Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Thu Lao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Thu Lao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

Độc đáo trò chơi đánh cù của người Thu Lao

LCĐT - Trong cộng đồng dân tộc Thu Lao ở xã Tả Gia Khâu (Mường Khương), những nét văn hóa đặc sắc trong trang phục, lễ hội, phong tục, lễ nghi… vẫn được người dân giữ gìn và trao truyền qua nhiều thế hệ. Đặc biệt, trò chơi dân gian vẫn luôn là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Thu Lao, trong đó có trò chơi đánh cù.
Trò chơi đánh cù thường được người Thu Lao tổ chức sau Lễ cúng rừng (tổ chức vào tháng Hai và tháng Sáu âm lịch) hoặc trong những ngày Tết Nguyên đán. Để tham gia trò chơi này, mỗi thanh niên Thu Lao chuẩn bị cho mình một chiếc cù tốt. Chiếc cù được làm bằng loại gỗ cứng, đầu dưới nhọn, đầu trên có núm, khấc để buộc dây vải. Cách đánh cù là họ dùng dây quấn chắc vào đầu cù rồi quăng mạnh xuống đất và kéo dây ngược trở lại tạo lực cho cù xoay tít.
Thanh niên dân tộc Thu Lao chơi đánh cù.
Cuộc thi đánh cù thường diễn ra tại một khu đất rộng, bằng phẳng. 2 đội tham gia, mỗi đội gồm 2 thanh niên trở lên thi đấu với nhau. Bước vào cuộc chơi, 2 đội phân chia bằng cách đối cù, cù của bên nào quay được lâu hơn thì đội đó thắng. Đội thua sẽ phải quay cù trước để đội thắng chao cù đánh bật cù của đối phương ra khỏi sân chơi hoặc chao đảo, mất lực quay mà sớm dừng lại. Lần lượt như vậy, cù của đội nào vẫn còn xoay được đến cuối cùng thì đội đó thắng cuộc.
Những cuộc thi đánh cù luôn thu hút rất nhiều người cổ vũ. Khán giả được nhắc nhở phải đứng một khoảng cách an toàn, bởi khi đánh cù nếu lực mạnh có thể văng vào người gây nguy hiểm. Những bé trai thường theo dõi các buổi đánh cù để học hỏi kinh nghiệm của các anh, sau đó cũng thành lập đội chơi để tổ chức cuộc thi của những tay đánh cù tí hon.
Trò chơi đánh cù thể hiện sức khỏe, bản lĩnh, sự khéo léo, tinh mắt và thông minh của thanh niên Thu Lao. Việc phát huy các trò chơi dân gian như đánh cù, ném còn, đánh én và các sinh hoạt văn hóa khác như hát giao duyên, chơi đàn “ẳn tắng”… chính là cách người Thu Lao gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc.
THẢO NGUYÊN

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

Mổ lợn béo, gói bánh chưng đen

Hải Đăng 

    Tục mổ lợn Tết của người Thu Lao ở Lào Cai rất độc đáo. Con lợn được gia chủ tự tay chăm sóc, chọn ngày đẹp để mổ rồi cúng ông bà tổ tiên. Con lợn được hóa kiếp trên tấm phản ngay trước ban thờ, vừa mổ lợn, người ta thắp hương khấn báo công với tổ tiên về thành quả trong năm cũ, cầu một năm mới làm ăn nhiều may mắn.


