Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Phú Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Phú Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2019

Nét đẹp văn hóa ẩm thực người Mường Khả Cửu – Phú Thọ

Khả Cửu là một xã vùng cao của huyện miền núi Thanh Sơn với 1.108 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó đồng bào Mường chiếm 86%. Phát huy lợi thế từ thiên nhiên, cùng với đôi bàn tay khéo léo, bản chất cần cù, họ đã đúc kết, lưu giữa được vốn văn hóa ẩm thực phong phú. Với những món ăn đơn giản, dân dã mang hương vị của núi rừng nhưng vô cùng độc đáo và hấp dẫn, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, thu hút thực khách thập phương đến thưởng thức, khám phá.
Nếu có dịp được tham dự những sự kiện văn hóa tại xã Khả Cửu, thực khách sẽ được tận mắt trông thấy các món ăn, đồ uống do chính tay đồng bào Mường tạo nên, điều đặc biệt trong các loại đồ ăn thức uống là đều được chế biến từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, do đồng bào tự trồng, tự chăm sóc hay thu hái, đánh bắt được như: củ nâu, rau rừng, măng rừng, cá suối, lá tạo màu ngũ sắc… Nhờ đó, các món ăn vừa tươi ngon, sạch, đảm bảo an toàn. Để có được nguyên liệu chế biến các món ăn đúng hương vị, người Mường phải vào rừng để hái rau, bẻ măng, xuống suối để kiếm cá, tận tay chọn lựa và sơ chế.
Sau khi có đủ nguyên liệu cần thiết, đồng bào đem về chế biến thành các món ăn ưa thích, hợp khẩu vị. Người Mường nơi đây thường rất ưa thích món ít dầu mỡ như: nướng, luộc, đồ, nộm, lên men. Vì vậy đồng bào tạo ra các món ăn: Thịt nộm nâu, cá gỏi, thịt gà nấu măng chua, cá suối nướng, giấm mẻ nấu cá, rau rừng đồ, hoa chuối nộm lạc, rau dớn nộm vừng, xôi ngũ sắc, cơm lam, rau sắn chua nấu ốc, thịt chua ống nứa (thịt lợn lên men)… Hay các loại bánh: Bánh vọt (bánh sừng bò), bánh nẳng, bánh ống… Riêng loại bánh sừng bò không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn là lễ vật không thể thiếu trong lễ hỏi, lễ cưới của đồng bào dân tộc Mường Khả Cửu, bánh sừng bò khác với các loại bánh khác là không trộn gia vị và không có nhân ở bên trong, thể hiện sự trong trắng, tinh khôi của người con gái.

Ấn tượng nhất phải kể đến món cá suối nướng của đồng bào Mường nơi đây. Để làm được món cá suối nướng thơm ngon, bà con phải chọn loại cá suối tươi, mình chắc. Cá được rửa sạch, không mổ đường bụng mà phải mổ sống lưng, bỏ mật, ướp gia vị và nhồi vào trong bụng cá các loại rau thơm rừng, sả, ớt... rồi dùng thanh tre tươi kẹp chặt và hơ nướng trên than củi. Khi đem nướng, người nướng phải rất cẩn thận cho cá chín dần, chín đều; cá chuyển dần từ màu trắng sang vàng và có mùi thơm là cá đã chín. Miếng cá nướng vàng rộm, thơm lừng ăn cùng với xôi nếp dẻo tạo thành hương vị béo ngậy, bùi bùi khó quên.

Một món ăn cũng hết sức độc đáo là món rau rừng đồ, từ những loại rau rừng bình dị, gần gũi trong vườn nhà, trên vách núi, đồng bào đã chế biến nên món rau rừng hết sức hấp dẫn, món rau rừng đồ được tạo thành từ nhiều loại rau khác nhau, thông thường, đồng bào sẽ hái các loại rau quanh nhà như: Rau lang, rau bí, rau dền cơm, rau ngải cứu, lá tía tô, lá lốt, cà rừng (loại cà quả nhỏ như cà pháo nhưng có gai), hoa chuối rừng, rau cải đồng… và không thể thiếu được trong món rau đồ đó là ngọn và lá đu đủ bánh tẻ cùng những chùm hoa đu đủ đực. Chúng được cho vào để tạo ra vị đắng cho các món ăn. Điều đặc biệt hơn, trong các loại rau rừng đồng bào đem đồ còn tạo thành những vị thuốc vì vị đắng, chát vốn mang tính nóng có tác dụng rất tốt trong phòng chống cảm cúm, chống các loại gió độc, tăng sức đề kháng cho cơ thể.
Nét rất riêng là đồng bào Mường Khả Cửu rất chú trọng đến các loại gia vị. Họ cho rằng, món ăn có ngon và đậm đà hay không phần nhiều nhờ vào sự kết hợp của các gia vị. Vì thế, khi chế biến món ăn, sự chuẩn bị về gia vị của người Mường khá cầu kỳ. Các gia vị thường dùng như: Hạt xẻng, hạt dổi, củ nâu, mẻ (cơm nguội lên men), dấm dọc (làm từ quả dọc),… Trước khi chế biến, các loại thức ăn đều được tẩm ướp trước cho ngấm rồi mới đem đun nấu. Tất cả các món ăn đủ xôi, thịt, cá, rau… được trình bày trên mâm cỗ lá rất đẹp mắt. Đồng bào dùng mẹt tre, hay mâm gỗ rồi đặt lên vài mảnh lá chuối tươi để xếp đồ ăn lên. Mâm cỗ hài hòa đủ hương vị tạo nên sự hấp dẫn, dân dã và bình dị, kích thích thị giác của mọi thực khách.

Những món ăn thuần khiết trong văn hóa ẩm thực được đồng bào người Mường gìn giữ, sáng tạo không chỉ để phục vụ cuộc sống thường ngày mà còn dùng trong những dịp gia đình đón tiếp khách quý phương xa. Tuy bình dị nhưng trong đó chứa đựng tấm lòng hiếu khách, luôn rộng mở chào đón du khách thập phương đến với mảnh đất vùng cao xa xôi mà thương mến này./.

