Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Lự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Lự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

Lễ cúng rừng - nét văn hóa độc đáo của người Lự ở Lai Châu

Trên địa bàn tỉnh Lai Châu, người Lự cư trú tập trung tại các xã Bản Hon, Nà Tăm, huyện Tam Đường; Nậm Tăm và một số xã vùng thấp của huyện Sìn Hồ. Cộng đồng người Lự vẫn còn lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống trong trang phục, ẩm thực, ngôn ngữ, kiến trúc và tín ngưỡng. Cúng rừng (hay còn gọi là “Căm nung”) của người Lự là một trong những nét văn hóa độc đáo, được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Chỉ những người đàn ông mới được tham dự Lễ cúng rừng. Ảnh: TTXVN 

Với quan niệm núi rừng là linh hồn của vạn vật, bảo vệ, che chở cho con người tồn tại và phát triển, là nơi trú ngụ của các đấng siêu nhiên nên hàng năm, vào dịp 3/3 và 6/6 âm lịch, người Lự thường tổ chức lễ cúng rừng mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng yên bình, đời sống người dân ấm no; qua đó khẳng định sự hòa hợp của cộng đồng với thiên nhiên. Lễ cúng rừng hội tụ nhiều sắc màu văn hóa đặc sắc của dân tộc, không có lợi dụng mê tín dị đoan, thường được người Lự tổ chức trong 3 ngày (phần lễ diễn ra 1 ngày và phần hội tổ chức trong 2 ngày).

Người Lự chuẩn bị chu đáo cho lễ cúng rừng từ việc chọn thầy cúng tới đồ tế lễ. Lễ cúng do năm người đàn ông tiến hành (gồm 1 thầy cúng chính và 4 thầy phụ cúng), thường là những người mạnh khỏe, có uy tín trong cộng đồng. Để lựa chọn được những người trực tiếp cúng thần rừng, người dân sẽ cho mỗi người bốc một nhúm gạo, sau đó đếm, chọn 5 người có số hạt chẵn lớn nhất được bầu làm thầy cúng. Hình thức tuyển người này tiếng Lự gọi là “kiếp khẩu”, được lưu truyền từ nhiều thế hệ, nhằm đảm bảo tính công bằng trong cộng đồng mỗi khi cần tuyển lựa người có uy tín, đảm đương công việc mà cộng đồng giao phó.
 
Thầy cúng đang thực hiện Lễ cúng rừng (hay còn gọi là “Căm nung”) ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường. Ảnh: TTXVN

Đồ cúng tế trong lễ cúng rừng là những sản vật do người dân trong bản tăng gia sản xuất và được chuẩn bị chu đáo như một con lợn đen, sáu con gà trống, rượu trắng và một số thực phẩm khác. Các nhóm hộ trong bản được giao luân phiên chuẩn bị đồ cúng tế. Qua đó, mọi người đều thấy được trọng trách của mình, tăng tính cấu kết cộng đồng qua lễ cúng rừng thiêng.  Trong quá trình chế biến đồ cúng tế, tuyệt đối không được dùng ớt làm gia vị, cơm không được nấu cháy, rượu không để bị khê. Người Lự quan niệm, nếu phạm những điều này, vụ lúa của bản sẽ thất bát do sâu bệnh hại, người vi phạm các điều cấm này sẽ bị dân bản phạt vạ.

Trong quá trình làm cỗ cúng thần rừng, sau khi cắt tiết gà, tiết lợn, một phần tiết sẽ được bôi lên các phên mắt cáo và treo nơi đầu bản và trước hiên nhà các hộ dân cùng với cành cây xanh – cảnh báo thời điểm kiêng người lạ ra vào bản.

Lễ cúng rừng thường được tổ chức ở khu vực rừng tự nhiên, rừng thiêng gần bản, nơi có nhiều cây gỗ lớn, gần nguồn nước và thuận tiện tiến hành các nghi lễ. Lễ cúng bắt đầu từ khi mặt trời vừa lên và diễn ra không quá giờ ngọ với những luật tục kiêng kỵ rất khắt khe. Những người tham gia phục vụ và các thầy cúng được tuyển lựa kỹ, ăn mặc gọn gàng, không được để đầu trần, chân đất. Thành phần tham gia lễ là đại diện các hộ dân trong bản và phải là con trai bất kỳ già hay trẻ.

Lễ cúng sống và cúng chín với những nghi thức thiêng liêng do chủ tế khởi hành, lời bài cúng thường mang hàm ý cảm tạ đất trời, thần linh và đấng siêu nhiên trú ngụ trong rừng thiêng của bản đã bảo vệ người dân thoát khỏi điều xấu, mùa màng bội thu, người người no ấm và mong vụ sau cũng nhiều thắng lợi.

Ông Tao Văn Thanh, bản Phiêng Lót, xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ cho biết: Sau khi hoàn tất việc cúng tế, đàn ông, trai tráng trong bản sẽ cùng vui liên hoan và không quên chia phần cho những người trong gia đình không được trực tiếp tham gia như người già, trẻ nhỏ, phụ nữ... Trong buổi liên hoan ấm áp tình làng nghĩa xóm ấy, mọi người cùng bàn về sản xuất trong mùa tới, cách bảo vệ, phát triển rừng và không vi phạm hương ước của bản. Tiếp đó, người dân trong bản từ người già đến nam thanh nữ tú, trẻ em sẽ mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình cùng tham gia các trò chơi dân gian như cà kheo, đánh cầu lông gà, đẩy gậy, kéo co và giao lưu văn nghệ.
 
