Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt M’nông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt M’nông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2019

Dây mây rừng trong đời sống đồng bào M'nông

Cũng giống như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, đồng bào M’nông khai thác và sử dụng nhiều loại cây có trong rừng làm nguyên liệu phục vụ cho việc sinh hoạt hằng ngày. Trong đó, dây mây rừng là nguyên liệu đặc biệt không thể thiếu sử dụng cho nghề đan lát, dùng làm dây cột các vật dụng…
Trước kia, trong xã hội người M’nông, theo sự phân công lao động của nền kinh tế tự cung tự cấp, đan lát mây tre là nghề dành cho đàn ông. Mọi dụng cụ phục vụ cho sinh hoạt hay canh tác nương rẫy đều từ đôi bàn tay khéo léo của những người đàn ông nhiều lứa tuổi làm ra. Rừng tre nứa, lồ ô, song mây bạt ngàn của núi rừng Tây Nguyên xưa kia là nguồn cung cấp vô tận cho công việc này.
 
Chiếc gùi làm từ mây, tre

Trong các vật dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt, lao động sản xuất hằng ngày, có nhiều vật dụng tinh xảo được làm từ sợi dây mây rừng như dụng cụ săn bắt voi, các loại gùi, dần, sàng, nia… Trong đó, khá độc đáo là bộ dụng cụ săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, lượng dây mây được sử dụng nhiều nhất để tạo hình dụng cụ hay cột bảo đảm độ bền, chắc. Chẳng hạn, chiếc vòng số 8 (còn gọi là cùm chân voi) được làm từ 3-5 sợi dây mây dài quấn tròn lại, sau đó dùng một sợi mây (chẻ đôi sợi dây mây nguyên) cột và siết chặt ở giữa tạo thành số 8 để cùm hai chân voi (trong quá trình thuần dưỡng voi rừng thành voi nhà); hay bành voi được đan bằng dây mây theo kiểu tổ ong thành các tấm đan khác nhau, sau đó cột các điểm kết nối tạo thành một chiếc bành voi vững chắc...
 
Chiếc bành voi được đan từ dây mây rừng

Các vật dụng sinh hoạt như gùi, dụng cụ bắt cá, săn bắt thường có những hoa văn được tạo hình chính bằng dây mây trên mép và quai đeo một cách tỉ mỉ, chi tiết (hình đường xương cá, hình con cuốn chiếu, xà gạc, bông zớn…). Ngoài ra, dây mây còn được trang trí trên cây nêu, cột hom tranh, lá mây dùng lợp mái nhà, đan giỏ treo các vật dụng nhỏ như yăng ké đựng rượu cần, nồi đất, quả bầu, làm dây nỏ…

Dây mây được các nghệ nhân đan lát người M’nông chọn bởi tính năng bền, bóng, dẻo. Mỗi khi các thành viên trong gia đình đi rẫy, vào rừng, đi chơi xa gặp dây mây đều tranh thủ lấy về treo trên dàn bếp, tích lũy đến khi cần thì sử dụng. Ngày nay, rừng bị khai thác, diện tích ngày càng bị thu hẹp và cạn kiệt, nguồn nguyên liệu dây mây cũng mất dần. Cuộc sống hiện đại, đồng bào M’nông cũng đã chuyển sang sử dụng các vật dụng sinh hoạt, canh tác được sản xuất công nghiệp. Họ không còn mặn mà với nghề đan lát truyền thống của ông bà tổ tiên vốn đã tồn tại nhiều đời nay. Nhiều vật dụng đan lát trở thành vật kỷ niệm, được treo trên giàn bếp, thành vật trang trí và ngày càng mờ nhạt trong ý thức bảo tồn văn hóa của thế hệ trẻ hiện nay.
Theo baodaklak.vn

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

Trang phục truyền thống của người M'Nông

Trang phục truyền thống của người M'Nông có nhiều nét đặc biệt. Đàn ông đóng khố, mình để trần hoặc mặc áo sát nách hay quàng một tấm vải vắt chéo ngang vai. Có hai loại khố: khố dệt bằng sợi trắng và khố dệt bằng sợi từ vỏ cây. Khố có hoa văn chạy dọc theo hai bên mép vải, hai đầu khố có tua dài.
Hạt cườm được xâu thành những sợi để đeo trên cổ, trên tay hoặc buộc trên đầu

Trong các lễ hội, đàn ông M’Nông  thường đeo vòng đồng, vòng bạc ở  cổ tay, buộc trên đầu khăn màu đen  hoặc khăn thổ cẩm.


Phụ nữ M'nông trong trang phục truyền thống

Ngày xưa, phụ nữ M’Nông để ngực  trần, mặc váy. Váy gồm hai loại: váy  dệt bằng sợi vỏ cây và váy dệt bằng  bông  vải  với  hoa  văn  sặc  sỡ.  Người nào không đeo vòng chân thì mặc  váy  dài  đến  gót  chân.  Ngày  nay,  phụ  nữ  M'Nông  thường mặc váy dài, áo ngắn  tay hoặc dài tay.

Trang phục truyền thống của đàn ông và phụ nữ M'nông

Trang sức không thể thiếu  của  phụ  nữ  M’Nông  là  bông  tai.  Bông  tai  thường  được  làm bằng gỗ, ống tre, nứa cắt  ngắn,  đồng  hay  vàng,  bạc.  Phụ  nữ  M’Nông  còn  đeo  hạt  cườm  ở  cổ  và  cổ  tay.  Ngón  tay của họ được tô điểm bằng  những  chiếc  nhẫn  bạc,  đồng  hoặc bằng sừng trâu...

Trang phục truyền thống góp phần tô đẹp thêm không gian văn hóa của người M'nông

Sơn Lâm

Độc đáo Lễ cưới của người M'nông Prâng

Lễ cưới của người Mnông Prâng là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang đậm bản sắc riêng biệt.
Nghi thức trùm chăn. Ảnh: daklakmuseum.org.vn

Theo tín ngưỡng của đồng bào M'Nông, ngoài hệ thống nghi lễ nông nghiệp và một số lễ hội lớn của cả cộng đồng như lễ Nglăp Bon, lễ cúng bến nước, lễ Tach Năng…, từ lúc còn là thai nhi đến lúc chết, thành viên nào trong gia đình cũng được trải qua một số nghi lễ, trong đó, lễ cưới là một lễ lớn và hết sức quan trọng của hệ thống nghi lễ vòng đời người.

Vào ngày cưới, đoàn người của nhà trai đem lễ vật sang nhà gái để làm lễ cưới (Nkắp Kông). Nhà gái, già làng, đội chiêng, đội múa cùng bà con trong bon đứng hai bên đón nhà trai. Nhà gái đón nhận lễ vật, trong đó có 1 ché rượu, 1 con heo quay, 1 con gà trống.

Đại diện nhà gái lấy xà gạc gõ lên đầu con heo để xác nhận nhà trai đã mang đầy đủ lễ vật tới. Nhà gái chuẩn bị ché rượu, cơm lam, thịt nướng, khố, váy hoa, chuỗi cườm, chuỗi vòng kết bằng chỉ.

Ché rượu nhà trai mang tới (rượu N’đắp) được đặt giữa nhà. Các cô bên nhà gái sẽ rót nước vào ché cho đầy. Sau đó, cô dâu, chú rể và những người đại diện hai họ sẽ được đeo lên cổ một chiếc vòng (brai yum) bằng chỉ nhiều màu sắc sặc sỡ do chính tay cô dâu kết, hoặc một chuỗi cườm (yong ruân). Những chiếc vòng này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó là từ giờ phút này trở đi hai bên đã có một sự ràng buộc lẫn nhau, mặt khác nó còn thể hiện sự khéo léo của cô gái. Sau đó già làng lấy rượu bôi vào trán cô dâu chú rể.

Nhà gái chuẩn bị cơm lam, thịt nướng. Ảnh: daklakmuseum.org.vn

Trong lễ cưới của đồng bào M'nông không thể thiếu một nghi thức hết sức quan trọng – đó là nghi thức trùm chăn và trao vòng đồng (kôông nkăp) cho cô dâu chú rể.

Bà mối cầm một cái chăn bằng thổ cẩm truyền thống do nhà trai sắm cho cô dâu chú rể, miệng cầu khấn, chúc phúc cho cô dâu chú rể có một cuộc sống hạnh phúc đến đầu bạc răng long, sinh được con năm, con bảy…

Tiếp đến, bà mối xô ngã cô dâu chú rể nằm xuống và trùm tấm chăn lên trước sự chứng kiến của đông đảo bà con hai họ. Kể từ giờ phút này trở đi, đôi trai gái chính thức trở thành vợ chồng, được ăn cùng mâm, ngủ cùng giường và bắt đầu một cuộc sống mới.