Nguồn: baophutho.vn

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

3 mâm cỗ cúng Tết của người Dao Quần ở Phú Thọ

VHO- Mâm cỗ cúng Tết của người Dao Quần ở xóm Minh Nga, xã Thạch Kiệt, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có nhiều nét độc đáo, lạ lùng mà không phải nơi đâu cũng có. Đó là trên ban thờ không cúng hoa quả, dùng đến 3 mâm cỗ để cúng với 1 mâm là thủ lợn, 2 mâm còn lại là thịt gà, thịt vịt…
3 mam co cung tet cua nguoi dao quan o phu tho hinh anh 1
Anh Triệu Tài Huy, một người Dao Quần ở xóm Minh Nga, xã Thạch Kiệt đang chuẩn bị mâm cúng ngày tất niên.
Cũng như bao dân tộc và địa phương khác, những ngày này, con cháu trong gia đình đều tề tựu đầy đủ ở nhà để dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị đón Tết. Với người Dao Quần ở xóm Minh Nga, xã Thạch Kiệt cũng vậy, dù có đi bất cứ đâu, nhưng mỗi khi Tết đến xuân về, người dân dù ở nơi đâu cũng trở về địa phương để đón Tết cùng gia đình.
“Bao giờ cũng vậy, ngay từ đầu tháng 12 (Âm lịch), hầu hết người Dao ở Thạch Kiệt dù ở nơi đâu cũng cố gắng về nhà để dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị lương thực, thực phẩm để chuẩn bị làm lễ “Năm cùng” nhằm báo ơn, báo công với tổ tiên, cũng như cầu mong năm mơi được bình an, khỏe mạnh…”, anh Triệu Tài Huy, xóm Minh Nga, Thạch Kiệt chia sẻ.
3 mam co cung tet cua nguoi dao quan o phu tho hinh anh 2
Mâm cúng của người Dao Quần không thể thiếu thủ lợn.
Cũng theo anh Huy, trong mâm cỗ cúng ngày Tết của người Dao Quần ở Thạch Kiệt không hề có hoa quả như những dân tộc khác nhưng có 3 thứ không thể thiếu đó là thủ lợn, gà và bánh dày.
“Với người Dao Quần ở Minh Nga, dù giàu hay nghèo, nhưng cứ Tết đến là mổ lợn. Sở dĩ phải mổ lợn là bởi, trong mâm cỗ cúng Tết của người Dao nơi đây buộc phải có thủ lợn để báo cáo tổ tiên cũng như “thần trời, thần đất” đã mang đến ấm no, hạnh phúc trong năm vừa qua cho gia đình”, anh Huy cho biết thêm.
Với người Dao Quần ở Minh Nga, ban thờ cúng được chia làm 3 mâm với những đồ cúng khác nhau. Đầu tiên là thủ lợn trình báo với tổ tiên và “thần trời, thần đất”, mâm thứ 2 và thứ 3 là thịt gà, thịt vịt, bánh dày…
3 mam co cung tet cua nguoi dao quan o phu tho hinh anh 3
Ngoài thủ lợn, gà, vịt, bánh dày, mâm cúng của người Dao Quần còn có tiền giấy.
Ngoài những vật phẩm trên, mâm cúng của người Dao Quần ở Minh Nga còn buộc phải có 5 chén rượu, hai bát chân hương, một bát nước tượng trưng cho cho nước thiêng tổ tiên dùng để sinh hoạt và tiền giấy được đóng dấu hình tròn do thầy cúng có chức sắc trong bản làm.
3 mam co cung tet cua nguoi dao quan o phu tho hinh anh 4
Tiền giấy được thầy cúng đóng dấu với mong muốn gia chủ có một năm mới làm ăn phát đạt.
3 mam co cung tet cua nguoi dao quan o phu tho hinh anh 5
Từ ngày mùng 1 đến ngày rằm người Dao Quần không cúng bất kỳ lễ vật nào, chỉ rót 5 chén nước chè và 1 chén nước lã dâng lên bàn thờ hai lần mỗi ngày…
Trong đêm 30 Tết, lễ vật thắp hương của các gia đình người Dao Quần ở đây chỉ là một con gà luộc và 6 chén nước. Từ ngày mùng 1 đến ngày Rằm người Dao Quần không cúng bất kì lễ vật nào, chỉ rót 5 chén nước chè và 1 chén nước lã dâng lên bàn thờ hai lần mỗi ngày.
Theo Dân Việt

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

Gà cựa Phú Thọ - ẩm thực đặc trưng của vùng đất cội nguồn

Như một nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của người Việt, các món ăn chế biến từ gà luôn xuất hiện trong mọi mâm cỗ hay đơn giản trong các bữa cơm gia đình. Ngỡ tưởng gà chín cựa chỉ có trong truyền thuyết, là một trong những sính lễ của Sơn Tinh đem hỏi cưới công chúa Mỵ Nương, cùng với voi chín ngà, ngựa chín hồng mao. Nhưng ở Phú Thọ có một nhà hàng đặc sản gà cựa mà bất cứ du khách nào khi đến đây đều muốn ghé qua thưởng thức.   
Không phải ngẫu nhiên mà gà cựa nằm trong danh sách những giống gà ngon nhất trong thế giới ẩm thực, bởi gà cựa nhiều thịt nâu, dai, giòn, thơm có vị ngọt thanh. Thêm một chút lá chanh thái mỏng không chỉ làm dậy mùi thơm của thịt mà còn tô điểm cho món ăn thêm phần bắt mắt. Thịt gà cựa chỉ cần chế biến theo cách thông thường thôi cũng đủ để cảm nhận được sự khác biệt đến ngỡ ngàng trong hương vị; thơm ngon, quyến rũ và cũng khiến thực khách tốn thời gian chờ đợi nhất có lẽ là món gà nướng, muốn có món gà nướng thơm ngon đúng điệu thì còn phải có cả bề dày kinh nghiệm cùng bí quyết riêng của đầu bếp nhà hàng. Dù được chủ quán hướng dẫn cặn kẽ cách chế biến, nhưng làm kiểu gì cũng không ngon bằng như khi thưởng thức ở ngay tại nhà hàng.

Bên cạnh những hương vị gà truyền thống thì có rất nhiều những nét biến tấu mới mẻ đầy sáng tạo từ gà: gà nướng, gà hấp lá sen, gà rang muối, gà xào lăn… mỗi món một hương vị riêng biệt, nhưng món gà hấp trong lá sen tươi của nhà hàng luôn được các thực khách đặc biệt ưa thích. Chưa cần thử, chỉ cần nghe các loại gia vị hòa quyện với gà, đã cảm thấy khó cưỡng. Không đủ kiên nhẫn chần chừ thử một miếng gà cựa nướng, nhấp ngụm bia hoặc rượu nếp thơm lừng. Trong tiết xuân dìu dịu, bạn bè quây quần cùng cụm ly rượu quê, cảm nhận vị thơm của lá chanh, vị ngọt dai của gà, thì có lẽ không còn gì để nói…    

Nếu nói những món gà cựa tạo nên nét đặc trưng trong phong cách ẩm thực của nhà hàng thì thủy sản của nhà hàng Xuân Thuyết cũng góp phần vào nét đặc biệt trong ẩm thực Đất Tổ, đó là cá sông nhúng mẻ, khi cá chín dậy mùi thơm của thịt, của mẻ, mùi thơm đặc trưng cùng với nước dùng trên bếp, sau đó bày lên đĩa ăn kèm với rau sống chấm thêm chút mắm đủ vị của tỏi, chanh, ớt. Nếu bạn đã vô tình đi qua Phố Đoàn Kết, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì hẳn sẽ chẳng thể nào đi qua mà không quên ghé qua thưởng thức các món ăn và không gian mát mẻ ngay khi vừa bước chân vào cửa nhà hàng gà cựa Xuân Thuyết./. 