Người dân tộc Lự ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường (Lai Châu) trong trang phục truyền thống tham gia trò chơi đẩy gậy trong khuôn khổ Lễ hội. Ảnh: TTXVN 

Đây là phần sôi động nhất, qua đó tạo không khí giao lưu, giao hữu kết nối người dân trong bản. Đây cũng là dịp để người Lự phô diễn nét đẹp trong nghệ thuật biểu diễn văn nghệ dân gian của dân tộc mình. Những phụ nữ Lự nhuộm răng đen nhánh, trong bộ trang phục truyền thống cùng hát vang vũ khúc “Leo bo” ca ngợi cuộc sống ấm no nhờ rừng, tình làng nghĩa xóm đoàn kết bền lâu. Thời gian gần đây, lời bài hát có phần được cải biên ca ngợi công ơn của Đảng, Bác Hồ kính yêu đã mang lại hạnh phúc, ấm no, độc lập tự do cho dân tộc. Lời bài hát cất lên trong tiếng dìu dặt khèn bè tạo nên nét văn hóa độc đáo chỉ thấy ở cộng đồng dân tộc Lự.

Theo bà Tẩn Thị Quế, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu, việc tổ chức lễ cúng rừng góp phần phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có lồng ghép đưa yếu tố văn hóa mới tiến bộ, phù hợp với nhu cầu hưởng thụ văn hóa và tâm linh của đồng bào. Qua góp phần thúc đẩy phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, loại bỏ yếu tố lạc hậu, hủ tục không phù hợp trong đời sống cộng đồng.

Đây còn là dịp để đồng bào hội tụ, giao lưu văn hóa, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống dân tộc. Cùng với đó là tạo điều kiện để các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trò chơi dân gian của dân tộc Lự được bảo tồn, phát triển, kết hợp giữa văn hóa truyền thống và văn hóa đương đại, góp phần xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Công Tuyên

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Người Lự ở Bản Hon

Từ thị xã Lai Châu, theo quốc lộ 4D về phía Đông Nam khoảng 20 km, du khách sẽ đến xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Cộng đồng người Lự ở Lai Châu vẫn giữ gìn những sắc thái văn hóa tộc người độc đáo như nghề dệt vải thổ cẩm, cư trú ở nhà sàn, trang phục truyền thống, tục nhuộm răng đen...
Nhà sàn của người Lự

Nhà ở của người Lự là nhà sàn, có 1 chiếc cầu thang lên xuống. Căn nhà luôn có hai mái, mái phía sau ngắn hơn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cả hàng hiên và cầu thang lên xuống. Cửa ra vào của nhà chủ yếu mở theo hướng Bắc. Gầm sàn sạch sẽ, hầu hết các gia đình dùng làm nơi để trữ củi khô, khung cửi và một số đồ dùng khác. Bên trong nhà sàn của người Lự thường dành 1 gian giữa để thờ cúng và con dâu trong gia đình không được vào gian này. Nhà bếp thì nối trực tiếp với căn nhà chính, do vậy khi bước chân vào nhà thì thấy ngay nhà ở và nhà bếp là một thể liên hoàn chứ không tách rời nhau.

Nghề dệt - thước đo sự khéo léo của phụ nữ Lự

Từ lâu đời, đồng bào đã biết trồng bông, nuôi tằm kéo sợi dệt vải để phục vụ cho nhu cầu may mặc của cộng đồng. Đa số phụ nữ Lự đều giỏi trong nghề dệt vải, thêu thùa. Người con gái trước khi lấy chồng đều thành thạo công việc may vá, thêu dệt. Tại Bản Hon, huyện Tam Đường, người dân vẫn tự dệt và mặc trang phục truyền thống. Trong mỗi hộ gia đình của người Lự đều có khung dệt vải, các dụng cụ chế biến sợi như xe quay sợi, giàn phơi sợi. Dưới nhà sàn luôn đặt khung dệt vải. Thợ dệt luôn bận rộn bên khung dệt.


Nguyên liệu dệt chủ yếu là bông vải trồng trên rẫy. Thuốc nhuộm vải cũng được đồng bào khai thác và tự chế biến để tạo nên nhiều màu sắc khác nhau. Đôi tay của phụ nữ Lự lúc nào cũng thấy dính màu chàm vì ngày nào cũng phải đụng chạm đến dung dịch thuốc nhuộm. Trước sân nhà của người Lự, nhất là những ngày nắng ấm, luôn thấy những giàn phơi sợi hong khô những khoanh sợi vừa nhuộm màu. Sản phẩm dệt của người Lự khá phong phú về chủng loại và trang trí hoa văn, họa tiết rất độc đáo.

Ngoài quần áo, váy, người Lự còn sản xuất các loại túi, khăn, địu... Túi thổ cẩm của dân tộc Lự là một sản phẩm có giá trị thẩm mỹ. Túi có nhiều kích cỡ khác nhau, được trang trí hoa văn, họa tiết và đính vào thân túi, dây đeo nhiều nhúm bông có màu sắc sặc sỡ. Túi thổ cẩm chẳng những để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn như là vật trang sức.

Độc đáo trang phục cổ truyền của đồng bào Lự

Phụ nữ Lự ăn mặc đẹp và cầu kỳ. Bộ trang phục truyền thống gồm khăn đội, áo váy, thắt lưng cùng với bộ trang sức đi kèm. Áo tứ thân dài tay may bằng vải chàm, được ghép liên kết với nhau từ 6 miếng vải cắt theo hình rẻ quạt làm cho chiếc áo có vạt xòe rộng so với eo. Trên thân áo thường gắn nhiều đồng tiền bạc hoặc kim loại, phía bên trái thêu những đường chỉ nhỏ hình gióng trúc chạy từ cổ thẳng xuống vạt áo. Ở giữa thân áo có thêu tạo nét đẹp thẩm mỹ và sự cân đối cho chiếc áo. Tay áo dài, thon dần đến cổ tay. Hai bên vạt áo được đính hai dây vải hoa, dải dây bên sườn phải có 5 tua bằng sợi len các màu có xâu hạt cườm. Chiếc áo được điểm xuyết các hoa văn dệt và hoa văn ghép vải. Vòng quanh eo áo từ phía trước ra phía sau là hoa văn ghép vải. Gần cổ tay và sát nách có thêu đường hoa văn nhỏ. Cổ áo liền với nẹp ngực gồm 5 miếng vải khác màu khâu lại với nhau. Miếng vải ở giữa được đáp những hình quả trám màu xanh đỏ nối tiếp nhau.
 