Cô dâu chú rể trao vòng cưới cho nhau, cha mẹ chàng trai đeo chuỗi cườm lên cổ và chiếc vòng đồng vào tay người con dâu, cha mẹ cô gái cũng làm như vậy để thừa nhận con rể của mình. Cô dâu biếu bố mẹ chồng 1 chiếc váy hoa, bố chồng 1 chiếc khố do cô dâu dệt. Những người khác trong dòng họ lần lượt lên trao vòng cho cô dâu chú rể, họ đút cho cô dâu chú rể ăn, uống rượu như một cử chỉ để tỏ tấm lòng gần gũi, sẻ chia những đắng cay, ngọt bùi trong gia đình, dòng tộc. Sau mỗi cử chỉ như vậy, hai bên lại thấm nước miếng vào ngón tay và bôi lên trán nhau để xác nhận các mối quan hệ ràng buộc trong dòng tộc. Kể từ đây, cô dâu chú rể phải biết nể trọng những người thân có vai vế lớn hơn mình và tuân thủ những điều cấm kỵ được coi là xúc phạm tới họ theo luật tục của người Mnông.

Hai họ thấm nước miếng vào ngón tay và bôi lên trán nhau. Ảnh: daklakmuseum.org.vn

Sau đó, họ cùng nhau đánh chiêng và ăn uống, họ mời nhau ăn gạo nếp rang giã nhuyễn với ý nguyện cầu cho sự ấm no đến với hai gia đình, dòng tộc. Nhà trai trao cho nhà gái mỗi người một nắm cơm nếp, nhà gái trao cho nhà trai mỗi người một miếng thịt, một ly rượu.

Sau khi ăn uống vui vẻ, hai bên gia đình ngồi lại giao ước với nhau trước sự chứng kiến của chủ hôn hai bên dòng họ và đại diện bà con. Họ sẽ bàn bạc xem chàng trai sẽ ở rể hay cô gái về nhà chồng. Các giao ước này được hai gia đình bẻ các que để ghi nhớ từng mục và đi đến thống nhất. Nếu chú rể rước dâu thì sẽ cột 1 ché rượu và nhà gái cử một đoàn đại diện để đưa cô dâu về nhà chồng. Lúc đó, cô dâu phải chuẩn bị cho bố mẹ, cô dì, chú bác, anh em bên chồng mỗi người 1 bộ trang phục, nếu không đủ quần áo thì có thể mang thêm tiền để biếu đủ họ hàng nhà chú rể.

Ngày nay, mặc dù ít nhiều chịu ảnh hưởng của lối sống hiện đại nhưng đồng bào Mnông Prâng vẫn luôn giữ được nét đẹp văn hóa truyền thống đặc trưng của dân tộc mình. Họ đã biết loại bỏ những thủ tục rườm rà, thay vào đó là những yếu tố tích cực phù hợp với xu thế hiện nay và chắt lọc giữ gìn những tinh hoa văn hóa truyền thống.
Theo cinet.vn
 

Độc đáo lễ lấy rơm của người M'nông

Người M’nông là cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề canh tác nương rẫy, trồng lúa nên lễ hội nông nghiệp của người M’nông cũng bám theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa rẫy như: những nghi lễ cúng bái, xin phép thần linh trong phát rẫy, tra hạt, gieo trồng, cầu mong cây lúa lên tốt tươi, trổ đòng chắc hạt, trĩu bông cho vụ mùa bội thu.
Họ tin rằng nhờ cúng bái nên thần lúa, mẹ lúa phù hộ, chẳng những cho lúa gạo, hoa màu để ăn mà còn mang đến sự bình an, khỏe mạnh cho gia đình. Trong các nghi lễ liên quan đến mùa màng của người M’nông, lễ lấy rơm là một nghi lễ độc đáo bên cạnh lễ mừng lúa mới.

Khi lúa đã tuốt hết, vụ mùa đã thu hoạch xong, bà con M’nông làm một lễ cúng để lấy rơm về nhà (nsit phe). Ý nghĩa của lễ này là để gọi hồn lúa từ rẫy về kho lúa. Lễ cúng gọi hồn lúa diễn ra ở nhiều nhà trong không khí vui tươi, phấn khởi.

Lễ lấy rơm được tiến hành trong 2 ngày. Ngày đầu tiên là rước hồn lúa về kho. Trước khi đi gọi hồn lúa, chủ nhà chuẩn bị lễ vật gồm: 2 ché rượu (một ché đặt giữa nhà, một ché đặt ở cầu thang lên kho lúa); cột con gà trống ở bậc thang, cắt tiết hòa với rượu cho vào chai, lấy thêm một bầu phe rmit (bột nghệ, bột gạo trộn lẫn huyết gà), một bầu cám… tất cả đựng vào cái gùi nhỏ mang lên rẫy cúng.
 
Tiết ở miệng gà được bôi lên các bao lúa.

Sớm tinh mơ chủ nhà đi lên rẫy, lúc đến đoạn đường rừng thì dừng lại đọc lời khấn thần: “Xin thần rừng, thần núi cho phép tôi đi rước hồn lúa về”. Gần đến rẫy, ông ta chặt một ống le làm kèn thổi để gọi hồn lúa và nhổ một cây hoa (cau gur) màu đỏ tươi cho vào gùi. Khi đến rẫy, các lễ vật được mang ra và bắt đầu cúng. Chủ nhà lấy một nắm rơm, một vài bông lúa (lúc tuốt lúa được giữ lại) cho vào gùi, dùng rượu hòa với huyết gà, bột phe rmit vẩy xung quanh chỗ hồn lúa ở và đọc lời cúng: “Ơi thần! Những bông lúa còn sót lại trong bụi, trong thân cây phải về hết nhà mình. Lúa nhiều ăn cho đủ năm. Gà trong bầy tự đẻ trứng lấy. Đừng gặp chiêm bao xấu, đừng sống nghèo khổ nữa”. Sau khi đọc lời cúng, ông ta nhổ cây n’juh ndrăk (được cắm trong các lễ cúng giữa vụ) bỏ tại rẫy và lấy ống tre (kêp) đựng thức ăn cho hồn lúa mang về. Xong các nghi lễ, chủ nhà gọi mời hồn lúa: “Ơ hồn lúa, hãy theo người về nhà ăn mừng lúa mới, đừng có đi theo con heo rừng, con chuột, con kiến…”. Vừa đi ông ta vừa thổi kèn, rải cám gạo để hồn lúa biết đường theo về, nếu có lội suối thì chặt cây le làm cầu để hồn lúa đi. Về đến nhà, chủ nhà đặt gùi chỗ cầu thang lên kho lúa, thả đầu con gà vào trong nắm rơm và đọc: “Ơ hồn lúa, hãy về chỗ đây” (kho lúa).

Ngày thứ hai cúng tại kho lúa gồm các lễ vật: 1 bầu gạo mới, một trái bí đỏ, huyết heo hòa với rượu, 1 đầu heo, 1 con gà luộc, 1 bát xôi… Người M’nông quan niệm cần có quả bí để hồn lúa gối đầu ngủ, 1 bầu gạo để hồn lúa ở, các thứ còn lại để “kết nghĩa” giữ hồn lúa với chủ nhà. Trong khi cúng, người ta đốt một đèn sáp ong để tiên đoán những điều hên, xui năm tới. Nếu tim đèn cháy thẳng đứng thì năm mới sẽ gặp may mắn, lúa thu hoạch nhiều, gia đình được bình an. Cúng xong, mọi người được vui chơi, ăn uống, chúc năm mới có nhiều lúa, trâu bò, chiêng ché.

Lễ lấy rơm là một nét văn hóa độc đáo cần được gìn giữ, bảo tồn trong đời sống văn hóa của người M’nông ở Tây Nguyên.
Theo badaklak.vn

Mái tóc của phụ nữ M’nông

Con gái nơi đâu cũng biết trang điểm, giữ gìn và nâng niu những nét đẹp trên cơ thể như gương mặt, làn da, mái tóc... Từ lâu, các cô gái M’nông ở vùng Nam Tây Nguyên đã biết khai thác kho mỹ phẩm có sẵn trong thiên nhiên, rừng núi để làm đẹp. Vẻ đẹp trên làn da, mái tóc, làn môi của các cô gái làm say đắm bao chàng trai trong mùa lễ hội buôn làng.
Thiếu nữ dân tộc M'nông. Ảnh: baodaknong.org.vn

Là bộ phận thân thể đậm nét nữ tính, mái tóc được các cô gái miền sơn cước chăm chút nhiều nhất. Tùy theo thẩm mỹ của từng tộc người, lứa tuổi mà họ có cách cắt xắn, để tóc dài ngắn, búi tóc, tạo hình khác nhau. Và hầu như các tộc người đều ưu ái làm đẹp cho dung mạo của mình bằng những món trang sức đặc biệt trên mái tóc. Một đặc điểm nổi bật nhất trên mái tóc của các cô sơn nữ là việc trang điểm, làm đẹp bằng các loại dây buộc tóc.