Nguồn: baophutho.vn

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

Nồng nàn rượu hoẵng đón Xuân của người Mường vùng cao Phú Thọ

Mỗi khi Tết đến Xuân về, trên khắp các bản Mường, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, đồng bào lại cùng nhau quây quần bên bếp lửa, thưởng thức chén rượu hoẵng nồng ấm hương vị của núi rừng trong không khí rộn ràng chào đón Năm mới. Với người Mường ở Thanh Sơn, Tết mà không có rượu hoẵng thì không gọi là Tết. 

Sắc Xuân trên bản làng người Mường. (Ảnh: Thanh Hà/TTXVN)
Nói về ẩm thực người Mường vùng cao Thanh Sơn, người ta thường nhắc đến măng chua, thịt chua, cỗ lá, xôi ngũ sắc. Nhưng ít ai biết được rằng, để những món ăn ấy thêm đậm đà thì phải có rượu hoẵng uống cùng. 
Rượu hoẵng không biết có từ bao giờ nhưng trải qua bao năm tháng, người Mường ở Thanh Sơn vẫn giữ được bí quyết tạo nên hương vị rất riêng, rất hấp dẫn chỉ nơi đây mới có. 
Chị Đinh Thị Thực, dân tộc Mường, ở xóm Chúa, xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, người vẫn còn lưu giữ được cách nấu rượu truyền thống cho biết để có được rượu hoẵng thơm ngon phải trải qua rất nhiều công đoạn và mất khá nhiều thời gian, công sức. 
Muốn tạo hương vị đặc trưng của rượu hoẵng, người nấu rượu phải đi vào tận rừng sâu hái những loại lá cây phù hợp để làm men. Mỗi quả men là sự hòa quyện của nhiều loại lá rừng, củ rừng như cỏ rịch, cỏ nghén, gừng, ớt, lá trầu không và một ít bồ hóng.
Lá cây rừng sẽ được rửa sạch phơi khô, băm nhỏ, giã thật nát đem trộn với bột gạo, sau đó nặn thành từng quả men nhỏ, phía dưới lót rơm và phủ một lớp bên trên cho kín rồi đem treo gác bếp cho khô; thời gian thành men là khoảng 6-8 đêm (mùa Hè), khoảng 10 đêm (mùa Đông). 
Khi đã làm được men, người dân sẽ chọn gạo nấu cơm rượu và ủ men rượu. Loại gạo được chọn nấu rượu phải là loại gạo thơm ngon hoặc gạo nếp nương và gạo chỉ xay cho hết vỏ trấu. 

Bánh uôi - một đặc sản ẩm thực độc đáo của người Mường
trong dịp Tết cổ truyền. (Ảnh: Thanh Hà/TTXVN)
Nấu cơm rượu cũng là một kỹ năng được tích lũy từ lâu đời của người Mường. Gạo nếp sẽ được ngâm khoảng 7-8 giờ, sau đó đem vớt ra ráo nước cho vào hông (tức là loại chõ to, bằng gỗ) để đồ; cơm xôi phải được nấu bằng củi và cơm nấu phải vừa chín tới, không được cứng cũng không được quá nát. 
Khi xôi chín, người nấu sẽ lót lá chuối trên nong (nia) để nguội, xong đặt xôi lên trên sọt đại, hình thù đan kiểu phễu (có đường kính độ 1,2m), rồi mới trộn với men đã được xay nhỏ. Số men tùy theo trọng lượng gạo đồ xôi, trung bình 1kg gạo phải dùng tới 3 quả men rải đều trên thành phễu. 
Sau đó, lá chuối rừng hơ lửa, rửa sạch được đậy lên trên, lá được xếp theo hình phễu để cạnh bếp qua 3 ngày 3 đêm (vào mùa Hè), còn về mùa Đông để dài ngày hơn. 
Khi có mùi rượu thơm thì chuyển vào các nồi to và cho nước sôi để nguội vào ngập xôi đã ủ men, sau đó đậy kín, ủ khoảng 4 ngày đêm. 
Hoàn thành các công đoạn, uống thử thấy rượu có vị thơm, ngọt, là việc chưng cất đã đạt yêu cầu. 
Chị Đinh Thị Thực cho biết thêm, công đoạn nấu rượu cũng rất quan trọng, trước khi đem nung rượu, người nấu rượu phải lọc bỏ bã lấy nguyên cốt cho vào chum và vần quanh bếp. Khi nấu rượu cần theo dõi tỉ mỉ, liên tục xoay vần cho rượu chín đều. 
Rượu hoẵng đạt yêu cầu phải trong, sánh, ngả màu vàng sáp ong, có vị ngọt đậm, mát, có mùi thơm lạ của men lá rừng. Rượu cần nung chín bởi rượu chưa chín kỹ uống sẽ bị đau đầu. 
Rượu chín không được nhấc ra khỏi bếp ngay mà phải để nguội, tới hôm sau mới nhấc ra và khoảng 2-3 ngày là uống được. 
Theo một số người có kinh nghiệm trong thưởng thức ẩm thực, rượu men lá của người Mường ở Thanh Sơn khi uống có hương vị rất hấp dẫn, ngọt mát, đậm đà, dù nồng độ khá cao nhưng lại rất dịu dàng, êm ái. Đó là một đặc điểm rất quý của rượu men lá. 
Với đồng bào Mường ở Thanh Sơn, rượu hoẵng còn dùng để biếu khách quý về thăm như một món quà đậm đà hương vị quê hương, chứa đựng cả tình người, được lưu giữ qua đôi bàn tay của người phụ nữ nơi đây. 
Ngày nay, dù đã có nhiều loại đồ uống khác nhau, song đặc sản rượu hoẵng người Mường ở Thanh Sơn vẫn được lưu giữ và phát triển trong văn hóa ẩm thực của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện./. 
Theo vietnamplus.vn

