1 ký thành phẩm. Giá sỉ: 300.000 đồng/kg. Hỏi, có bao nhiêu cái “má con lóc”/kg. Thu lắc đầu chịu thua, nói: “Đếm không xuể luôn!”
    Tối đó, chúng tôi hí hửng nếm thử món mới. Vội đem chiên vừa vàng, lửa riu riu.
    Từng sớ thịt cá khô chắc dẻo, ngọt dịu thật hấp dẫn.
    Nhón đũa gắp nhúm bông điên điển muối xổi, "câu" thêm chiếc má con lóc... nuông chiều, đón ly rượu sen hồng. Người gật gù, kẻ rung đùi như thay lời muốn nói.
    Song, do eo hẹp thời gian nên khâu xả đông bị rút ngắn còn khoảng 15 phút thay gì từ 25 - 30 phút, nên miếng thịt cá còn hơi cứng.
    Theo một số bà nội trợ sành ăn món này ở xứ sen, sơ chế đúng điệu như sau: có thể mang chần sơ nguyên liệu qua nước sôi (sau khi xả đông) hoặc mang hấp cách thủy cỡ 10 phút, để khối thịt gò má cá hoàn nguyên lại thành dạng tươi.
    Rồi tùy vào độ huyền biến của các bà nội trợ hoặc đầu bếp tận tâm, sẽ phối nên nhiều món ngon dân dã lạ miệng đến quên thôi. Ví như: trộn gỏi, kho tàu, kho tiêu…
    Ngon lạ, gỏi khô gò má cá lóc, ảnh: Thu Tháp Mười.
    Và chợt thấy cả một trời thương, với những ai từng nuôi nấng ký ức đồng quê.
    Khi ấy, thịt cá mềm dẻo, ngọt dịu tựa thịt đùi ếch nái…nuôi hơn là thịt cá lóc.
    Riêng món kho tàu độn “má con lóc”, hao cơm/tốn bún phải biết! Nhờ uống thêm tư vị ngọt thanh của nước dừa đồng thời hấp thụ ít nhiều chất béo của mỡ heo, nên những cái má… lúm đồng tiền của con lóc thêm nẩy nở và tròn vị hơn.
    Lại nhớ lời má thủ thỉ dạy bảo mấy chị, lúc sắp “trổ mã” (ra dáng) con gái: "Trời sinh, con cá lóc (nái) có hai cái má lúm đồng tiền để làm duyên mà thôi. Con gái con đứa, nếu tranh ăn sẽ mất hết duyên nghe chưa! Nên, nhường phần thơm thảo đó, cho người già, trẻ em. Nghe chưa!"
    Càng hao cơm, tốn bún với món kho tàu, ảnh: Thu Tháp Mười.
    Nay, hàng nuôi ê hề, người ăn khỏi lo sợ mất duyên nữa rồi.
    Còn chị bạn trong nhóm mê món lạ, mới trông hình mấy món ngộ vừa nêu, đã  liếc xéo sắc lẻm. Chị mắng… yêu: “Đồ này, ăn một mình tội lỗi ngập đầu nghe chưa!”
    Bài: Tạ Tri