Khăn đội đầu được làm bằng vải bông, nhuộm chàm đen dài khoảng trên 4 m, rộng 0,3 m, hai đầu khăn có tua dài khoảng 0,2 m. Trên nền đen của hai đầu khăn dệt xen kẽ 18 đường chỉ trắng khá rõ nét, đây là dấu ấn để nhận biết sự khác nhau giữa người Lào và người Lự. Vì người Lào cũng mặc trang phục giống như người Lự nhưng chiếc khăn quấn đầu không có những đường kẻ trắng như vậy.

Trang phục nam giới cũng là màu chàm đen, nét đặc biệt là trên áo nam, phần cúc áo được chị em đính tay bằng những nút thổ cẩm được khâu, đan cầu kỳ, kết hợp các chùm cúc bạc. Cổ áo được làm theo kiểu cổ cao 3 phân, thêu và ghép hoa văn hình tam giác, hình vuông mà xanh, đỏ. Hai bên sườn được khâu hai túi với đường viền hoa văn tinh tế, tạo cho chiếc áo thêm nét mạnh mẽ, nam tính. Những chiếc áo này dành cho các chú rể hoặc các trai làng mặc trong các lễ hội như cúng rừng, lễ mừng mùa...

Nhuộm răng đen - nét đẹp văn hóa của người Lự

Người Lự ở Bản Hon còn giữ nguyên tập tục nhuộm răng có từ thời xa xưa. Khi đến tuổi dậy thì, các cô gái được mẹ sắm cho dụng cụ nhuộm răng gọi là “pẳng tèm khèo”. Nó là một thanh sắt mỏng, là vật bất ly thân trong suốt cuộc đời của người phụ nữ Lự. Đồng bào dùng cây tỉu - một loại cây có nhựa cay, vị thơm mọc ở rừng sâu để làm nguyên liệu nhuộm răng. Họ thu hái cây này về phơi khô dự trữ trong nhà để dùng dần. Mỗi khi ăn cơm xong hoặc trước khi đi ngủ, các bà các cô thường ngồi bên bếp lửa để tiến hành nhuộm răng. Họ lấy một đoạn cây tỉu đặt vào bếp lửa đốt thành than hồng rồi bỏ vào một cái lon bằng nhuôm, lấy thanh sắt “pẳng tèm khèo” đậy lại. Khi đó cục than hồng đốt nóng làm tan chảy nhựa cây tỉu dưới đáy lon, khói bốc lên nghi ngút và ám nhựa cây có màu đen vào phía dưới thanh sắt. Họ lấy tay trỏ chấm vào nhựa còn đang nóng đưa qua đưa lại trên khắp hàm răng để nhuộm. Nhựa cây bám chặt vào răng.

Đôi bạn răng đen.

Đồng bào Lự thực hành nhuộm răng như là một “nghi thức” không thể quên trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời là phút thư giãn, nghỉ ngơi, làm đẹp của người phục nữ sau ngày lao động mệt nhọc. Nét đặc biệt là trong hàm răng đen tuyền ấy còn điểm xuyết chiếc răng vàng lấp lánh ở hàm trên, ngay ở vị trí chiếc răng khểnh, tạo nên nét đẹp riêng biệt không lẫn với bất cứ tộc người nào.

Bản Hon là một trong nhiều bản làng ẩn chứa những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc ít người tỉnh Lai Châu nói riêng, vùng Tây Bắc nói chung. Tại Bản Hon, các giá trị văn hóa của đồng bào vẫn được giữ gìn như một bảo tàng sống, biểu hiện sức sống mạnh mẽ của đồng bào trước làn sóng du nhập văn hóa của bên ngoài. Nhờ vậy, Bản Hon đang và sẽ trở thành một trong những điểm đến lý tưởng của du khách trên hành trình khám phá "Vòng cung Tây Bắc".
Theo Langvietonline.vn
 

Người Lự với lễ hội Căm Mường độc đáo

Lễ Căm Mường của người Lự (Lai Châu) là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần, nhằm mục đích cầu nguyện một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân bản yên vui no ấm…


Đồng bào Lự chiếm gần 2% dân số, sống chủ yếu ở huyện Sìn Hồ và huyện Tam Đường (Lai Châu).Dân tộc Lự thường cư trú dọc theo các con sông, khe suối. Từ xa xưa, với đời sống ổn canh ổn cư, đồng bào Lự đã biết canh tác lúa nước rất sớm, nên đời sống vật chất của họ tương đối ổn định. Vốn văn hóa tinh thần của dân tộc Lự rất phong phú đa dạng, còn giữ được những nét văn hóa riêng, mang đậm bản sắc dân tộc, đặc sắc và tiêu biểu nhất là Lễ Căm mường (hay còn gọi là Lễ Cấm bản).

Lễ hội Căm Mường chính là dịp để bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối, thần rồng phù hộ cho bà con dân bản no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi. Vì mang ý nghĩa tín ngưỡng, nên dân bản thực hiện rất long trọng và thành kính. Trước khi diễn ra, các gia đình phải làm hết việc đồng áng, nương rẫy. Mấy ngày cấm bản thì mọi người chỉ nghỉ ngơi, đi chơi, không phải lao động. Đồng thời, cấm các gia đình mua các thứ từ ngoài đưa về nhà, nên phải chuẩn bị lương thực, thực phẩm ăn uống trong những ngày cấm.