    Khi những nhành đào rừng khoe sắc thắm trên những con đường ngoằn ngoèo dẫn vào thôn Sán Chá ( xã Thào Chư Phìn, huyện Si Ma Cai, Lào Cai) thì cũng là lúc bà con nơi đây rộn ràng đón Tết.
    Cũng như những người anh em ở bản khác, người Thu Lao ở xã Thào Chư Phìn vẫn giữ tục mổ lợn Tết rất độc đáo. Ông Séo Sao Lẻng ở thôn Sán Chá ( xã Thào Chư Phìn, Si Ma Cai) nói, “nhà có điều kiện thì mổ con to, không có thì mổ con nhỏ. Ngày Tết tất cả đều đi lấy bánh, lấy thịt để cúng bàn thờ, không nhà nào thiếu cả”.
    Một sản vật khác không thể thiếu trong ngày Tết của người Thu Lao đó là bánh chưng đen. Những chiếc bánh chưng được gói bằng gạo nếp nương do bà con tự tay trồng cấy, hạt to tròn và thơm. Lạ là để bánh chưng có màu đen, người ta cho trộn bột than của một loại cây đặc biệt được lấy từ rừng già với gạo nếp nương đã được ngâm và vo kỹ. Sau đó, tất cả được bàn tay người phụ nữ Thu Lao khéo léo gói lại bằng dây rừng. Khi bánh chưng được luộc trong nhiều giờ đồng hồ, thứ bột đặc biệt này quyện với hương vị của nhân đỗ xanh, và của nếp nương khiến những chiếc bánh của người Thu Lao có hương vị rất thanh mát, và ăn không thấy chán.
    Việc gói bánh còn thể hiện sự đảm đang, tháo vát của người phụ nữ Thu Lao. Bà Ma Chấn Lèn ở thôn Sán Chá ( xã Thào Chư Phìn, Si Ma Cai) cho biết, Tết nào mình cũng phải dạy con cháu cách gói bánh, để sau này chúng nó còn biết làm để thờ cúng tổ tiên.
    Theo truyền thuyết, thủa ban đầu mới lập bản, con trâu, con ngựa, con chim, con chó là những loài vật rất gần gũi, có công giúp người Thu Lao xây dựng cuộc sống. Khi xưa, người Thu Lao còn đói, con chim tha hạt thóc về gieo trồng trên đất Sán Chá, con trâu cày những thửa ruộng để mở rộng sản xuất cho mùa màng bội thu, còn con chó trông nhà, trung thành luôn theo sát người dân bản. Chính vì vậy, người Thu Lao ở Sán Chá rất trọng các con vật nuôi, đặc biệt họ không ăn thịt chim, thịt chó vào ngày Tết.
    Ông Lừu Xuân Thương ở thôn Sán Chá ( xã Thào Chư Phìn, Si Ma Cai) cho biết: “ những con vật này gần gũi và thân thiết trong gia đình, gia đình rất quý và thường xuyên chăm sóc. Ngày Tết gia đình chuẩn bị sẵn thức ăn cho con trâu, con bò, con chó, con lợn, con gà trong nhà. Mình ăn Tết thì chúng cũng được ăn no đủ”…
    Xuân này, bản của người Thu Lao ở Thào Chư Phìn thực sự thay áo mới, nhà nhà ấm no, chất đầy bao gạo, bao ngô. Không chỉ vậy, bà con đã tiếp cận với những công nghệ mới như điện thoại cảm ứng để đọc tin tức hay xem ti vi để biết được các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cho bà con dân tộc thiểu số. Đặc biệt là học tập những nơi khác để phát triển kinh tế gia đình.

    Hải Đăng

    Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

    Phong tục cưới của người Thu Lao ở Lào Cai

    LCĐT – Lễ cưới của người Thu Lao trải qua nhiều nghi lễ khác nhau, như lễ dạm gõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức và lễ lại mặt…
    Người Thu Lao là một trong những dân tộc ít người, chỉ có ở Lào Cai, họ sống tập trung ở khu vực thượng nguồn sông Chảy thuộc các thôn La Hờ, Lũng Thắng, La Măng, Thải Giàng Sáng (xã Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương); thôn Sán Chá (xã Thào Chư Phìn), thôn Tả Chải (xã Nàn Sán), thôn Khuốn Pống (xã Bản Mế thuộc huyện Si Ma Cai).

    Lễ cưới của người Thu Lao trải qua nhiều nghi lễ khác nhau, như lễ dạm gõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức và lễ lại mặt. Để tổ chức lễ cưới, gia đình nhà trai phải nhờ một người đàn ông có tài ăn nói, có gia đình khá giả, đầy đủ con trai, con gái làm ông mối - "pu dơ" sang thưa chuyện với gia đình nhà gái để tiến hành các bước đi đến lễ cưới chính thức. Khi đến gia đình nhà gái, ông mối sẽ dùng những lời hay ý đẹp để thuyết phục nhà gái đồng ý.

    Trang phục của phụ nữ người Thu Lao
    Còn về phía nhà gái, mặc dù trong lòng đã ưng thuận, nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra chưa đồng ý để nhà trai phải cử ông mối sang nhiều lần. Phải đến lần thứ ba, ông mối sang nói chuyện gia đình mới nhận lời để tăng thêm giá trị của người con gái, không sợ bị bà con làng bản chê cười.

    Sau lễ dạm ngõ một thời gian, gia đình nhà trai chọn ngày tốt, nhờ ông mối mang theo một đôi gà, ba lít rượu mang sang nhà gái làm lễ ăn hỏi. Ngày lễ ăn hỏi, gia đình nhà gái sẽ mời ông trưởng họ, bà cô, ông bác và anh em trong dòng họ tiếp đón đoàn nhà trai mang lễ vật sang làm lễ ăn hỏi và cùng bàn bạc đi đến lễ cưới chính thức. Hai gia đình sẽ cùng bàn thống nhất số lễ vật mà gia đình nhà trai phải trả cho nhà gái vào ngày cưới chính thức. Theo phong tục của người Thu Lao trước đây, lễ vật thách cưới bao gồm: 4 chiếc cúc áo bằng bạc, 4 vòng tay, 4 chiếc nhẫn bạc, 3 đồng bạc trắng, 80 kg lợn hơi, 80 lít rượu, 1 con trâu.