Dây buộc tóc làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như hạt cườm, dây mây, nan tre, nhựa nhưng phổ biến nhất là bằng vải thổ cẩm. Các thiếu nữ Tây Nguyên giữ được vẻ đẹp hoang sơ, hồn nhiên với da nâu, mắt sáng, mái tóc ửng vàng tựa râu ngô như hòa điệu với sắc màu đất đỏ bazan và màu nắng mật ong cháy bỏng của cao nguyên đại ngàn.

Sau khi tắm gội ở các dòng suối mát, các cô gái chải tóc bằng chiếc lược sừng trâu hay lược làm bằng tre để tóc không bị rối. Vào dịp lễ hội, bên cạnh các loại trang sức như chuỗi hạt, vòng bạc, vòng đồng đeo cổ, khuyên tai, các cô gái thường không quên đeo dây buộc tóc để trang điểm. Thiếu nữ M’nôngthường sử dụng loại dây buộc tóc bằng hạt cườm. Xưa kia họ thu nhặt những hạt cây cỏ xâu lại làm chuỗi cườm để đeo cổ chân, cổ tay và làm dây buộc tóc. Sau này, khi có sự giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài, đồng bào sử dụng hạt cườm nhựa để làm đồ trang sức. Dân tộc M’nông có dây buộc tóc bằng hạt cườm ngũ sắc, gọi là cườm hoa (nhong kach) nổi lên hai màu vàng và đỏ để phân biệt với màu đen, trắng của nam giới.

Lược sừng trâu, lược tre là dụng cụ trang điểm, làm đẹp cổ điển mà các cô gái ngày xưa không thể thiếu trong chiếc túi thổ cẩm của mình. Để có cái lược chải tóc, đồng bào lấy sừng  trâu mài tiện thành chiếc lược với răng lược hơi to và sưa. Đồng bào còn lấy cây nứa già vót thành một thanh dẹt mỏng nhìn giống chiếc đũa bếp, sau đó chẻ một đầu thanh tre thành nhiều răng hơi thô, dày và dài làm lược chải tóc. Lược sừng trâu là hiện vật có giá trị nên nó được dùng để làm quà tặng. Trước đây, lược sừng trâu là lễ vật không thể thiếu của nhà trai mang tặng cho cô dâu trong lễ cưới. Chiếc lược là hiện vật mang ý nghĩa nhắc nhở cô gái bước vào cuộc sống gia đình, lo chuyện chồng con nhưng không được quên việc giữ gìn hình thức, vẻ đẹp bên ngoài.

Người M'nông có câu nói vần dạy bảo các cô gái về sự chung thủy, chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình, trong đó có hình ảnh của mái tóc và chiếc lược - công cụ làm đẹp gắn bó suốt đời với phái nữ: Chiếc vòng đã hợp với tay rồi/Xâu hạt cườm đã hợp với cổ rồi/Đôi bông đã hợp với với tai rồi/Vợ phải lo dệt khố cho chồng/Dù chỉ dệt khố trắng cũng được/Dù buộc tóc bằng cỏ tranh bên đầu/Dù chải tóc bằng chiếc lược sừng trâu.

Người phụ nữ ở đâu cũng tìm ra cách làm đẹp cho riêng mình. Người đẹp miền sơn cước nói chung, người M’nông nói riêng từ xưa đã biết tự làm cho mình xinh đẹp trong mắt mọi người. Người phụ nữ không chỉ khỏe mạnh, siêng năng, chăm chỉ, biết dệt vải, biết mọi việc trên nương, lo toan việc nhà, mà còn biết nhảy múa, hát ca trong các lễ hội và đặc biệt là cũng biết làm đẹp cho mình với môi son má hồng, tóc mướt và người có hương thơm từ kho mỹ phẩm của thiên nhiên hoang dã ban tặng.
Theo baodaknong.org.vn

Độc đáo cây nêu của người M'nông

Người M’nông sống gần gũi với nhiên nhiên, dựa vào thiên nhiên, trong tâm thức của đồng bào vẫn còn chịu sự chi phối của các thần linh (Brah, Yang).
Trong chu kỳ sản xuất nông nghiệp lúa rẫy, người M’nông có nhiều lễ hội như: Lễ phát rẫy, lễ ăn cơm mới, cắm nêu cúng lúa, lễ mừng vụ mùa bội thu... Khi được mùa bội thu, lúa đã cho vào kho, đồng bào thường làm lễ “ăn trâu” để tạ ơn các vị thần. Lễ “ăn trâu” quy mô phải chuẩn bị trước gần một tháng vì phải tập trung nhiều công sức để làm cây nêu.
 
Theo quan niệm của người M’nông, cây nêu là nơi trú ngụ của các thần linh, nơi mà các vị thần sẽ về ở và dự lễ hội. Các vị thần được mời đến phải có chỗ “lưu trú”. Thần linh phải ở chỗ trang trọng thì mới chứng kiến lòng thành và giúp đỡ bon làng.

Việc quan trọng nhất là đi vào rừng tìm gỗ làm cây nêu. Cây gòn gai thân gỗ mềm, dễ chạm khắc, trang trí hoặc cây tre to thường được chọn làm cây nêu. Những lễ nhỏ không cần phải làm cây nêu to mà chỉ cần một cây tre hay cây gạo hoặc cây cóc đơn sơ.

Cây nêu được làm trong lễ hội thường cao từ 3 - 5 m trở lên, chia làm ba tầng. Tầng trên cùng được gắn hai “dếp lếp” (chùm lồ ô) gắn nơi đầu các nhánh cây trên ngọn nêu, bên dưới là một mô hình tròn được làm bằng quả bầu, tượng trưng cho đất, xung quanh quả bầu có gắn bông gòn trắng tượng trưng cho nước. Bốn góc của tầng này có những chùm tua lồ ô, tượng trưng cho những bông lúa trĩu hạt. Hai “dếp lếp” được làm rất tỉ mỉ và sinh động, có gắn hai tổ ong tượng trưng cho một cộng đồng đông đúc, đoàn kết, kỷ luật và chăm chỉ. Tiếp đến là hình con chim én, rồi đến cánh chim có nghĩa khát vọng cuộc sống, vươn cao, bay xa. Các vật trang trí như lục lạc (“loóc lác”), ống nước (“la tông”), con dao là những vật không thể thiếu trong cuộc sống hiện thực của người M’nông. Khi có làn gió thổi đến, hai “dếp lếp” này sẽ rung lên tạo nên một bản nhạc tự nhiên, âm vang giữa núi rừng.
 
Thầy cúng đứng trên sạp tre tiến hành các nghi lễ cúng thần linh trong lễ hiến tế.

Tầng giữa là tầng cho các vị thần linh về trú ngụ, được trang trí rất đẹp. Tầng này là nơi đặt các lễ vật dâng cúng, được làm bằng tấm đan bằng lồ ô, bốn góc được gắn những con vật đan bằng tre nứa rất linh động, là những con vật thân quen với đời sống con người như: Dê, trâu, chim, gà… Lễ vật dâng cúng thường là: con gà, gạo nếp, rượu, thịt nướng, cơm nếp, máu của con vật hiến tế.

Tầng dưới cùng của cây nêu là nơi có cái sạp được làm rất kiên cố, cách mặt đất gần 2 m, có thang mây để trèo lên. Đây là nơi làm lễ của người đại diện bon làng có uy tín, hiểu biết nhiều. Ý nghĩa của tầng này là người cúng tế những lễ vật, được gắn với thần linh, có thể nói chuyện với thần linh, xin thần linh đem lại cho bon làng sự giàu mạnh, con người được khoẻ mạnh làm ra nhiều của cải, xua đuổi đi những cái xấu, đem lại cho bon làng sự yên bình, tốt đẹp.