Lễ hội được tổ chức từ 30 tháng 12 đến 05 tháng 01 Âm lịch hàng năm gồm hai phần:

Phần lễ: Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ. Trong lời của thầy cả đề cập tới lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ và những người sẽ được “thụ lễ” lần này.

Mỗi gia đình người Lự sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ.
 
Khi bắt đầu lễ các thầy lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn. Trong phần lễ này không có khèn, sáo, trống hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang. Bởi theo quan niệm của người Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng, mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí, linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của thầy cúng.

Người Lự ví lễ là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ. Những lễ vật này do dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ, già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc.

Người Lự có truyền thống làm bánh nếp (khẩu nép) để ăn, mời bạn bè, khách đến nhà chơi. Bản không cấm các gia đình mổ gà, mổ ngan, vịt… Nhưng ít ai làm thịt con vật, vì họ cho rằng ngày cúng lễ là cầu cho vật nuôi không bị dịch bệnh, phát triển tốt.

Phần hội: Các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình. Những lời hát nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no hạnh phúc.

Cùng với các bài hát thì các trò chơi như kéo co, đẩy gậy. Nó thể hiện sức mạnh của mỗi người, đồng thời nếu ai thắng sẽ gặp may mắn trong năm tới, còn ai thua sẽ là gặp không may. Kết thúc lễ hội mọi người cùng té nước để cầu may, cũng như gột rửa những điều không may mắn.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Độc đáo tục “nhuộm răng đen” của người Lự ở Lai Châu

Nhuộm răng đen đã trở thành một tập tục văn hóa độc đáo của một số dân tộc. Đối với người Lự, phụ nữ răng càng đen, càng bóng thì càng đẹp, càng hấp dẫn…
Dân tộc Lự là một trong số ít các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam mà bản sắc văn hóa, lối sống, sinh hoạt và phong tục tập quán hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Người Lự cũng luôn đề cao đời sống văn hóa tinh thần, có cuộc sống lạc quan, yêu đời và rất dễ gần.

Đến bản người Lự ở xã Nậm Pam, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu bạn sẽ gặp rất nhiều phụ nữ nhuộm răng đen. Nếu như tục nhuộm răng ở người Kinh từ lâu đã không còn, thì cho đến nay, hàm răng đen bóng vẫn là một tiêu chuẩn của nhan sắc đối với người Lự. Phụ nữ Lự từ trẻ đến già đều nhuộm răng đen. Trên hàm răng đen  nhánh hạt na ấy có hai cái răng cạnh bên phải được bịt vàng.

Các cô gái Lự ngày xưa muốn lấy được chồng không thể bỏ qua tục nhuộm răng đen hoặc cấy răng vàng. Nét cười mà khoe ra hàm răng đen, hay chiếc răng vàng thì dường như tươi tắn hơn trong mắt người Lự.

Giá trị thẩm mỹ của tục nhuộm răng đen, giờ đây, có thể người xuôi thấy lạc hậu, song người Lự thì khác, đó không chỉ là cách làm đẹp của riêng họ mà còn là sự tinh tế trong “bí quyết” nhuộm màu độc đáo đã thành truyền thống của dân tộc.

Từ những nguyên liệu như cánh kiến tán nhỏ, vắt nước chanh rừng để khoảng một tuần, khi được thì phết thuốc ấy vào hai mảnh lá cọ rồi ấp vào hai hàm răng vào lúc đi ngủ. Khi nhuộm răng thì phải kiêng nhai. Nhuộm như thế 5, 7 ngày cho răng đỏ già ra màu cánh gián thi bôi thuốc răng đen. Thuốc răng đen làm bằng phèn đen trộn với cánh kiến, nhuộm 1, 2 miếng là đen kịt lại, sau đó lấy dùng dao đốt nóng cho chảy nhựa ra, lấy nhựa ấy phết vào răng sẽ có một nụ cười độc đáo, nhất là vào dịp du xuân thì những nụ cười độc đáo sẽ tràn khắp bản...

Dường như người con gái Lự nhuộm răng đen để ý tứ giữ cho mình những nét duyên, giữ riêng cho người mình yêu những điệu Khắp Lử “Hát Lự” khi màn đêm buông xuống. Khi tiếng sáo “Pấu Pí” đôi của người con trai gửi tình cất lên dìu dặt. Điệu Pấu Pí Khắp như lời gửi tình của đôi trai gái đang tâm sự yêu đương.

Đối với đồng bào Lự, hay một số đồng bào thiểu số miền Tây Bắc, tục xưa đã gắn với bản, với dân tộc thì bằng mọi cách giữ tục như chính sự sống của họ. Giá trị thẩm mỹ của tục nhuộm răng đen giờ đây, có thể người xuôi thấy lạc hậu ở xu hướng tân thời, song đồng bào Lực thì khác, họ cho rằng, đó không chỉ là cách làm đẹp của riêng họ mà còn là sự tinh tế trong “bí quyết” nhuộm mầu của đồng bào mình nên cần lưu giữ một cách kỹ lưỡng.

Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là phong tục nhuộm răng đen đang bị mai một vì lớp trẻ của người Lự giờ không thích nhuộm răng đen. Bây giờ tìm trong bản những người nhuộm răng đen chỉ là phụ nữ có tuổi đời từ 35 trở lên.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn
 

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Lễ cưới người Lự

Lễ cưới của trai gái dân tộc Lự thường diễn ra khi tiết trời đang độ xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa mạ, hoa pon... đua nở.
Lễ cưới là một nghi lễ của đồng bào dân tộc Lự. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục ở rể 3 năm sau đó về làm dâu 2 năm thì đôi vợ chồng được phép ra ở riêng để thành đơn vị gia đình hạt nhân sống trong nếp nhà sàn riêng của mình. Con lấy họ theo cha, tên con trai có chữ đệm Bạ, tên con gái con gái có chữ đệm Ý. Người Lự sống tình nghĩa, thuỷ chung. Vợ chồng rất ít ly dị nhau, nếu trai bỏ vợ, gái bỏ chồng đều bị phạt nặng theo tập tục.

Lễ cưới của trai gái dân tộc Lự thường diễn ra khi tiết trời đang độ xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa mạ, hoa pon... đua nở. Đêm hôm nhà trai đưa lễ vật đến nhà gái, chú rể không được đến nhà cô dâu. Đêm ấy, cô dâu và bạn bè tổ chức hát giao duyên tại sân khuống, tạm biệt bạn bè cùng trang lứa để đi lấy chồng.
Các chàng trai người Lự thường mang sáo đi tìm người yêu. Ảnh daibieunhandan.vn
Ở dân tộc Lự, hồi môn bên họ hàng nhà trai cho ngoài những váy áo, tiền bạc có một điều hết sức thú vị là: đám cưới xong, ngày hôm sau cô dâu đến gánh nước cho họ hàng nhà trai mỗi nhà một gánh; nhà trai trả công cho cô dâu là những con giống như đôi gà, con lợn con hoặc bát đĩa, đồ đan lát... để đôi vợ chồng trẻ làm giống và phát triển sau này. Trong đám cưới không mang nặng tính thách cưới. Khi nhà có đám cưới, những người trong họ cùng chung gánh vác, nếu trường hợp kinh tế khó khăn chưa đủ điều kiện để làm bữa cơm mời họ hàng thì người ta cho nhau nợ, khi nào có điều kiện thì làm được thì trả.

Đến ngày chính lễ, từ sáng sớm ông mối bên nhà trai đến thông báo xin giờ để chàng trai đến ở rể. Nhà gái chuẩn bị một bàn rượu, một bát thịt và một đôi đũa tiếp ông mối. Ông mối quỳ trước họ nhà gái và hát những lời có tính chất thông báo, xin cho chàng trai ở rể. Sau đó nhà gái cho ông mối uống một hớp rượu, ăn một miếng thịt nhằm trả ơn người đã mai mối cho đôi trẻ thành vợ thành chồng. Sau đó đoàn nhà trai đến, dẫn đầu là ông mối. Khi đến chân cầu thang, nhà gái đón tiếp bằng những chén rượu nồng. Mỗi bên đều uống một chén để tỏ lòng thân thiện và đồng ý sự kết duyên của đôi nam nữ. Chủ nhà sắm một lễ gồm đầu, bốn chân và đuôi lợn, gà luộc sẵn trình báo với tổ tiên hôm nay nhà ta có “Kin khéc” (đám cưới con cháu trong nhà). Đoàn nhà trai lên nhà, nhà gái bầy một mâm rượu, đem các lễ vật (của hồi môn cho con gái) trình trước nhà trai như váy, áo, vòng cổ, vòng tay... Trên lễ vật được cắm những bông hoa sặc sỡ (hoa dâm bụt). Cô dâu chú rể lạy trước ông, bà, chú, bác hai bên gia đình. Ông mối hát lời chúc phúc cho hai người thành đôi lứa, sống có ích cho gia đình. Trong thời gian ông mối hát, đôi vợ chồng trẻ vẫn quỳ lạy, đầu chúi xuống chiếu.
Lễ cưới của người Lự (Ảnh: TL)

Ông mối hát chúc phúc xong, hai bên gia đình mỗi người một tay bám vào các lễ vật ý nói chúc cho hai vợ chồng trẻ hạnh phúc, làm ăn phát đạt, sống có ích cho hai bên gia đình nương nhờ. Mỗi người đến dự cưới buộc chỉ cổ tay cho cô dâu chú rể như muốn buộc chặt tình cảm yêu thương của mình, buộc chặt tình yêu của đôi trẻ với gia đình hai bên. Sau đó họ nhà gái phát cho mỗi người một que sáp ong như sự tạ ơn của gia đình đôi trẻ và tình đoàn kết họ hàng thân tộc như mật ong, sáp ong quyện chặt.

Thủ tục hôn lễ đã xong, ông mối mời họ hàng nhà gái và dân bản cùng vui chén rượu chúc cho hai vợ chồng trẻ hạnh phúc, làm ăn phát đạt. Cuộc rượu có thể kéo dài đến đêm. Trong thời gian tổ chức “Kin khéc” chú rể luôn đóng vai trò là người tần tảo tháo vát, lúc chạy vào chỗ này, lúc đến chỗ kia để xem bàn tiệc vơi thứ gì thì kịp thời bổ sung. Một điều thú vị nữa trong 3 ngày tính từ đám cưới chính thức chú rể không được ngồi ghế, chỉ ngồi xổm để tiếp khách. Điều này hàm ý cho bố mẹ nhà gái biết tính chịu khó, siêng năng của chàng rể.
Vẻ đẹp của thiếu nữ người Lự (Ảnh: TL)

Trong đám cưới dân tộc Lự hầu như hát giao duyên, ngay cả lời bàn bạc với nhau cũng là những câu vần điệu. Ngày nay, trong đám cưới người Lự cũng đã bớt đi nhiều thủ tục rườm rà, một số địa phương trai gái yêu nhau khi đã tìm hiểu chín muồi thì tự về ở với nhau (tuy nhiên cha mẹ hai bên đã ngầm đồng ý). Còn lại hầu hết đôi trẻ tự giác đến UBND xã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Bố, mẹ người con trai đến báo với cha, mẹ cô gái rồi tổ chức lễ cưới cho đôi trẻ, tuyệt nhiên không có chuyện thách cưới. 
Theo thegioidisan.vn

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Lễ hội Căm Mường

Lễ hội Căm Mường là một lễ hội của đồng bào dân tộc Lự, tỉnh Lai Châu.
Lễ hội Căm Mường là một lễ hội của đồng bào dân tộc Lự, tỉnh Lai Châu. Đây là dịp để bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối thần rồng phù hộ cho bà con dân bản no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi.