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

Không ngờ quê hương Phú Thọ lại có những món ăn độc lạ này

(Kiến Thức) - Ngoài những đặc sản dân dã nổi tiếng như bưởi Đoan Hùng, thịt muối chua Thanh Sơn, thịt chó Việt Trì thì quê hương Phú Thọ  còn có rất nhiều món ăn độc lạ như xáo chuối, rêu đá, cọ ỏm…

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay

Rêu đá Tân Sơn: Hầu hết các xã Đồng Sơn, Thu Cúc thuộc huyện Tân Sơn - Phú Thọ đều coi rêu đá như một món rau sạch đặc biệt của vùng cao. Người miền xuôi lên đây, phải được đồng bào quý lắm mới có dịp thưởng thứcmón ăn độc lạ này. Ảnh: Internet.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-2

Xáo chuối Lâm Thao: Ở Lâm Thao, món xáo chuối được ưa chuộng ở nhiều làng quê, nhưng có lẽ món ăn này nổi tiếng nhất vẫn là khu Vĩnh Tề thuộc xã Cao Xá. Món xáo chuối được làm từ các nguyên liệu: Chuối, xương, tương, riềng, tiết lợn và các gia vị khác như: hạt tiêu, bột ngọt… Ảnh: Dân Việt.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-3

Cọ ỏm: Đây là thứ quà rất nhiều du khách muốn thưởng thức khi đến Phú Thọ. Chỉ với một nồi nước đun liu riu, thả những quả cọ vào nồi, đun nhỏ lửa từ 5-10 phút rồi đổ ra rổ đến khi ráo nước là có thể ăn. Cọ ỏm mềm, phía ngoài đen bóng, ở trong vàng ươm như mật ong, cùi dày và thơm. Ảnh: Lao động.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-4

Món bánh tai: Đặc sản Phú Thọ này ban đầu còn được gọi là bánh hòn tai, bánh nặn như hình con trai trai. Sau đó được gọi tắt là bánh tai vẫn kiểu dáng giống hình con trai nhưng dài hơn và nặn mỏng hơn cong cong như hình cái tai. Nguyên liệu để làm món bánh tai rất đơn giản, chỉ cần gạo tẻ, thịt lợn và gia vị là có thể làm được. Ảnh: Internet

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-5

Tằm cọ: Đây là món ăn đặc biệt và phải qua nhiều công đoạn chi tiết. Để thực hiện món tằm cọ thì vật dụng đầu tiên cần có là lò đất nung chứa than hoa đốt từ thân cây cọ già, nhìn lớp than hồng rực đượm màu lửa cũng đủ gợi lên những hấp dẫn, mời chào. Ảnh: Phú Thọ.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-6

Cá Anh Vũ: Người dân Bạch Hạc, thành phố Việt Trì (Phú Thọ) thường kể về cá Anh Vũ, đặc sản nổi tiếng nhất của thành phố Ngã ba sông một cách rất tự hào. Cá Anh Vũ chỉ xuất hiện và đánh bắt được từ tháng 10 dương lịch đến tháng 3 năm sau. Thịt cá Anh Vũ: trắng, quánh và thơm ngon hơn bất cứ loài cá nào của sông nước. Ảnh: Hatthocvang.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-7

Trám om kho cá là đặc sản có mùi vị rất đặc biệt của Phú Thọ. Cuối tháng năm, sáu âm lịch là thời điểm thu hoạch trám. Trám kho với cá, vị chua của trám ngấm vào làm cá mềm nục có vị giôn giốt chua, còn vị ngọt của tương, chất đạm của cá ngấm vào trám làm mất vị chát, giảm vị chua, miếng trám mang lại vị chua ngọt, béo bùi. Ảnh: Internet.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-8

Búp khoai kho là món ăn truyền thống ở huyện Thanh Thủy – Phú Thọ, một món ăn dân dã và cũng rất thú vị. Búp khoai ở đây không phải là búp khoai lang, mà là búp của các giống khoai có dọc (có nơi còn gọi là bẹ hoặc đài khoai) như khoai trứng, khoai riềng, khoai lủi, khoai đốm. Ảnh: Internet.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-9

Rau sắn muối: Búp sắn non được ngâm nước cho bớt nhựa rồi vò nát, trộn thêm chút muối rồi đem bỏ vào vại ủ chua khoảng 4-5 ngày. Rau sắn muối được ăn kèm với các món khác, đem xào hoặc nấu cá đều rất ngon. Ảnh: Tintuc.vn.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-10

Xôi nếp gà gáy Yên Lập: Xôi nếp gà gáy - sản phẩm đặc trưng được trồng trên những nương lúa xa tít hay ruộng bậc thang. Để có một nồi xôi nếp gà gáy ngon thì gạo phải được đãi sạch, không cần ngâm nước lâu nhưng xôi vẫn dẻo, mềm, thơm. Nếp gà gáy thân dài, hạt to, khi đem đồ xôi chín nhanh, dẻo thơm, chấm với muối vừng hoặc ăn kèm gà đồi nướng.

Khong ngo que huong cau thu Ha Duc Chinh lai co nhung mon an doc la nay-Hinh-11

Măng sặt mọc ở nhiều nơi tại tỉnh Phú Thọ, nhưng măng sặt ngon nhất có lẽ phải kể đến măng sặt mọc trên núi Buộm - dãy núi cao nhất ở Ấm Hạ. Cứ vào tháng 2 đến tháng 4 âm lịch hàng năm, người dân Ấm Hạ lại lên núi hái măng sặt về chế biến thành các món ăn ngon, hấp dẫn như: măng sặt om xương, xào, luộc, nướng trên than củi, hầm cá, hay ngâm giấm ớt. Ảnh: Tuổi trẻ.