Đến ngày “ăn trâu”, chủ nhà xin phép thần linh dựng cây nêu với lời cúng: “Năm nay được mùa, gia đình chúng tôi làm lễ để tạ ơn các vị thần linh và xin các vị thần linh ban cho gia đình chúng tôi có sức khỏe, làm rẫy được mùa tươi tốt, gia đình xin dựng nêu làm lễ mong các vị thần chấp nhận. Hỡi các vị thần hãy về đây cùng ăn cơm cùng uống rượu với gia đình và bà con”. Khi đọc dứt lời cúng, các nghệ nhân đánh chiêng động viên cho trai tráng trong bon thêm sức để dựng cây nêu. Nam nữ đánh chiêng múa xung quanh cây nêu để mừng cây nêu được dựng lên; tiếng chiêng, tiếng tù và (nung) ngân vang báo hiệu một lễ hội lớn. Mọi người cùng vui vẻ uống rượu và hát đối đáp, hỏi thăm cuộc sống gia đình, sức khỏe của nhau. Sau khi dựng cây nêu xong, chủ nhà sẽ tiến hành nghi lễ cột trâu, làm nghi lễ “khóc trâu” 3 ngày 3 đêm vì thương con trâu siêng năng, gần gũi với con người, tiếp theo là nghi lễ cúng “hồn trâu” cho thần lúa.

Nhìn tổng thể, cây nêu là một tác phẩm nghệ thuật sinh động, những hình con vật được khắc, đan, đẽo rất tinh tế. Cây nêu đứng giữa trời cao vút, là linh hồn và là “lễ đài” của toàn bộ buổi lễ, nên nó có sức cuốn hút rất mạnh mẽ. Với giá trị nghệ thuật và tâm linh nói trên, cây nêu là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của đồng bào M’nông.
Theo baodaklak.vn

Ý nghĩa lễ trưởng thành của người M'nông

Từ bao đời nay, người M’nông ở Tây Nguyên vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hoá đặc trưng của dân tộc mình, trong đó có những nghi lễ truyền thống như: lễ cúng voi, lễ mừng lúa mới, lễ cưới hỏi, lễ bỏ mả, lễ trưởng thành.
Lễ nghi liên quan đến con người của dân tộc M’nông diễn ra theo chu kỳ vòng đời, từ khi mang thai, sinh ra, lớn lên, trưởng thành, về già cho đến khi từ giã cuộc đời. Trong đó, lễ trưởng thành được xem là nghi thức quan trọng mang đậm tính nhân văn.

Lễ trưởng thành theo tiếng của người M’nông được gọi là T’nơm pay sur bong, là một nghi lễ lớn,  được coi trọng vì nó đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc đời con người. Theo quan niệm của người M’nông, sau lễ T’nơm pay sur bong, thanh niên nam nữ mới được thần linh công nhận là đã trưởng thành, mới được thực hiện những việc trọng đại trong đời mình như đi làm ăn xa hay cưới vợ, gả chồng…

Già làng Y Tiêng Liêng, ở buôn Ja, xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông (Đắk Lắk) cho biết: Ngày trước, tập quán “cà răng căng tai” (cưa bằng một số răng cửa đối với thanh niên nam, nữ đang trưởng thành và xâu thủng lỗ tai để mang đồ trang sức) được áp dụng phổ biến khi làm lễ trưởng thành. Tuy nhiên ngày nay phong tục này đã được giản tiện. Con trai, con gái trong các buôn khi đến tuổi thì được gia đình chuẩn bị các lễ vật, trang phục rồi mời thầy cúng và họ hàng, bà con đến để làm lễ cúng.
 
Thầy cúng đang thực hiện nghi thức lễ T’nơm pay sur bong tại buôn Ja, xã Hòa Sơn huyện Krông Bông (Đắk Lắk ).

Theo phong tục của người M’nông, thanh niên nam nữ ở độ tuổi 16, 17 phải trải qua nghi lễ T’nơm pay sur bong. Đây là giai đoạn phải đối phó với nhiều khó khăn, thử thách trong cuộc đời. Chính vì vậy mà người M’nông làm lễ trưởng thành để cúng bái thần linh, cầu cho mọi việc sau đó sẽ được suôn sẻ, tốt đẹp, tránh họa, gặp lành…

Để tiến hành lễ T’nơm pay sur bong, mọi người trong gia đình lo chọn ngày lành, chuẩn bị trang phục, bày biện lễ vật và mời thầy về cúng. Lễ vật tùy thuộc vào điều kiện từng gia đình, tuy nhiên theo phong tục lâu đời thì người M’nông thường chuẩn bị 1 con heo, 1 con gà và 3 ché rượu cần. Người được làm lễ cúng phải mang bộ trang phục truyền thống của người M’nông. Sau khi thầy cúng thực hiện nghi lễ tế bài thần linh để thông báo người thanh niên trong gia đình đã trưởng thành thì người đó được cột một sợi chỉ vào tay và bắt đầu giai đoạn “ở cữ”. Thời gian “ở cữ” kéo dài trong vòng 1 ngày 1 đêm. Người sắp trưởng thành phải ở yên trong nhà không được ra ngoài để tránh bị ma quỷ xâm nhập. “Ở cữ” xong, thầy cúng sẽ thực hiện nghi lễ “mở hồn” để người trưởng thành được ra ngoài. Khi lễ cúng trưởng thành diễn ra, gia đình sẽ mời bà con trong buôn đến dự để cùng chứng kiến thời khắc con họ được thần linh công nhận là người đã trưởng thành. Sau đó mọi người sẽ cùng nhau ăn bữa cơm thân mật để chúc mừng.

“T’nơm pay sur bong là nghi lễ mà người M’nông đã gìn giữ từ bao đời nay. Nó không chỉ thể hiện tính nhân văn, ý nghĩa tâm linh đối với mỗi cá nhân mà còn là sự hiện diện của tính cộng đồng, sự gắn bó giữa các gia đình trong buôn làng” - ông Y Tâng Niê, cán bộ văn hóa xã Cư Pui, huyện Krông Bông (Đắk Lắk) chia sẻ.
Theo baodaklak.vn

Những người M'nông căng tai cuối cùng ở Tây Nguyên

Tập quán căng dái tai để đeo đồ trang sức như tre nứa, ngà voi... đã từng tồn tại lâu đời ở người M’nông. Họ được người Êđê, một dân tộc cận cư gọi là những người “tai sề”. Tập quán đeo trang sức này đã mờ nhạt dần theo thời gian.
Ngày nay, giới trẻ không còn ai căng tai nữa mà để dái tai phát triển tự nhiên và đeo hoa tai hợp thời trang. Hiện nay, ở bon (buôn) La La Dơng, xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong (tỉnh Đắk Nông) chỉ có 3 người “căng tai”: Cụ bà H’Glang (93 tuổi), cụ bà H’Bing (76 tuổi) và cụ bà H’Yộ (82 tuổi). Họ chính là những người “tai sề” cuối cùng trên cao nguyên, lưu lại dấu vết trang sức cổ xưa của con người.
 
Quá trình “căng tai” của người M’nông phải trải qua một thời gian dài. Lúc đầu họ dùng gai cây chanh để xỏ lỗ tai. Gai cây chanh để nguyên mũi nhọn chỉ cạo sạch vỏ, dùng nước sôi nấu gừng bóp dái tai cho thật mềm trước khi xỏ lỗ tai.  Phải xỏ ngay chính giữa dái tai, nếu xỏ không vào chính giữa, sau này tai căng ra không được to. Xỏ gai nhọn xuyên qua xong, cứ để nguyên cây gai dính vào tai, mỗi ngày phải tiếp tục rửa tai bằng nước sôi nấu gừng. Khi tai hết chảy máu và vết thương đã thật lành lặn, họ bắt đầu vặn cây gai vào dần, mỗi ngày chỉ vặn một lần cho đến khi đầu to cây gai lọt qua được. Người ta lại vót cây khác to hơn, cũng có đầu to đầu nhỏ. Bên đầu nhỏ vừa xỏ lọt lỗ tai, hằng ngày cứ tiếp tục vặn dần vào. Khi đầu to của cây lọt qua lại tiếp tục làm cây khác lớn hơn khiến dái tai ngày càng căng rộng để có thể đeo trang sức bằng gỗ, tre nứa, ngà voi...
 
Chân dung cụ bà H'Glang.

Những người giàu có, khá giả thường đeo cặp bông tai làm bằng ngà voi. Họ dùng hai mẩu ngà voi làm đôi bông tai (mlo tôr la) kéo đôi tai dài đến tận gò má, đôi khi gần đến vai. Tập quán trang sức này được nhắc đến trong các câu ca dao của người M'nông như: "Hợp với tai mới đeo ngà voi; hợp với cổ mới đeo xâu cườm; hợp với đầu mới quấn cườm hoa".  Đàn ông, đàn bà dân tộc M’nông đều thích đeo bông tai ngà voi. Đặc biệt khi tiếp khách, đi thăm họ hàng, bạn bè, đi dự lễ hội..., họ thường đeo cặp ngà cho thêm phần sang trọng. Một đôi bông tai ngà voi trị giá bằng một con trâu có sừng dài một hăt (một đơn vị đo chiều dài cổ truyền của người M'nông, được tính từ cùi chỏ đến ngón tay giữa khi được duỗi thẳng) hoặc là một chiếc ché cổ. Với đôi tai căng ở mức vừa, đồng bào có thể đeo được những loại khuyên tai như hình con đỉa, hình xoắn vòng tâm, ngà voi loại nhỏ...