Được tổ chức vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch.
Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ, khi về sẽ có lộc dành cho những người ở nhà. Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ. Trong lời của thầy cả đề cập tới lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ và những người sẽ được “thụ lễ” lần này.

Khi bắt đầu lễ các thầy lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn. Trong phần lễ này không có khèn, sáo, trống hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang. Theo quan niệm của người Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng, mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí, linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của thầy cúng:
"Núi rừng mang hồn nước
Khe suối lượn hình sông
Thần rồng bay lượn múa
Phun nước tưới ruộng đồng
Cho ngô lúa trổ bông
Cho mùa vàng trĩu quả."
Người Lự ví lễ là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ. Những lễ vật này do dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ, già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc.

Các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình. Những lời hát nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no hạnh phúc.

Cùng với các bài hát thì các trò chơi như kéo co, đẩy gậy. Nó thể hiện sức mạnh của mỗi người, đồng thời nếu ai thắng sẽ gặp may mắn trong năm tới, còn ai thua sẽ là gặp không may. Vì vậy mà kết thúc lễ hội mọi người cùng té nước để cầu may, cũng như gột rửa những điều không may mắn.

Tất cả họ hàng dòng tộc, các gia đình trong bản sẽ sống đoàn kết, thương yêu nhau hơn. Các gia đình sẽ phải cố gắng nuôi dạy con cái học hành để có cuộc sống tốt hơn các thế hệ đi trước.

lukhach24h.com

Người Lự với lễ hội Căm Mường độc đáo

Lễ Căm Mường của người Lự (Lai Châu) là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần, nhằm mục đích cầu nguyện một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân bản yên vui no ấm…
Đồng bào Lự chiếm gần 2% dân số, sống chủ yếu ở huyện Sìn Hồ và huyện Tam Đường (Lai Châu). Dân tộc Lự thường cư trú dọc theo các con sông, khe suối. Từ xa xưa, với đời sống ổn canh ổn cư, đồng bào Lự đã biết canh tác lúa nước rất sớm, nên đời sống vật chất của họ tương đối ổn định. Vốn văn hóa tinh thần của dân tộc Lự rất phong phú đa dạng, còn giữ được những nét văn hóa riêng, mang đậm bản sắc dân tộc, đặc sắc và tiêu biểu nhất là Lễ Căm mường (hay còn gọi là Lễ Cấm bản).

Lễ hội Căm Mường chính là dịp để bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối, thần rồng phù hộ cho bà con dân bản no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi. Vì mang ý nghĩa tín ngưỡng, nên dân bản thực hiện rất long trọng và thành kính. Trước khi diễn ra, các gia đình phải làm hết việc đồng áng, nương rẫy. Mấy ngày cấm bản thì mọi người chỉ nghỉ ngơi, đi chơi, không phải lao động. Đồng thời, cấm các gia đình mua các thứ từ ngoài đưa về nhà, nên phải chuẩn bị lương thực, thực phẩm ăn uống trong những ngày cấm.

Lễ hội được tổ chức từ 30 tháng 12 đến 05 tháng 01 Âm lịch hàng năm gồm hai phần:

Phần lễ: Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ. Trong lời của thầy cả đề cập tới lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ và những người sẽ được “thụ lễ” lần này.

Mỗi gia đình người Lự sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ.
 
Khi bắt đầu lễ các thầy lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn. Trong phần lễ này không có khèn, sáo, trống hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang. Bởi theo quan niệm của người Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng, mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí, linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của thầy cúng.

Người Lự ví lễ là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ. Những lễ vật này do dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ, già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc.

Người Lự có truyền thống làm bánh nếp (khẩu nép) để ăn, mời bạn bè, khách đến nhà chơi. Bản không cấm các gia đình mổ gà, mổ ngan, vịt… Nhưng ít ai làm thịt con vật, vì họ cho rằng ngày cúng lễ là cầu cho vật nuôi không bị dịch bệnh, phát triển tốt.

Phần hội: Các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình. Những lời hát nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no hạnh phúc.

Cùng với các bài hát thì các trò chơi như kéo co, đẩy gậy. Nó thể hiện sức mạnh của mỗi người, đồng thời nếu ai thắng sẽ gặp may mắn trong năm tới, còn ai thua sẽ là gặp không may. Kết thúc lễ hội mọi người cùng té nước để cầu may, cũng như gột rửa những điều không may mắn.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

Nét riêng của người dân tộc Lự (Lai Châu)


Người Lự là một dân tộc ít người trong cộng đồng 54 dân tộc anh em của Việt Nam. Theo số lượng mới thống kê gần đây cả nước chỉ có gần 4.000 người dân tộc Lự và họ sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng cao thuộc các huyện Tam Đường, Tân Uyên,  Sìn Hồ (Lai Châu).
Người Lự còn có tên gọi khác là Lào Lự, Lữ, Nhuôn, Duôn và được xếp vào nhóm ngôn ngữ Tày – Thái.

Người  dân tộc Lự biết làm ruộng nước từ lâu đời và còn làm thêm nương rẫy để trồng  ngô, khoai, sắn.