Thảo Nguyên (TH)

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018

Kinh hãi với món tằm sắn – đặc sản đang vào mùa

(Kiến Thức) - Món tằm sắn rang, đặc sản của người dân Phú Thọ hay Tuyên Quang, được xem là thực phẩm sạch và bổ dưỡng nhưng không phải ai cũng dám thử món ăn này.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua
Thoạt nhìn tằm sắn sẽ gây ra cảm giác “kinh sợ” vì chẳng khác gì một loài sâu khổng lồ nhưng khi được thưởng thức, thực khách sẽ thấy đây là một món vừa ăn sạch vừa bổ dưỡngKinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-2
Lúc còn sống, con tằm trông khá đáng sợ, nhưng khi qua bàn tay chế biến, lại trở nên đặc biệt vô cùng bởi vị béo ngon khó mà cưỡng nổi.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-3
Hiện, tằm sắn đã trở thành món ăn phổ biến. Người nuôi tằm vì thế cũng chuyển sang nuôi tằm làm thực phẩm nhiều hơn. Tiêu biểu như ở xã Tam Đa (Sơn Dương, Tuyên Quang) có hàng trăm hộ dân chuyên làm nghề nuôi tằm làm thực phẩm sạch, giá bán sỉ từ 60.000-80.000 đồng/kg.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-4
Tằm có thể nuôi từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm. Trung bình mỗi nong tằm nếu được chăm sóc tốt thì khoảng 18 ngày sẽ cho thu hoạch.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-5
Khi tằm ngả sang màu vàng, đó là lúc bắt đầu "thu hoạch".Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-6
Tằm sắn có thể luộc lên rồi chấm mắm ớt ăn luôn, rất bùi hoặc rang với mỡ lợn hoặc thịt ba chỉ. Gia vị không thể thiếu của món tằm là ớt và lá chanh.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-7
Sơ chế tằm cho vào chậu nước rồi khuấy đều cho hết bẩn, sau đó thả tằm vào trần qua nước sôi, chúng sẽ nhả hết tơ và duỗi thẳng người ra.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-8
Tằm được bỏ vào chảo rang cùng với muối, đảo luôn tay để tránh bị khét. Khi những con tằm đã săn lại thì múc tằm ra đĩa, để riêng.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-9
Để tăng dinh dưỡng cho món ăn, chuẩn bị thêm thịt nạc vai thái con chì, nhỏ bằng con tằm, cho vào chảo, đảo kỹ. Mỡ trong thịt tiết ra hết, thịt khô lại, cháy cạnh, vàng đều là đượcKinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-10
Sau đó, đổ tằm đã rang vào, trộn đều, cho thêm chút mỡ nước đảo cho cả tằm và thịt cùng khô, tỏa mùi thơm thì bắc ra. Sau đó rắc một ít lá chanh thái chỉ vào chảo tằm rang vừa bắc xuống. Số lá chanh còn lại được rắc lên trên đĩa tằm rang cho đẹp mắt.Kinh hai voi mon tam san – dac san dang vao mua-Hinh-11
Con tằm sắn rang khéo tay màu vàng trong như cánh hoa lan ướp khô. Chất tơ còn lại trong bụng tằm lên mầu đỏ vàng như lòng đỏ trứng gà còn tươi. Nhưng khi ăn, chất tơ và cả con tằm dẻo quánh, rồi tan ra giữa hai hàm răng, thấm vị tằm thơm mùi lá chanh trên đầu lưỡi, ngon đến kỳ lạ.
Thảo Nguyên (TH)

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Tương cổ truyền Dục Mỹ thơm ngon hơn nhờ gió đông

Bà con làng Dục Mỹ, Lâm Thao, Phú Thọ cho biết, luồng gió từ tháng 6, tháng 8 dương lịch là thời điểm tốt nhất để phơi mốc, góp phần làm nên những hũ tương sánh vàng, đậm đà hương vị.

Tương là món chấm quen thuộc của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ. Giọt tương sóng sánh vàng, thơm đượm mùi nắng, mùi đỗ tương và gạo nếp đã theo bao lớp người lớn lên. Làng Dục Mỹ, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nổi tiếng với nghề làm tương cổ truyền từ lâu. Tương ở đây được ủ chín đủ ngày có màu vàng hơi đỏ, vị thanh, không gắt, ngọt đậm mà không mặn.
Gia đình bà Đỗ Thị Thanh Nghì là một trong những hộ làm làm tương lâu đời tại làng Dục Mỹ. Mỗi năm, bà làm khoảng 2.000 lít tương thủ công truyền thống. Tới đây, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp những sành đựng tương được phơi ngay trong sân nhà.
polyad
Gia đình bà Đỗ Thị Thanh Nghì (bên trái) làm tương từ nhiều đời nay. Ảnh: Bizmedia.
Thành phần chính để làm tương gồm đỗ tương, gạo nếp cái hoa vàng và muối sạch. Bà Nghì chia sẻ: "Tôi chỉ chọn đỗ tương của quê, hạt nhỏ để tương sau khi làm thơm, ngọt hơn. Đỗ lai hạt to nhưng không thơm, ngọt kém, nhập từ nơi khác, mình lại không biết nguồn gốc chất lượng ra sao".
Ở làng Dục Mỹ, đỗ tương sau khi thu hoạch, được phơi và đập thủ công. Hạt đỗ tròn mẩy, bên ngoài còn phủ lớp phấn cám mỏng bám lại từ vỏ quả. Người làm chỉ lựa những hạt mẩy, đều để khi rang không bị cháy. Sau khi đãi sạch, đỗ tương được rang dưới lửa nhỏ, sau đó tách vỏ, lấy riêng phần hạt rồi thêm nước, đun đến khi gần cạn. Phần nước còn sót lại và phần đỗ được đem ngả cùng gạo đã lên mốc trong chum sành, để ít nhất 3 tháng thành tương.
polyad
Hạt xôi sau khi thành mốc có màu vàng tương. Ảnh: Bizmedia.
Bên cạnh đó, nguyên liệu quan trọng để tạo nên hương vị riêng của tương là mốc. Mốc được làm từ gạo nếp cái hoa vàng. Cụ thể, bà con chọn những hạt gạo mẩy, đều nhau, không đốm đỏ, không đầu ruồi, sạch sạn, đem đãi, ngâm kỹ rồi nấu xôi. Sau khi chín, xôi được rải đều ra nong để cho lên mốc màu hoa cà, hoa cải. Mốc này sẽ trộn cùng muối sạch rồi phơi tiếp trên những nong tre cho tới khi đạt độ khô tiêu chuẩn thì cất vào chum để dự trữ và ngả tương quanh năm ăn dần. 
Nguyên liệu muối được dùng để hãm quá trình lên mốc của hạt xôi, đồng thời, còn là chất bảo quản giúp tương lâu hỏng. Vị mặn của muối kết hợp với đậu tương, gạo trở thành vị ngọt. Nếu không có muối, hỗn hợp trên sẽ chuyển sang vị chua khiến mẻ tương bị hỏng.
Mốc sau khi phơi vẫn giữ được hình hạt gạo nhưng ngả sang vàng màu của đỗ tương, thơm mùi nếp cái hoa vàng và đượm thêm nắng gió. Bà Nghị cho biết: "Bí quyết để có tương ngon là phải làm theo mùa gió, bởi thế, người Dục Mỹ chọn tháng 6, tháng 8 dương lịch để phơi mốc trong năm. Luồng gió ấy giúp hạt xôi lên mốc đẹp mà không độc, mốc thơm và ăn được luôn".
Tương của bà con làng Dục Mỹ được ủ trong chum sành để bảo quản và giữ vị ngọt. Theo bà Nghì, đặc điểm của tương là phải phơi nắng phơi sương ngoài trời. Giữa nền sân gạch trong những ngày nắng nóng, chỉ có chất liệu sành mới có thể chịu được nhiệt và không bị tác động bởi hiện tượng bên ngoài. Nguyên liệu này đảm bảo an toàn hơn cho sản phẩm tương.
Trên mỗi chum đựng, bà Nghì còn phủ thêm các tấm vải màn để tránh ruồi muỗi, sâu bọ, lá cây rụng vào. Hàng ngày, chum được mở ra, đánh trộn và phơi nắng liên tục, ít nhất 3 tháng. Nắng, nhiệt độ cùng sự đánh trộn làm đỗ, gạo nhuyễn đều và chín thêm.
 