Đến tận ngày nay, các cụ bà ở bon La La Dơn còn giữ lại nét văn hóa thời quá khứ xa xưa. Đặc biệt, dái tai của cụ bà H’Yộ sề xuống tận bờ vai, có lỗ khá rộng, minh chứng cho một thời từng sở hữu đồ trang sức quý và biết cách làm đẹp theo kiểu xưa của cộng đồng. Bà cụ H’Glang tuy tuổi cao nhất trong các cụ bà “căng tai” nhưng ánh mắt còn sáng trong, mũi thẳng và có nụ cười rất đẹp khiến gương mặt luôn ánh lên nét phúc hậu. Bà cụ này còn giữ nhiều món trang sức cổ như nhẫn, vòng đồng đeo cổ tay, chuỗi cườm đeo cổ. Mặc dù có lỗ dái tai đặc biệt như vậy nhưng từ lâu các cụ bà này không còn đeo hoa tai vì những hoa tai truyền thống như ống nứa, ngà voi, vòng nhôm đã không còn nữa. Những đôi bông tai bằng ngà voi là tài sản quý giá nhất của đồng bào phần nhiều đã được bán cho những người săn tìm đồ cổ. Đồ trang sức này giờ đây chỉ được tìm thấy trong tủ kính trưng bày hiện vật của các bảo tàng ở Tây Nguyên.

Hình ảnh người già Tây Nguyên “cà răng căng tai”, đeo vòng ống chân, ống tay thường là đề tài thu hút những nhà nhiếp ảnh đi tìm bản sắc tộc người. Các cụ già căng tai ở cao nguyên M’nông vẫn được các nhà nhiếp ảnh đến thăm với niềm hứng khởi thực thụ trong cuộc hành trình tìm kiếm cái đẹp, cái độc đáo của xứ Thượng. Hơn ai hết, các nhà nhiếp ảnh muốn nhanh chân hơn, lặn lội đến với các bon làng xa xôi, hẻo lánh để kịp thu vào ống kính của mình những người già cuối cùng còn mang trên thân thể dấu vết của tục căng tai trước khi các cụ về với thế giới của thần linh.
Theo baodaklak.vn
 

Chiêng Yau - Chiêng của người giàu M’nông

Trong đời sống của người M’nông các loại nhạc cụ như: Chiêng, Goong, Trống, M’buốt, R’lét… là những nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của họ. Trong đó, bộ Chiêng Yau được coi là nhạc cụ linh thiêng và thể hiện địa vị, uy quyền ở mỗi gia đình, dòng họ.
Tài sản quý của người M’nông

Từ thuở xa xưa, người M’nông đã biết sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Trong đó, Chiêng thường được sử dụng rộng rãi và diễn tấu trong các nghi lễ và lễ hội của cộng đồng bon làng. Vì thế, mỗi bộ Chiêng có một tên gọi, kích thước, giá trị và có âm thanh khác nhau.

Để có tiếng Chiêng gọi thần linh, giúp vui cho các lễ hội hay tiễn đưa người chết về thế giới bên kia… người M’nông trong quá trình giao lưu và trao đổi với các tộc người khác như Campuchia, Lào, Kinh… bằng các sản phẩm nông - lâm nghiệp như (lúa, gạo, gỗ...) và các con vật có giá trị kinh tế cao như (trâu, bò, voi…) hoặc mua bằng nhiều tiền.

Nơi để chiêng, ché trong nhà dài của người M’nông. Ảnh: Tấn Vịnh

Sở dĩ bộ Chiêng Yau là Chiêng cổ, Chiêng quý, bởi vì, lúc bấy giờ người M’nông không biết đến kỹ thuật đúc đồng và Chiêng được các nghệ nhân đúc bằng hợp kim đồng pha vàng, vì vậy mà có sự khác biệt với các loại chiêng thường. Đây cũng chính là lý do vì sao bộ Chiêng này có giá trị nhất nhì trong các loại Chiêng của người M’nông.

Người M’nông đánh Chiêng bằng tay

Người M’nông diễn tấu Chiêng thường trong hai tư thế cơ bản như: Khoác dây chiêng vào vai hoặc một tay nắm dây buộc chiêng, đối với Chiêng có kích thước vừa phải. Khi diễn tấu Chiêng đầu hơi cúi về phía trước tay phải nắm lại đấm vào mặt ngoài của chiêng, cùng lúc đó dùng bàn tay hay ngón tay (bàn tay còn lại) xoa hoặc đặt tay vào các vị trí khác nhau mặt lõm của chiêng (lúc bịt, lúc mở) để tạo nên các cao độ, âm sắc khác nhau. Vì vậy, âm thanh của dàn Chiêng Yau mềm mại, trầm ấm mang cảm giác xa xăm, huyền bí…

Bộ chiêng Yau 6 chiếc của đồng bào dân tộc M’nông.

Đối với người M’nông việc đánh Chiêng dành cho mọi lứa tuổi không phân biệt người giàu hay người nghèo, già, trẻ, nam hay nữ, thành phần tôn giáo khác nhau. Khi diễn tấu Chiêng các nghệ nhân đánh xen kẽ nhau, mỗi người đánh một cái, giữ một nhịp riêng cho dàn chiêng. Do đó, mỗi nghệ nhân trong dàn chiêng có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các chiêng. Đặc biệt, khi diễn tấu bộ Chiêng Yau phải chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất gồm ba chiếc nhỡ (N’jơn, Tr’u và Tr’ơ) làm nhiệm vụ đảm nhận giai điệu chính; Nhóm thứ hai gồm hai chiếc chiêng lớn nhất (Me và Ng’râng) cùng với chiếc nhỏ nhất (Kon) chịu trách nhiệm phần bè, phụ họa và giữ nhịp và khi đánh Chiêng cổ, Chiêng quý thì âm thanh sẽ hay hơn và đánh được nhiều bài hơn. Bộ Chiêng Yau của người M’nông có thể chơi được tới 30 bài trong các lễ hội như: Cing ngăn (đánh trong lễ hội); Bich tơ drơ (ru em); tiếng hát của chim cú mèo…

Người M’nông có thể đánh Chiêng mọi lúc, mọi nơi như các lễ cúng lớn, các sinh hoạt chung của bon làng, đến các lễ cúng trẻ nhỏ, các sự kiện vui của gia đình như lễ mừng lúa mới, lễ cưới, lễ cúng sức khỏe…

Nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người M’nông

Khác với các dân tộc Ê Đê, Mạ, Gia rai... ở Tây nguyên, người M’nông có quan niệm và cách thức bảo quản cất giữ bộ Chiêng Yau khá đơn giản, họ thường treo trên vách tường ngay trên đầu giường ngủ của gia đình. Tuyệt đối không được để Chiêng đặt nằm úp mà phải đặt nằm ngửa (việc để ngửa bụng giúp cho thần Chiêng được nghỉ ngơi).

Từ xưa tới nay người M’nông có một kiêng kị đặc biệt trước khi sử dụng Chiêng Yau phải lau chùi sạch sẽ và không được để Chiêng dơ bẩn, thần chiêng sẽ không kết nối được âm thanh mời gọi thần linh kết nối với vạn vật…

Người M’nông theo tín ngưỡng đa thần (vạn vật hữu linh). Họ cho rằng mỗi chiếc Chiêng trong bộ Chiêng Yau đều có một vị thần cư ngụ và cai quản. Vì thế, trước khi sử dụng Chiêng phải tiến hành nghi lễ cúng thần để mời thần chiêng ăn, thần chiêng uống (lễ vật hiến sinh là con gà trống tơ, yăng rượu cần). Vì vậy, Chiêng Yau chỉ được đánh vào những dịp lễ quan trọng hay đón tiếp khách quý trong gia đình, dòng họ, bon làng.
 
Đội chiêng xã Trường Xuân, huyện Đắk Song biểu diễn trong lễ sum họp cộng đồng .

Trong đám cưới, ngoài sự chúc phúc của gia đình hai bên và bà mai mối cùng với nghi thức của thầy cúng luôn kèm theo là bộ Chiêng Yau. Để thần Chiêng chứng nhận và phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ, khỏe mạnh làm nương rẫy, sinh con hay ăn chóng lớn, học hành giỏi giang. Vợ chồng sống với nhau hòa thuận, gia đình sung túc, hạnh phúc đầu bạc răng long…

Đối với người M’nông, Chiêng là tài sản mà nhìn vào đó để phân biệt đẳng cấp xã hội, địa vị, uy quyền cho mỗi gia đình, dòng họ. Những gia đình giàu có thì mới có nhiều bộ chiêng và có Chiêng quý. Riêng Chiêng Yau chỉ những gia đình giàu có thật sự và sung túc thì mới sắm được.