    Lễ cưới chính thức thường được các gia đình tổ chức vào khoảng thời gian từ tháng 9 - 11 âm lịch, sau khi mùa màng đã thu hoạch xong. Gia đình nhà trai sẽ cử ông mối, cùng ông chú rể hoặc bà cô cùng một số chàng trai bạn của chú rể khiêng lễ vật sang nhà gái để đón dâu. Ngoài những lễ vật gia đình nhà gái thách cưới, gia đình nhà trai phải mang theo 22 chiếc bánh dày để làm lễ xin mở cửa. Đến giờ hoàng đạo, phái đoàn nhà trai bắt đầu xuất phát sang nhà gái đón dâu, đi đầu đoàn rước bao giờ cũng là ông mối, tiếp đó là em chú dắt ngựa, rồi đến đoàn thanh niên khiêng lễ vật.

    Theo phong tục của người Thu Lao, khi đi rước dâu bao giờ gia đình cũng phải chuẩn bị trước một con ngựa tốt được trang trí lộng lẫy bằng dải lụa hồng để rước cô dâu về, em của chú rể sẽ là người dắt ngựa đón chị dâu, ngoài ra còn có một hai người cùng giúp đỡ cô dâu ngồi lên yên ngựa. Khi đoàn đón dâu nhà trai đến cửa nhà gái, ông mối phải cất lời hát xin nhà gái mở cửa cho vào nhà, nhà gái đứng bên trong hát vọng ra với những lời từ chối bông đùa, khi thì không có chìa khoá, khi thì chìa khoá không vừa... Số lần từ chối phải đủ 22 lần. Mỗi lần, ông mối phải đưa qua khe cửa 1 cái bánh dày. Sau khi đưa cái cuối cùng, nhà gái mới mở cửa cho vào.

    Sau khi vào nhà, nhà trai tiến hành giao đồ thách cưới cho nhà gái, gia đình nhà gái sẽ cử một người là bà cô hoặc ông chú là người kiểm kê số lễ vật nhà trai mang sang có đủ không. Sau đó họ đặt đồ lễ lên một chiếc bàn để trong nhà, rồi gia chủ thắp hương báo cáo với tổ tiên là hôm nay gia đình nhà trai đã mang lễ vật đến xin con gái của gia đình về làm dâu, mong tổ tiên phù hộ cho chúng sau này có cuộc sống hạnh phúc. Trước khi về nhà chồng, bố mẹ cô gái sẽ mang một chiếc ghế dài đặt ở gian giữa rồi mời những người cao tuổi nhất trong nhà để hai vợ chồng lạy tạ ơn. Hai vợ chồng sẽ lạy tạ ơn lần lượt từng người, sau đó họ mừng lại đôi vợ chồng mỗi người từ 10.000 - 50.000 đồng để chúc phúc cho hai vợ chồng. Còn bố mẹ cô dâu có của hồi môn cho con gái mang theo cũng công bố trước mọi người và phái đoàn nhà trai biết.

    Khi cô dâu bước ra khỏi cửa, gia đình nhà gái thường mời một thầy mo đến làm lễ ra khỏi cửa với ý nghĩa gột rửa sạch sẽ những gì không may mắn, không tốt của cô gái trước khi về nhà chồng, đồng thời cũng báo cho tổ tiên biết là từ nay người con gái này không còn là thành viên của gia đình nữa. Sau đó, cô gái được phái đoàn nhà trai đỡ lên ngựa thắng hồng, mặt che kín bằng vải đỏ, đầu đội nón hoặc che ô theo đoàn rước về nhà chồng.

    Khi về đến cửa nhà trai, cô gái được đỡ xuống ngựa, sau đó gia đình nhà trai đã chuẩn bị sẵn một chiếc bàn đặt trước cửa, một chiếc bừa hoặc cày đặt chắn ngang trước cửa ra vào với ý nghĩa là những thử thách đối với người con gái trước khi bước vào nhà chồng mà cô phải vượt qua, đồng thời còn mang ý nghĩa là vũ khí ngăn các loại  tà ma, những gì không tốt đẹp, không may mắn theo cô gái vào gia đình. Sau khi làm lễ cúng gia tiên xong, chú rể, cô dâu phải thi nhau chạy thật nhanh để tranh phòng, với ý nghĩa người nào vào phòng trước thì sau này người đó sẽ làm chủ gia đình. Lúc đó cô dâu mới bỏ khăn che mặt rồi cùng chú rể đi lấy thóc hoặc cỏ để mang cho con ngựa ăn với ý nghĩa cảm ơn con ngựa đã mang cô dâu về nhà, sau đó mọi người cùng ngồi vào mâm ăn uống, chúc tụng vui vẻ suốt đêm, đến sáng hôm sau, phái đoàn rước dâu mới ra về, đồng thời nhà trai cũng chuẩn bị lễ vật gồm: 1 đôi gà, 1 chai rượu về nhà bố mẹ vợ làm lễ lại mặt.