Quy trình làm tương của người Dục Mỹ, Phú Thọ.
"Các thành phần để làm tương đều được nấu chín kỹ. Đặc biệt, loại tương này chỉ dính một giọt nước lã hay nước mưa vào là hỏng hết, nên không thể trộn thêm bất cứ chất nào khác. Tương có thể bảo quản hàng năm, càng để lâu, tương càng vàng, vị càng ngọt", bà Nghì chia sẻ thêm.
Hiện nay, giá bán tương Dục Mỹ dao động 40.000-50.000 đồng một lít. Ở làng nghề truyền thống này có hơn 60 gia đình làm tương cổ truyền với sản lượng 80.000-100.000 lít mỗi năm.
Thu Giang

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

Về nơi được chọn làm bánh giầy dâng Vua Hùng


Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, làng Mộ Chu Hạ (phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) lại vang lên những tiếng chày giã bánh giầy chuẩn bị phục vụ cho giỗ Tổ Hùng Vương.

Từ xa xưa, bánh chưng, bánh giầy luôn có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt. Đây là hai loại bánh tượng trưng cho “trời tròn - đất vuông” được gắn với tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của dân tộc Việt Nam.
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, làng Mộ Chu Hạ (phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) lại vang lên những tiếng chày giã bánh giầy chuẩn bị phục vụ cho giỗ Tổ Hùng Vương.  

Sự tích bánh chưng, bánh giầy

Theo truyền thuyết, sự tích bánh chưng, bánh giầy xuất hiện từ thủa Lang Liêu, câu chuyện về chàng hoàng tử thứ 18 con của Hùng Hoa Vương.
nh-1-1105324518
Các thanh niên tham gia giã bánh giầy tại đình làng Mộ Chu Hạ
Nhận lời vua cha, các anh em của chàng toả đi khắp nơi tìm của ngon vật lạ làm lễ vật năm mới mừng thọ nhà vua sống lâu ngàn tuổi, chúc cho giang sơn bền vững, dân chúng ấm no, người con nào có lễ vật được vua ưng ý sẽ truyền ngôi báu cho.
Trong cái ồn ào sôi động của cuộc săn tìm sơn hào, hải vị, báu vật để tiến sát đến chiếc ngai vàng. Hoàng tử Lang Liêu cũng đắn đo suy nghĩ về lễ vật dâng lên nhà vua. Chàng đã đi nhiều nơi để tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm được thứ gì quý giá.
Vào một ngày, chàng đặt chân đến ngã ba Bạch Hạc, nơi có vùng nước thường dâng lên sa bồi màu mỡ, người dân cần cù hai vụ lúa, ngô. Đêm hôm đó (rằm tháng Chạp) trăng sáng tỏ tiết, trời càng se lạnh, chàng bỗng ngửi thấy mùi thơm quen thuộc, chàng kịp nhận ra đó là hương lúa nếp vụ mười.
Lang Liêu chợt hiểu ra đây chính là lời giải cho điều mà những ngày qua chàng vẫn băn khoăn, chăn trở. Chờ mãi rồi cũng đến ngày các hoàng tử phải dâng lễ vua cha, từ sớm đến chiều vua cha chưa ưng ý lễ vật của người nào.
Đến lượt Lang Liêu vào dâng lễ vật, chàng từ tốn bước tới quỳ trước bệ rồng dâng lời chúc thọ rồi mở khăn điều ra. Cả nhà vua và 100 quan đều kinh ngạc vì quả là vật lạ chưa từng thấy bao giờ. Một chiếc bánh vuông màu xanh, và 1 chiếc bánh tròn đầy đặn màu trắng tinh khiết như bầu trời buổi quang mây.
Nhà vua tươi cười nói: “Hai thứ bánh này quả là những thứ mà ta và các ngươi chưa từng thấy bao giờ”. Bánh tròn là tượng trưng cho trời, bánh vuông là tượng trưng cho đất đó chính là cội nguồn âm dương sự sống.
Là trời nên chỉ một màu trắng tròn nên gọi là bánh giầy, là đất cho nên có hình vuông có cỏ cây, lúa, đỗ và thịt động vật gói bên trong gọi là bánh chưng. Sản vật đã nói lên sự giàu có của đất nước với bàn tay của con người làm ra.
nh-4105324892
Bánh giầy đang được quận tròn dần để lấy ra khỏi cối
Nhà vua bước đến bên Lang Liêu, đặt tay lên đầu chàng và nói ta sẽ truyền ngôn báu cho con. Các hoàng tử và trăm quan đến tung hô chúc nhà vua sống lâu ngàn tuổi, chúc mừng Lang Liêu. Chàng hoàng tử thứ 18 lên nối ngôi lấy hiệu là Hùng Huy Vương (Vua Hùng thứ 7).
Ngoài ý nghĩa gắn liền với thời kỳ Hùng Vương, bánh giầy làng Mộ Chu Hạ còn gắn với lịch sử 1 vị vua, vị hoàng đế tiền Lê (Lê Đại Hành). Trong công cuộc chống quân Tống của nhân dân ta, một lần thập đạo tướng quân Lê Đại Hành cho quân sĩ rút lui đến làng Mộ Chu Hạ thì trời tối, người ngựa đều mệt mỏi. Vua cho quân sĩ nghỉ ngơi, sáng hôm sau dân làng giã bánh giầy cho vua và binh lính mang theo làm lương thực (hôm đó là ngày mồng 10 tháng Giêng).
Kể từ đó, 1 năm hai lần hội thi giã bánh giầy vào dịp mồng 10 tháng Giêng và 10/3 âm lịch đã trở thành truyền thống của người dân làng Mộ Hạ Bốn giáp: Giáp đông, giáp tây, giáp nam, giáp bắc tương đương với 4 dòng họ lớn trong làng và ứng với các màu quần áo: xanh, đỏ, trắng, vàng cùng với khăn đai đồng phục.  