Chiêng không chỉ được xem là tài sản, là thước đo sự giàu có, là nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần mà còn là vật tùy táng chia cho người chết. Riêng bộ Chiêng Yau không được mang chôn theo mà truyền lại cho người “kế tiếp” (người nuôi dưỡng cha mẹ) để gìn giữ và sử dụng.

 
Đoàn Nhân ( theo Langvietonline.vn

Lễ cắt nhau rốn ở trẻ em của người M’nông

Từ khi là thai nhi trong bụng mẹ cho đến lúc chào đời, mỗi đứa trẻ người M’nông trải qua nhiều giai đoạn. Ở mỗi giai đoạn, gia đình, dòng họ đều tổ chức một nghi lễ để báo cáo với thần linh như lễ mở mắt, lễ cắt tóc, lễ xỏ tai,... Trong đó, lễ cắt nhau rốn ở trẻ em mới sinh đánh dấu cho sự tồn tại và phát triển của đứa trẻ.
Theo quan niệm của người M’nông, nhau rốn của đứa trẻ là những vật quan trọng, phải được gìn giữ cẩn thận không để mất mát, hư hỏng. Bởi thế, lễ cắt nhau rốn được tiến hành rất sớm, ngay sau khi đứa trẻ ra đời. Khi người mẹ sinh con ra, người cha đứa trẻ phải có trách nhiệm nhặt lấy cái nhau và đoạn rốn của đứa trẻ, dùng cật nứa cắt bỏ vào một cái vỏ bầu khô đã được làm sẵn hoặc một ống tre mang vào rừng, treo trên một cành cây to.
 
Dao cắt và trái bầu đựng rốn trẻ em mới sinh của dân tộc M’nông

Cây được chọn để treo nhau rốn là cây chung của cả bon, dân làng ai ai cũng biết. Nhà nào mới sinh con, đều treo nhau rốn của đứa trẻ lên cây đó. Ai phạm vào cây treo nhau rốn của làng, phải cúng một Yăng rượu, một con heo. Ai chặt phá hoặc đốt cháy cây đó, phải cúng một Yăng rượu Rlung và một con trâu đực trưởng thành. Nếu như người hoặc những con vật như trâu, voi,… của bon khác đến phá cây treo rốn trẻ em của bon thì phải làm lễ cúng tạ lỗi với mọi người trong bon và lễ vật bồi thường là bộ chiêng, vò rượu quý có giá trị.

Người M’nông quan niệm, muốn cho trẻ con được khỏe mạnh, bình an vô sự, có ba thứ trong suốt đời đứa trẻ mà người ta không được phạm tới, làm hư hỏng hoặc làm mất mát. Đó là, treo nhau rốn của đứa trẻ, con dao cắt rốn của đứa trẻ và xâu cườm đỏ dùng để cúng trong lễ mở mắt cho đứa trẻ.

Ngày nay, các tập tục truyền thống và nghi lễ cắt rốn ở trẻ em không còn diễn ra phổ biến như trước nữa nhưng lễ cắt rốn ở trẻ em vẫn còn in đậm trong tâm thức của mỗi gia đình, dòng họ, bon. Đặc biệt, đánh dấu cho sự tồn tại và phát triển của đứa trẻ gắn liền với một số nghi lễ truyền thống tiếp theo…
 
Đoàn Nhân (Theo baodaknong.org.vn)

Độc đáo túi đựng cơm của người M'nông

Túi đựng cơm, nồi đồng, quả bầu là những vật dụng sinh hoạt hằng ngày của người M’nông. Trong đó, túi đựng cơm còn được chọn làm sính lễ trong các dịp cưới hỏi, là tài sản chia cho người chết khi về thế giới bên kia.
Túi đựng cơm có hình dáng trụ tròn, miệng nhỏ, đáy hơi lồi và đan theo kiểu hình xương cá. Để làm ra được một chiếc túi phải trải qua nhiều công đoạn, đòi hỏi sự tỉ mỉ, chịu khó và khéo tay. Đầu tiên phải ra đầm lầy tìm cây Diêng Dung (còn gọi là cây nát) chặt mang về phơi khô đến khi ngả thành màu vàng, sau đó, tách những sợi già, dài, suôn thẳng, không bị sâu và mối mọt ép nhẹ cho sợi dẹt mỏng để đan túi. Chỉ có thể đan túi vào lúc sáng sớm và chiều tối, vì lúc này sợi mới mềm dẻo, dễ đan. Tùy kỹ năng của người thợ, nếu tay nghề giỏi thì mỗi ngày một người có thể đan được 1 đến 2 túi, với túi lớn sẽ mất nhiều thời gian hơn.
 
Túi đựng cơm của người M’nông được lưu giữ tại Bảo tàng Đắk Lắk.

Túi đựng cơm được coi là một vật linh thiêng của người M’nông nên khi làm xong, muốn dùng để trao đổi hoặc bán mua đều phải tiến hành nghi thức cúng thần bếp. Lễ vật cúng thường là một chóe rượu cần nhỏ và một con gà trống tơ. Người lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ cắt tiết gà, lấy huyết bôi lên miệng những túi đựng cơm, mời thần linh trông giữ để cơm đựng trong túi luôn ngon không bị hỏng, người ăn không bị bệnh tật. Hiện nay, nghi thức cúng này vẫn được người dân tộc M’nông sinh sống trên địa bàn Tây Nguyên duy trì nhưng đã thưa thớt dần.

Túi giữ cho cơm thoát nước, thông thoáng, khi ăn sẽ ngon hơn. Sau khi ăn hết phần cơm trong túi, người dùng mang ra cạo sạch bên trong rồi treo trên gác bếp lần sau sử dụng. Túi đựng cơm còn là một tài sản dùng để làm của hồi môn chia cho con trai và con gái khi lập gia đình, mang ý nghĩa cha mẹ muốn con luôn có cơm no, áo ấm, gia đình khỏe mạnh, hạnh phúc. Ngoài ra túi còn dùng để cúng lễ mừng thọ cho ông (bà) hay đựng cơm cúng cho người mới chết. Nếu muốn biết gia đình đó có bao nhiêu thành viên, chỉ cần đếm số túi đặt trong góc bếp hay trong chiếc gùi của gia chủ.

Dù bây giờ xã hội phát triển, có nhiều vật dụng đựng cơm hiện đại nhưng nhiều người M’nông vẫn giữ thói quen đựng cơm trong túi bởi tính tiện dụng, nhỏ gọn, dễ dàng mang theo khi lên nương rẫy. Tuy nhiên, số người biết đan túi không còn nhiều, lớp trẻ lại không đam mê nên nghề đan túi đang đứng trước nguy cơ bị mai một.

 
Tuyết Mai (Báo Điện tử Đắk Lắk

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Lễ cúng lúa mới - nét văn hóa đặc sắc của người M’nông Gar

Trong khuôn khổ các hoạt động hưởng ứng Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ bảy năm 2019, sáng 12/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Trình diễn nghi Lễ cúng lúa mới của người M’nông Gar, một hoạt động văn hóa đặc sắc trong dịp Lễ hội.


Lễ cúng lúa mới. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN.

Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk Đặng Gia Duẩn cho biết, Đắk Lắk có 47 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ như Ê Đê, M’nông có những nét văn hóa độc đáo riêng. Việc tổ chức trình diễn các nghi lễ, lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số là hoạt động quan trọng, góp phần bồi đắp, làm giàu kho tàng văn hóa, vốn tri thức dân gian của các dân tộc Việt Nam. Đây còn là dịp để mỗi thành viên trong buôn làng và cộng đồng được giao hòa với thế giới tâm linh và thế giới thực tại, giao hòa giữa con người với thiên nhiên.

Nghi Lễ cúng lúa mới do đoàn nghệ nhân xã Đắk Phơi, huyện Lắk, thể hiện, gồm có hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm có các nghi thức cúng thần linh, cúng lúa mới và cúng sức khỏe cho già làng. Lễ vật gồm nhà kho lúa, cây nêu, ba ché rượu cần, một con gà, một con lợn, bếp lửa, các đồ dùng hằng ngày và dụng cụ lao động sản xuất, các giống lúa và hạt giống cây trồng được thu hoạch từ trên nương rẫy. Phần hội gồm các hoạt động đánh chiêng, múa mừng lúa mới và múa xoang.