    Ngày nay, phong tục cưới xin của người Thu Lao đã có nhiều thay đổi so với trước đây, các chàng trai, cô gái đã được tự do lựa chọn lấy người bạn đời cho mình, một số nghi lễ cũng có nhiều thay đổi, thời gian tổ chức lễ cưới được rút ngắn hơn trước, nhưng những nét văn hóa truyền thống trong lễ cưới vẫn được các gia đình trân trọng, gìn giữ.
    Theo Duy Chiến (Báo Lào Cai)

    Lễ cưới của người Thu Lao


    LCĐT - Mỗi dân tộc có phong tục cưới hỏi khác nhau, người Giáy đón dâu chăng dây ở cổng, người Dao đón dâu với điệu múa bát quái… còn người Thu Lao đón dâu bằng ngựa hồng. Đến nay, tập quán độc đáo này vẫn được giữ gìn và duy trì ở vùng Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương.
    Cô dâu, chú rể hành lễ trước bàn thờ tổ tiên.
    Lễ cưới thường được người Thu Lao tổ chức sau mùa thu hoạch. Thời gian này, lúa ngô đã đầy nhà, con lợn nuôi đã béo, gia đình nhà trai nhờ hai ông mối đi hỏi và đón dâu. Ngày đón dâu, đoàn nhà trai gồm có thầy mối, hai ông thợ kèn và những người đưa lễ vật lên đường đến nhà gái. Người Thu Lao quan niệm đi đón dâu phải là số lẻ, khi đón được con dâu về là số chẵn mới hạnh phúc, phát triển. Con ngựa để cô dâu cưỡi được buộc một sợi dây vải màu đỏ bên tai trái nên gọi là “ngựa hồng”. Khi đón cô dâu, nhà gái buộc một dây vải đỏ bên tai phải để vắt chéo nhau ý nghĩa gắn kết hai vợ chồng, luôn may mắn trong cuộc sống. Thời gian đoàn đi đón thường vào lúc 4 - 5 giờ sáng, đến 7 - 8 giờ thì đón dâu về nhà trai.
    Dẫn đầu đoàn đón dâu là hai ông thợ kèn, tiếp theo là hai ông mối và những người khác. Khi đến trước cửa nhà gái, các thầy mối của nhà trai hát xin nhà gái mở cửa, hát xin đủ ba lần thì nhà gái mở cửa cho đoàn vào. Lễ vật và tiền giấy được ông mối nhà trai giao cho ông mối nhà gái kiểm đếm, nếu đủ, nhà gái đồng ý cho nhà trai đón dâu về. Lúc này, hai ông thợ kèn thổi bài mừng đám cưới, bài xin dâu, chúc cô dâu, chú rể sống hạnh phúc...
    Đến giờ tốt, ông mối nhà trai xin được đón dâu. Theo phong tục, cô dâu che mặt bằng khăn vải đỏ, anh trai cô dâu bế em gái lên ngựa hồng, người dắt ngựa là em trai ruột hoặc em trai họ của chú rể vì người Thu Lao quan niệm em chú phải đón chị dâu về cho anh trai. Khi qua cửa, cô dâu bước qua chiếc yên ngựa có ý nghĩa cô dâu ngoan hiền, chăm chỉ. Chú rể mặc trang phục truyền thống, đón cô dâu ở cửa.
    Đoàn đưa dâu vào nhà và đóng kín cửa, mọi người trải chiếu để ông mối làm thủ tục trước bàn thờ gia tiên làm lễ nhập khẩu cho con dâu mới. Những người phù dâu, phù rể phải giúp đôi vợ chồng son nhảy trong chiếu ra mắt gia tiên, bố mẹ, anh em họ hàng. Sau nghi lễ ra mắt, cô dâu, chú rể dưới sự trợ giúp của phù dâu, phù rể cùng nhau chạy vào tranh nhau chỗ ngủ, bên nam với sức mạnh vượt trội chiếm được chiếc giường, phần thắng thuộc về chú rể. Việc cô dâu, chú rể tranh giường có ý nghĩa thể hiện sự làm chủ của người đàn ông trong gia đình. Trong ngày cưới, cô dâu, chú rể bê khay rượu hồng mời những người cao tuổi, những người này đều chúc phúc cho đôi vợ chồng sẽ bên nhau hạnh phúc, sớm có tin vui. Sau đó, cả chủ và khách ăn uống vui vẻ mừng gia chủ có con dâu mới, con dâu tốt, chúc mừng đôi bạn trẻ hạnh phúc…
    NGUYỄN NGỌC THANH