Nghi thức giã bánh giầy dâng vua

Lễ hội của dân làng Mộ Chu Hạ không gì hơn ngoài việc ôn lại truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Nhớ các Vua Hùng dạy dân trồng lúa, nhớ sản vật trời đất ban cho. Vì vậy, hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, làng Mộ Chu Hạ lại vang lên những tiếng chày giã bánh giầy chuẩn bị phục vụ cho giỗ Tổ Hùng Vương.
nh-3105324683
Dụng cụ giã bánh giầy
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Đắc Hạnh, Trưởng khu, Trưởng Ban di tích lịch sử đình làng Mộ Chu Hạ cho biết, nhằm thể hiện lòng biết ơn đối với ông cha, cội nguồn và đất trời, hàng năm, cứ sắp đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, dân làng Mộ Chu Hạ lại náo nức, chuẩn bị những dụng cụ để giã bánh giầy tiến cúng Vua Hùng.
“Đến tận bây giờ, dân làng chúng tôi vẫn giữ được cái nét đẹp của ông cha ta để lại, đó là giã bánh giầy bằng cối đá, chày tre. Một trong những cách thức làm bánh giầy ngon nhất, chuẩn nhất mà không phải địa phương nào cũng làm được”, ông Hạnh cho hay.
Theo người dân làng Mộ Chu Hạ, để làm ra được một chiếc bánh giầy dâng cúng Vua Hùng phải chuẩn bị kỹ lưỡng các công đoạn, từ cách chọn gạo (gạo nếp hoa vàng), ngâm gạo; cách chọn chày (phải chọn tre bánh tẻ và phải là đực, khi giã bánh không bị choét đầu),… Và, điều quan trọng nhất là chế tạo ra một loại dầu (không độc hại đến sức khỏe) để bôi vào cối và chày, để khi giã bánh bánh không dính vào hai thứ đó.
Theo phong tục, trước khi vào giã bánh, các thanh niên tham gia đội giã bánh phải làm thủ tục theo sự hướng dẫn của chủ tế, mỗi lần chủ tế hô to, theo nhịp thì các thành viên giãn đều, cầm chày dâng ngang, cao ngang vai bái theo mệnh lênh: Nhất thiên bái (bái trời), Nhị địa bái (bái đất), Tam thánh bái (bái người được thờ) và Lễ hội bái.
Sau đó, một hồi trống vang lên, xôi được đưa vào cối, tiếng hò reo ca múa hừng hực, khí thế của những nam thanh nữ tú xen lẫn tiếng chày nhịp nhàng nâng lên hạ xuống khối bột nếp trắng mịn tinh khiết.
nh-510532568
Bánh giầy thành phẩm
Một nhóm tham gia giã bánh gồm 5 người, trong đó, một người có nhiệm vụ giữ chày làm trục giữa, bốn thành viên khác có nhiệm vụ cầm chày giã bánh. Nếu giã nhanh và đúng kỹ thuật thì khoảng 10 phút sẽ được một mẻ bánh giày 5 - 7 cân.
“Để giã được mẻ bánh giầy có chất lượng, phải chọn những thanh niên to khỏe, một phần họ đủ sức khỏe trong thời gian giã bánh khoảng 10 phút, một phần là làm bánh dâng cúng Vua Hùng, phụ nữ không được phép tham gia cầm chày giã bánh”, ông Hạnh lý giải.
Sự khéo léo, phối hợp ăn ý của các thành viên đã khiến cho khối bột nếp, dẻo mịn kia qua tay nghệ nhân bắt bánh không chuyên, trong chốc lát đã trở thành những chiếc bánh tròn, xinh xắn đặt trên đĩa lót lá chuối xanh.
“Một chiếc bánh giầy mà đạt tiêu chuẩn thì bánh phải trong, trắng mịn, tinh khiết, khi đặt lên đĩa là phải đẹp, tròn trong đĩa, bánh phải cao thành, gọn”, ông Hạnh cho biết thêm.
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, bánh giầy làng Mộ Chu Hạ vẫn được người dân gìn giữ nguyên vẹn về hình dáng, hương vị và được dâng lên các Vua Hùng trong ngày lễ trọng đại của dân tộc.
“Theo các cụ kể lại, ngày xưa, chọn gạo để làm bánh giầy là không được lấy tay chọn gạo mà phải lấy đũa chọn, không được chọn gạo nứt, gạo vỡ đôi. Cả làng dành một sào ruộng, giao cho một gia đình có 2 con, đủ nam, đủ nữ để chuyên trồng gạo nếp làm bánh giầy tiến cúng Vua Hùng”, ông Hạnh chia sẻ thêm.
MAI CHIẾN