Nghề trồng bông dệt vải phát triển ở hầu hết  gia đình người Lự. Phụ nữ Lự có bàn tay thêu thùa khéo léo, may, dệt trang phục cho cả gia đình; nhất là váy, áo, khăn của thiếu nữ về nhà chồng trong ngày hôn lễ được thêu hoa văn thổ cẩm trang trí  trên nền vải nhuộm chàm rất đẹp.

Theo phong tục của người Lự khi đặt tên con thì lấy họ theo cha đẻ, nếu là con trai tên đệm giữa họ và tên  ghi là  Bạ, còn nếu là  con gái thì tên đệm là Ý. Người dân tộc Lự sống có trước có sau và đặc biệt vợ chồng rất thủy chung với nhau. Nếu vì lý do nào đó mà vợ chồng phải ly dị thì họ sẽ bị dòng họ và dân làng phạt rất nặng.

Người Lự rất thích hát dân ca của dân tộc mình, say sưa chơi các loại nhạc cụ truyền thống như sáo, nhị, trống trong các ngày lễ, ngày hội của bản làng. Bên cạnh đó, nhiều trò chơi dân gian được thanh niên ưa thích như ném én, kéo co.

Theo truyền thống, người Lự sinh sống ở nhà sàn, nhà có hai mái, mái phía sau ngắn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cho cả hàng hiên và cầu thang lên xuống. Cửa ra vào của nhà ở chính mở theo hướng Tây Bắc. Trong nhà có hai bếp lửa, một bếp để nấu ăn cho gia đình hàng ngày và một bếp để đun nước tiếp khách khi tới thăm nhà.

Phụ nữ dân tộc Lự mặc áo chàm, xẻ ngực; váy may bằng vải chàm đen, có thêu hình hoa văn thổ cẩm  thành hai phần trang trí do vậy thoáng nhìn ta có cảm giác như chiếc váy có hai tầng vải ghép lại. Thiếu nữ Lự đeo vòng cổ trang sức  được làm bằng bạc chạm khắc rất tinh sảo và  khăn đội đầu được cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường viền thêu hoa văn thổ cẩm đẹp mắt. Nét độc đáo nhất của phụ nữ Lự là phong tục nhuộm răng đen có điểm xuyết một vài chiếc răng bằng vàng giả trông khá ngộ nghĩnh.

Mấy năm gần đây một số bản làng của người Lự ở tỉnh Lai Châu đã trở thành điểm du lịch văn hóa sinh thái hấp dẫn du khách quốc tế. Nét đặc biệt của người Lự là rất quý khách tới thăm nhà và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách chụp ảnh, tìm hiểu phong tục tập quán nhưng không đòi hỏi thù lao như ở nơi khác.
Nguồn: dulichvn

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam: Người Lự


Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) ít nhất cũng trước thế kỷ XI - XII. Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiều ruộng đồng.
Tên tự gọi: Lừ, Thay hoặc Thay Lừ.
Tên gọi khác: Phù Lừ, Nhuồn, Duồn.
Nhóm địa phương: ở Việt Nam chỉ có nhóm Lự Ðen (Lừ Ðăm) ở xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu), phân biệt nhóm Lự Trắng (Lừ Khao) ở Síp Song Păn Na (Trung Quốc).
Dân số: 3. 684 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) ít nhất cũng trước thế kỷ XI - XII. Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiều ruộng đồng. Vào thế kỷ chiến tranh người Lự phải phân tán đi khắp nơi, một bộ phận nhỏ chạy lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ, Sìn Hồ.

Cũng như các dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái, người Lự chú trọng giải quyết các nhu cầu về vải. Công việc làm ra vải cho mặc, làm chăn đệm hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm.

Cũng như các dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái, người Lự chú trọng giải quyết các nhu cầu về vải. Công việc làm ra vải cho mặc, làm chăn đệm hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm.
Hoạt động sản xuất: Người Lự sáng tạo ra hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thuỷ nhập điền. Ruộng trồng lúa nếp theo kỹ thuật cấy mạ hai lần. Có nơi đã biết dùng phân xanh, rác rưởi và phân chuồng để bón ruộng. Họ làm nương phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày do tiếp thu từ người Hmông. Nghề dệt phát triển. Dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa văn đẹp. Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng. Hái lượm, săn bắt, đặc biệt đánh cá ở suối là hoạt động thường xuyên.

Ăn: Người Lự ăn xôi, ưa thích các món chế biến từ cá, trong đó có món nộm chua với thịt cá tươi. Lợn, trâu, bò chỉ mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán.

Mặc: Nữ mặc áo chàm, xẻ ngực. Váy nữ bằng vải chàm đen, có thêu dệt thành hai phần trang trí, dễ cảm giác như váy có hai tầng ghép lại. Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc. Ðầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc. Nhuộm răng đen. Ðeo vòng tay bằng bạc, bằng đồng.

Nam mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen. Ðàn ông thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là tập quán trang trí.

Ở: Người Lự cư trú ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ, Ðiện Biên (Lai Châu). Nhà sàn 4 mái, mái kéo dài che làm hiên sàn nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm ra vải. Trong nhà có chăn, đệm, màn, rèm; bếp ở giữa nhà.

Phương tiện vận chuyển:
Gùi, trâu kéo, ngựa thồ.

Quan hệ xã hội:
Quan hệ láng giềng là chủ đạo. Họ theo tập quán tương trợ giữa các gia đình trong lao động sản xuất, khi làm nhà mới, cưới xin ma chay.

Hai họ - Pu Da (nội) và Ta Nai (ngoại) là quan trọng nhất.