Nghi lễ do già làng Y Niêng Du là chủ lễ, thầy cúng Y Krai Cil cúng, đội nghệ nhân đánh chiêng sáu người và 25 người tham gia múa. Khi tất cả các lễ vật được chuẩn bị đầy đủ, nghi thức cúng thần linh được bắt đầu. Thầy cúng đứng trước cây nêu và đọc lời cúng. Sau đó, già làng đưa cho thầy cúng con gà, thầy cúng vừa cắt tiết gà vừa đọc lời cúng và cúng sức khỏe cho già làng. Cúng xong, già làng mời thầy cúng uống rượu cần để cảm ơn thầy cúng đã mời thần linh về chứng giám lễ cúng lúa mới. Sau đó, già làng đổ rượu cần vào kho lúa, cho rượu chảy từ sàn kho lúa xuống và ở phía dưới sàn kho một người phụ nữ ngồi sẵn để hứng rượu. Già làng sau đó sẽ bôi huyết pha rượu lên tất cả các vật dụng trong gia đình và bôi lên cổ các thành viên. Cuối cùng, thầy cúng mời già làng và mọi người cùng ăn, uống rượu, vui đùa, chúc tụng nhau và đánh chiêng, múa hát ở phần hội.

Thầy cúng đọc lời cúng cúng lúa mới và cúng sức khỏe cho già làng.
Ảnh: Hoài Thu – TTXVN.

Thầy cúng và già làng đứng trước cây nêu đọc lời cúng thần linh.
Ảnh: Hoài Thu – TTXVN.
 

Mời thầy cúng uống rượu tại buổi lễ. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN.
 
Bôi huyết pha rượu lên kho lúa và các vật dụng. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN.

Theo thầy cúng Y Krai Cil, Lễ cúng lúa mới là lễ hội quan trọng, không thể thiếu trong đời sống của bà con M’nông, cũng là phong tục lâu đời đã lưu truyền từ bao đời nay với ý nghĩa tôn vinh hạt thóc của thần linh (yang) ban cho dân làng và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình sung túc, con người luôn mạnh khỏe, buôn làng yên vui.
 
Dân làng đánh chiêng trống, múa hát trong phần hội của nghi lễ mừng lúa mới. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN.

Sau phần lễ, đông đảo đại biểu, du khách đã cùng đoàn nghệ nhân xã Đắk Phơi uống rượu cần, đánh chiêng và nhảy múa mừng lúa mới, mừng Xuân mới. Chị Phùng Thị Hiên, du khách đến từ huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, cho biết, được chứng kiến Lễ cúng lúa mới, chị hiểu biết thêm về nét văn hóa đặc sắc của người M’nông trên cao nguyên Đắk Lắk.
Hoài Thu

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Đặc sắc cồng chiêng của dân tộc M'nông

Trong đời sống dân tộc M’nông, cồng chiêng được coi là tài sản quý thể hiện sự giàu có của các gia đình, dòng họ, buôn làng. Sự giàu có ở đây không chỉ thể hiện về mặt số lượng mà còn ở tuổi thọ lâu đời của các bộ cồng chiêng. Gia đình nào có nhiều cồng chiêng cổ đều được cộng đồng kính trọng.
Người M’nông không làm ra cồng chiêng mà thường mua lại của người Lào hoặc của người Việt. Cồng chiêng được đúc bằng hợp kim bao gồm đồng và một số kim loại khác. Những chiếc cồng chiêng quý thường có thêm bạc. Chất lượng âm thanh phụ thuộc vào tỷ lệ hợp kim sử dụng đúc cồng chiêng. Khi mua về, đồng bào M’nông chỉnh âm thanh hết sức tinh tế bằng nhiều cách khác nhau như dùng búa sắt, dùi gỗ cứng đập vào lòng chiếc cồng, chiêng…

Chiêng có núm được gọi là cồng và chiêng không có núm gọi là chiêng bằng. Cồng cấu tạo gồm 3 bộ phận: núm, mặt và thành cồng. Trong đó: núm là bộ phận được làm vồng theo hình bán cầu ở chính giữa mặt cồng, vị trí dùng để gõ, tạo ra âm thanh vang, ngân dài và có tiếng rung; mặt cồng là một mặt phẳng xung quanh núm, có hình vòng tròn - đây là bộ phận quyết định âm thanh như độ cao, sự tròn tiếng, đầy tiếng và độ vang; thành cồng là một bộ phận nối liền với mặt thành một bản rộng bao quanh và khum vào trong.
 
Bộ chiêng bằng 6 chiếc của người M’nông.
Chiêng bằng cấu tạo gồm hai bộ phận: mặt chiêng và thành chiêng. Mặt chiêng là một mặt phẳng có hình vòng tròn, quyết định âm thanh như: độ cao, sự tròn tiếng, đầy tiếng và độ vang; thành chiêng nối liền với mặt chiêng thành một bản rộng bao quanh mặt chiêng và không khum vào trong.

Cồng chiêng M’nông gồm có 2 bộ: bộ chiêng 6 chiếc và bộ cồng 3 chiếc có kích thước khác nhau. Mỗi chiếc mang một chức năng riêng trong khi hòa điệu và có những tên gọi khác nhau tùy theo từng nhóm địa phương. Tên gọi bộ chiêng 6 chiếc theo thứ tự: Chiêng lớn nhất được gọi là chiêng mẹ (mei, me hay măi); chiêng lớn thứ hai gọi là rênul (nhóm M’nông Nong gọi là nêgrơm); chiếc thứ ba gọi thống nhất là n'dơt hay n'dất; chiếc thứ tư gọi là tru (M’nông Preh, M’nông Nong và M’nông Prâng), gọi là dua (M’nông Chil, M’nông Rlăm); chiếc thứ năm gọi là trơ (M’nông Preh, M’nông Nong, M’nông Prâng) và gọi là thơ (M’nông Chil và M’nông Rlăm); chiêng nhỏ nhất gọi là chiêng con (kon). Bộ cồng 3 chiếc: Chiếc lớn nhất gọi là cồng mẹ; chiếc thứ hai làm chuẩn trong khi hòa nhạc và được gọi là tru (M’nông Prâng), du gong (M’nông Rlăm và M’nông Chil); chiếc nhỏ nhất là cồng con (kuôn gong hay kon gong). Ngoài ra, người M’nông còn có một chiếc chiêng lớn gọi là Char, giống như chiêng Char của người Êđê nhưng hiếm khi họ sử dụng chiếc chiêng này.
Bộ cồng 3 chiếc.
Người M’nông dùng nắm tay phải đánh vào mặt chiêng, tay trái giữ mặt trong lòng chiêng để làm nhịp, điều chỉnh âm thanh. Riêng nhóm M’nông Chil ở Lắk đôi khi cũng đánh chiêng bằng dùi và tạo âm thanh ở mặt lõm, nhưng sự ảnh hưởng này chưa được phổ biến. Cồng được đánh bằng dùi, tác động tạo âm thanh ở mặt lồi, trên phần chóp núm. Khi tấu nhạc, cồng có thể được treo lên dàn rồi dùng tay trái giữ dây, tay phải đánh hoặc được úp vào hai đầu gối người chơi.

Cồng và chiêng là loại nhạc cụ chủ yếu để dùng trong nghi lễ. Người M’nông thường sử dụng bộ chiêng 6 chiếc. Các nghi lễ dùng vật hiến sinh là heo hay gà, người M’nông tấu nhạc bằng bộ chiêng 6 chiếc. Trong các cuộc rượu ngày thường, đôi khi bộ chiêng 6 chiếc cũng được đem ra hòa điệu. Trường hợp trong buôn có khách từ xa tới, chủ nhà đãi khách rượu cần và khi đấy thường phải sử dụng bộ chiêng 6 chiếc như một nghi thức đón mừng để tỏ lòng hiếu khách của toàn buôn. Đây cũng là dịp để bà con trong buôn đến vui chung. Ngoài tang lễ, hôn lễ và những dịp vui, những nghi lễ khác thường được tổ chức tấu cồng chiêng như: lễ kết bạn, cúng hồn lúa, cúng cơm mới sau ngày thu hoạch, lễ chúc sức khỏe người chủ nhà trong dịp dựng nhà mới đối với hầu hết các nhóm M’nông; lễ lên nhà mới của người M’nông Chil; lễ hoàn công một ngôi nhà, cúng rường cột của người M’nông Rlăm... Ứng với mỗi hoàn cảnh ấy là một bài chiêng khác nhau. Ngay trong một lễ hội, các bài chiêng cũng được đánh theo tiết tấu, nhịp điệu khác nhau, tùy theo không khí chung của lễ hội.