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2017

Lạ miệng với món chả cuốn lá bưởi

TTO - Người Mường ở vùng Tân Sơn (Phú Thọ) có món chả cuốn lá bưởi nướng trên than hồng vừa lạ vừa ngon miệng. Đến đây vào mùa nào, bạn cũng có thể được chủ nhà làm món này thết đãi ngay tại nhà sàn.
​Lạ miệng với món chả cuốn lá bưởi
Chả cuốn lá bưởi chấm muối hạt dổi để lại dư vị đậm đà - Ảnh: N.T.Lượng
Với tập quán sống dựa vào thiên nhiên, cây lá nên các loại lá, rau rừng, trong vườn nhà đi vào các món ăn của người Mường Tân Sơn một cách tự nhiên và để lại dư vị đậm đà, khó quên.
Món chả không phải là món ăn mới lạ của người Mường, vì đâu đâu cũng chế biến món này trong mâm cỗ nhưng chả cuốn lá bưởi có lẽ chỉ vùng đất này mới có. Đó là sản phẩm của bàn tay khéo léo, trí tưởng tượng phong phú và sự kết hợp hài hòa giữa các nguyên liệu của người Mường nơi đây.
Để chế biến được món chả lợn cuốn lá bưởi, người Mường Tân Sơn đặc biệt chú trọng đến khâu tìm chọn nguyên liệu.
Không quá cầu kỳ để tìm nguyên liệu chế biến món ăn này. Chỉ cần ra vườn nhà, chọn hái những lá bưởi đang độ non bánh tẻ, bề mặt lá xanh bóng, dẻo.
Thông thường người Mường hay chọn lá bưởi ta, bưởi dại, bưởi chua vì theo người chế biến, loại lá bưởi này sẽ rất thơm, cay nồng và đậm đà hơn bưởi lai.
Cùng lá bưởi là thịt lợn của người Mường nuôi, loại thịt ba chỉ có lẫn nạc và mỡ, hành củ, hạt sẻng, hạt dổi, rau thơm các loại và không quên chuẩn bị than hoa.
​Lạ miệng với món chả cuốn lá bưởi
Nguyên liệu chế biến món chả cuốn lá bưởi - Ảnh: N.T.Lượng
​Lạ miệng với món chả cuốn lá bưởi
Thịt lợn băm nhuyễn cuốn lá bưởi - Ảnh: N.T.Lượng
Lá bưởi hái về rửa sạch, để ráo nước, thịt lợn ba chỉ thái mỏng hoặc băm nhuyễn rồi trộn lẫn hành củ, hạt dổi, hạt sẻng và các loại rau thơm, nêm thêm chút nước mắm ngon và bột ngọt để chừng 10 phút cho thịt ngấm gia vị. 
Cách chế biến chả cuốn lá bưởi không quá cầu kỳ, chỉ cần cho nhân thịt vào giữa lá bưởi rồi cuốn tròn theo chiều ngang, khi cuốn hết bề mặt lá, dùng một tăm nhọn xiên ngang miếng chả để giữ lá, tạo độ chặt cho miếng chả.
Chả cuốn xong, người chế biến kẹp vào phên nướng hoặc vào kẹp tre rồi nướng trên than hồng. Khi nướng phải lật đi lật lại nhiều lần để cho lá bưởi khỏi cháy. Khi lá bưởi đã chuyển màu xám thì chả chín, có thể mang ra thưởng thức.
Chả cuốn lá bưởi ăn khi nóng thì tuyệt ngon. Khi thưởng thức, dư vị chả đậm đà, lạ miệng. Cảm nhận đầu tiên là vị thơm nồng, cay cay của lá bưởi, vị thơm ngọt của thịt lợn hòa vào các gia vị khiến cho miếng chả vừa mềm vừa thơm ngon.
Đặc biệt, chả cuốn lá bưởi ngon nhất khi chấm với muối ớt cùng với hạt dổi nướng.
​Lạ miệng với món chả cuốn lá bưởi
Chả cuốn lá bưởi là món ăn truyền thống của người Mường Tân Sơn - Ảnh: N.T.Lượng
​Lạ miệng với món chả cuốn lá bưởi
Hấp dẫn món chả cuốn lá bưởi sau khi nướng chín - Ảnh: N.T.Lượng
Theo người Mường ở Tân Sơn, chả cuốn lá bưởi không đơn thuần là món ăn mà còn là một vị thuốc tốt.
Chả cuốn lá bưởi sẽ tốt cho huyết áp, hô hấp và tiêu hóa. Vì thế, trong bữa ăn hằng ngày hoặc khi nhà có khách quý và ngày hội bản, đồng bào Mường thường chế biến món ăn này trong mâm cỗ nhà mình. 
Đậm đà chả cuốn lá bưởi của người Mường Phú Thọ

Theo dulichvn.org.vn
Chả cuốn lá bưởi của người Mường vùng Tân Sơn, Phú Thọ tuy lạ nhưng lại rất hấp dẫn, ngon miệng, cũng giống như Xôi cọ Người Tày, mang đậm dấu ấn văn hóa ẩm thực của những người dân tộc hiền lành, chất phác.
Từ tập quán sống dựa vào thiên nhiên từ bao đời nay, nên các loại lá, rau rừng đi vào món ăn của người Mường – Tân Sơn một cách tự nhiên và để lại dư vị đậm đà, khó quên. Đặc biệt hơn nữa, món ăn này họ có thể thiết đãi du khách bất kỳ mùa nào trong năm.

Chả cuốn lá bưởi nướng than không phải là món ăn mới lạ của người Mường, đây là món ăn truyền thống trên mâm cỗ của họ từ nhiều đời nay. Đây là món ăn được hình thành từ sự khéo tay, kết hợp hài hòa giữa các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên nơi đây.

Đây là món ăn được hình thành từ sự khéo tay, kết hợp hài hòa giữa các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên
 
Nguyên liệu chế biến

Ẩm thực người Mường đặc biệt chú trọng đến khâu tìm và chọn nguyên liệu chế biến. Tuy chỉ cần ra vườn nhà, chọn hái những chiếc lá bưởi đang độ non bánh tẻ, bề mặt lá xanh bóng, dẻo. Nhưng cần phải lưu ý chọn lá bưởi ta, bưởi dại, bưởi chua vì lá bưởi này rất thơm, cay nồng, đậm đà hơn bưởi lai.

Tương tự như lá bưởi, thịt lợn cũng là thực phẩm có sẵn trong mỗi gia đình. Lợn được người dân tự nuôi, chọn loại thịt ba chỉ có lẫn nạc, cùng các nguyên liệu mỡ, hành tỏi, hạt sẻng, hạt dổi, rau thơm và đương nhiên không thể thiếu than hoa.

Chả cuốn lá bưởi là món ăn truyền thống trên mâm cỗ của người Mường
 
Cách chế biến chả thịt lợn cuốn lá bưởi

Cách chế biến chả cuốn lá bưởi không quá cầu kỳ. Lá bưởi sau khi hái sẽ được rửa sạch, để ráo nước. Thịt lợn ba chỉ thái mỏng hoặc băm nhuyễn rồi trộn lẫn hành củ, hạt dổi, hạt sẻng và các loại rau thơm, nêm thêm chút nước mắm ngon và bột ngọt để chừng 10 phút cho thịt ngấm gia vị.

Nhân thịt được cho vào giữa lá bưởi, sau đó cuốn tròn theo chiều ngang, khi cuốn hết bề mặt lá, dùng một tăm nhọn xiên ngang miếng chả để giữ lá, tạo độ chặt cho miếng chả.

Chả cuốn xong, người chế biến kẹp vào phên hoặc thanh tre rồi nướng trên than hồng. Khi nướng phải lật đi lật lại nhiều lần để cho lá bưởi khỏi cháy. Khi lá bưởi đã chuyển màu xám thì chả chín, có thể mang ra thưởng thức./.
NGUYỄN THẾ LƯỢNG