Cưới xin: Người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều với câu tục ngữ "dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ". Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục ở rể 3 năm sau đó về làm dâu 2 năm thì đôi vợ chồng được phép ra ở riêng để thành đơn vị gia đình hạt nhân sống trong nếp nhà sàn riêng của mình. Có ba bước cưới xin:

    + "Ăn giáp tối": lễ nhập phòng.
    + "Ăn mới": tổ chức ăn uống và nhà trai dâng lễ vật cho nhà gái trong đó phải có một thanh gươm.
    + "Ðón dâu".

Sinh đẻ: Khi đầy tháng nhờ ông máy đem bút vót bằng cây guột và một mảnh vải trắng đĩa mực tàu đến bói và tìm tên cho trẻ nhỏ. Ðặt trứng gà lên bát gạo, ông máy gieo hạt gạo lên trông trứng xem chẵn, lẻ. Nếu ứng đúng như ông xướng thì lấy tên đó đặt cho trẻ và ghi tên vào mảnh vải rồi trao lại cho bố mẹ giữ lấy làm khai sinh. Nữ thường có tên là Kẻo (Ngọc) và nam là Khăm (Vàng)...

Phụ nữ Lự dùng vải đen chàm để làm màu nền của váy, áo, khăn và kiêng màu trắng. Họ thêu các mảng viền hoa văn quả trám ngang, dọc tạo thành váy hai tầng. áo có đeo các vòng bạc ở ngực, mặc theo kiểu chéo vạt cài dải ở bên hông trái. 

Phụ nữ Lự dùng vải đen chàm để làm màu nền của váy, áo, khăn và kiêng màu trắng. Họ thêu các mảng viền hoa văn quả trám ngang, dọc tạo thành váy hai tầng. áo có đeo các vòng bạc ở ngực, mặc theo kiểu chéo vạt cài dải ở bên hông trái.
Ma chay: Khi có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang. Mổ một trâu đen (không trắng) để cúng tiễn hồn về cõi hư vô. Quàn thi thể ở nhà 3 ngày rồi thuê 8 người ngoài họ để khiêng ra rừng ma. Chôn không đắp thành mồ. Những người đi đưa đám trước khi lên nhà phải tắm rửa sạch sẽ. Bà con gần gũi thuộc họ nội của người chết phải kiêng 3 ngày không lao động sản xuất.

Nhà mới:
Kiêng không làm lễ lên nhà mới vào giữa trưa. Sau khi quét sạch nhà, mời 4 cụ già ngoài họ đến uống rượu quanh một cái chậu có 4 chén rượu đặt ở giữa nhà. Một chàng trai trẻ đến bên cửa ra vào, ngồi xổm và cất tiếng xin mua nhà, các cụ đang uống rượu đáp: "chủ nhà sắp đến nhận rồi". Vợ chồng chủ nhà đã đứng sẵn ở chân cầu thang. Chồng mang một cái chài trên vai, vợ gánh một bên là kiềng và một bên là chõ xôi; chồng trước, vợ theo sau leo lên cầu thang, đặt đồ vào nhà. Tiếp theo, hai thiếu nữ thắp hai bó đuốc bước lên nhà. Một cô khác ở đầu cầu thang cầm ống nước để dập tắt lửa cháy ở bó đuốc đi đầu. Người thứ hai, cầm bó đuốc vẫn cháy sáng, đưa đến nhóm lửa ở bếp. Ngọn lửa phải giữ cho cháy suốt 3 ngày 3 đêm. Chủ nhà làm lễ thờ tổ tiên bằng cỗ đầu lợn. Dân bản được mời ăn cỗ uống rượu, mọi người vui hát theo điệu sáo đôi.

Thờ cúng: Người Lự thờ cúng tổ tiên ở gian "hóng" trong nhà, mỗi năm một lần vào tháng giêng theo lịch Lự, tương đương với tháng 10 âm lịch; thắp thêm 10 ngọn nến sáp ong ở quanh mâm cỗ. Ông "chủ đầu" (chảu hô) đọc bài cúng. Vào tháng giêng có lễ cúng bản gọi là "kiêng bản" (căm bản) với mâm cỗ 3 yến lợn đều cúng dựng ở đầu bản và cạnh sông, suối. Vào tháng 3 mồng 3 có lễ cúng ở khu "rừng thiêng" (đóng căm) với mâm cỗ 3 yến lợn và cũng như thế, tháng 6 mồng 6 với mâm cỗ 6 yến lợn. Sau khi "chủ đầu" làm lễ xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi và kiêng nội bất xuất, ngoại bất nhập từ 3 đến 9 ngày gọi chung là "kiêng bản kiêng mường".

Lễ tết: Cách đương đại 3 thế hệ về trước, khoảng 60-70 năm, người Lự còn thực hiện những nghi lễ Phật giáo gọi là bun như: lễ mừng năm mới (bun pi mày) vào tháng giêng; lễ té nước (bun huất nặm) vào tháng11, tháng 12 và lễ thả ống pháo sáng (bun bẳng phay) vào tháng 2, 3 theo âm lịch Lự.

Lịch: Có lịch riêng - tháng giêng là tháng10 âm lịch.

Học: Người Lự có sử dụng chữ theo mẫu tự Pali. Người ta lấy gai hoặc que sắt nhọn làm bút viết trên lá cọ rừng ghi nhiều loại truyện thần thoại, cổ tích. Cũng có thể vỏ cây guột khô, vót nhọn, chấm mực tàu viết trên miếng vải trắng. Xưa kia, trẻ 7-8 tuổi có tập quán đến học chữ của ông "chẩu hua" (sư).

Văn nghệ: Hát Lự (Khắp Lử) là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Theo lối hát này (ỉn khống). Xưa, vào lúc màn đêm buông xuống, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói trải giữa sân say sưa hát, thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm.

Chơi: Người Lự có các trò chơi kéo co, ném én. Nam thanh niên thích múa gươm.

(Theo Uỷ ban Dân tộc)