Theo quan niệm của người M’nông, âm thanh của hai loại nhạc cụ cồng chiêng trong lễ hội vang lên sẽ kết nối với các thần linh, có thể gọi thần tốt đến và nhờ sự trợ giúp của họ đuổi các ma xấu. Vì thế, tính tâm linh ở các lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần qua tiếng chiêng luôn được đồng bào gìn giữ và phát huy.
Theo baodaklak.vn
 

Lễ sum họp của người M'nông ở Đắk Nông

Lễ hội sum họp của người M’Nông (Đắk Nông) là dịp để bà con thắt chặt thêm sợi dây liên kết, tình cảm của dòng tộc và cộng đồng giữa các bon làng với nhau để chống chọi với thiên tai, thú dữ và giặc dã bên ngoài.
Lễ sum họp cộng đồng thường được tổ chức vào đầu mùa xuân, khi hạt lúa đã đầy bồ, cà phê đã đầy kho. Đây là lễ lớn với sự tham gia của nhiều bon làng, nên phải 3 đến 5 năm mới tổ chức một lần với quy mô lớn từ 5 - 10 bon làng tham gia.
 
Lễ sum họp của người M'nông, Đắk Nông.

Trước lễ hội khoảng 2 tháng, khi vừa thu hoạch xong, già làng của các bon sẽ họp lại, thống nhất địa điểm, quy mô tổ chức lễ. Đến dự lễ, mỗi bon làng đều mang theo các sản vật tự làm ra như heo, gà, lúa gạo, rượu cần; và bon chủ nhà cũng phải chuẩn bị tương tự như vậy để đãi khách.

Trước ngày lễ một tuần, 1 cây nêu lớn sẽ được dựng lên, để thông tin và mời gọi các thần linh biết mà về dự lễ với bon làng. Phần ngọn trên cây nêu được trang trí nhiều bông, hình chim, nai kết bằng tre nứa, được tô vẽ khéo léo, tinh xảo. Thân cây nêu trang trí hoa văn với màu chủ đạo là đen, đỏ và trắng. Ở giữa thân cây nêu là một mâm tre hình vuông bày biện các lễ vật cúng thần như thịt, cơm, bầu rượu cần.

Bên cạnh cây nêu lớn còn dựng một cây nêu thấp hơn bằng cây gòn gai, đầu cây được gọt thành hình mỏ con chim đại bàng với ý nghĩa thông tin cho tổ tiên biết để về dự lễ. Ngay trước hai cây nêu là một hàng rào nhỏ tượng trưng cho ranh giới giữa con người trần tục và thần linh. Quanh hai cây nêu dựng thêm hai nhà dài bằng tre lợp lá, là nơi để mọi người giao lưu, nghỉ ngơi khi đã chu đáo và thành kính chuẩn bị xong mọi thứ.

Mở đầu lễ, các giàn chiêng thi nhau tấu lên những bài chiêng chào đón khách; nam thanh nữ tú nắm tay nhau ca hát, nhảy múa vòng tròn quanh cây nêu. Đây cũng là lúc già làng tiến hành nghi thức đâm trâu cầu các thần linh chứng giám, giúp cho bon làng làm ăn phát đạt, dân làng gắn bó.

Sau khi làm lễ đâm trâu để tế thần, thịt trâu được chế biến tại chỗ để mời khách, một phần được chia ra cho mọi người trong bon mang về, người không đi cũng có phần. Cứ thế mọi người vừa thưởng thức món ăn, rượu cần, vừa giao lưu sinh hoạt, hát dân ca, dân vũ, hát đối đáp, các nghệ nhân hát kể Ot’rông quanh đống lửa bập bùng kéo dài tận đêm khuya. Ngày hôm sau, mọi người tiếp tục tổ chức các trò chơi dân gian như bắn nỏ, nhảy bảo bố, đẩy gậy, đi cà khoeo, kéo co... tạo không khí vui tươi, phấn khởi thu hút đông đảo người dân đến xem và đây là dịp tốt để các dân tộc trong tỉnh trao đổi, học tập lẫn nhau về cách bảo tồn các môn thể thao dân tộc.
 
Đâm trâu để tế thần trong lễ Sum họp. 

Trong 3 ngày diễn ra lễ hội Sum họp cộng đồng, không khí lễ hội rất linh thiêng, sôi nổi và phấn khởi, những người tham gia tái hiện lại lễ hội cũng như người dân đến xem luôn hoà quyện với nhau trong không khí rộn ràng của lễ hội, ai cũng mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến với bon làng mình, cộng đồng mình.
 
Ðồng bào các dân tộc sum vầy bên lửa trại Lễ Sum họp cộng đồng. 

Có thể nói, lễ hội Sum họp cộng đồng là một lễ hội lớn có tầm vóc và quy mô lớn của đồng bào M’nông, nó vượt ra khỏi không gian, thời gian và cộng đồng bon làng. Nếu trong phần lễ thể hiện nguyện vọng của đồng bào cầu mong thần linh phù hộ mưa thuận gió hoà, cây cối tốt tươi, mùa màng no đủ, xua đuổi ma qũy, thú dữ giữ gìn bình yên cho các bon làng, nhà nhà no ấm thì phần hội là tâm điểm thu hút sự chú ý của mọi người. Đây là một dịp tốt để các nghệ nhân, các thành viên trong các bon làng thể hiện tài năng, sức quyến rũ bởi các tiếng mục mà họ mang tới lễ hội như: diễn tấu cồng chiêng, hát dân ca, dân vũ, hát đối đáp, hội thi các môn thể thao dân tộc...

Tính cộng đồng trong phần hội này rất cao khi những người đến xem cũng được tham gia nhảy múa, uống rượu cần như những người chủ nhân của lễ hội.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn

Đặc sắc Tết của người M'Nông

Người M’Nông xuất hiện sớm nhất ở Tây Nguyên đến nay còn bảo lưu được nhiều lễ hội văn hóa dân gian đặc sắc. Kết thúc mùa trồng trỉa, người M’Nông bắt đầu tổ chức đón Tết.
Rất sớm, người M’Nông chuẩn bị đón Tết từ đầu tháng 9, tháng 10 âm lịch. Tết là dịp hội họp chung vui của cả buôn làng, những người đi xa cũng hối hả trở về sum họp với gia đình. Đường sá trong buôn làng được thanh niên dọn dẹp, sửa sang. Mọi nhà đều trang hoàng rực rỡ, chuẩn bị mổ heo, gà, một số gia đình giàu có còn mổ cả bò. Sau khi cất nông cụ được đưa vào kho, ngày 24 - 25 tháng Chạp, buôn làng bắt đầu vui chơi. Họ ăn Tết cho đến mùng 5 tháng Giêng âm lịch, rồi mới bắt đầu lên nương rẫy sản xuất.

Trong nhà, người M’Nông coi trọng cái bếp nhất. Vì thế, những ngày Tết phải giữ bếp lửa luôn nồng ấm, tuyệt đối không để lửa tắt, cũng không cho người khác xin lửa. Các món ăn cổ truyền M’Nông hầu hết đều nấu nướng trực tiếp trên lửa than hồng. Theo kinh nghiệm, để có các món nướng ngon, phải dùng bếp củi đun bằng rễ cây, lửa than đỏ đều. Giữ cho ngọn lửa cháy đều là một kinh nghiệm của người đầu bếp giỏi, không nhen lửa quá mạnh hay quá yếu, vì sẽ làm món ăn chín không đều, nhiễm mùi khói. Đối với người M’Nông, những nồi đồng, mâm đồng, chiêng đồng không chỉ là vật dụng sinh hoạt mà còn là tài sản gia đình; nên ngày thường, họ nấu nướng trong nồi niêu bằng nhôm hay đất; ngày Tết, họ mới đem đồ đồng ra sử dụng.
 
Người M'Nông nấu cơm lam đãi khách rồi vùi trong tro bếp cho nóng.
Ảnh: 
baogialai.com.vn

Ngày Tết của người M’Nông không thể thiếu rượu đãi khách đến nhà. Rượu tết được nấu bằng thứ nếp ngon nhất, không nấu gạo tẻ hay ngô, sắn như ngày thường. Để nhắm rượu ngày Tết, người M’Nông làm nhiều món thịt gà nướng, luộc; món cà đắng nấu lòng bò, gỏi đọt măng rừng, hay đánh tiết canh (dùng phèo lấy từ ruột heo đem băm sống và trộn với huyết). Ngoài ra, còn các món nướng khác như thịt heo băm nhỏ trộn với muối đựng trong ống tre rồi nướng; món thịt heo trộn với ruột non, gan, ruột già hỗn hợp đựng trong ống tre hoặc món gan và lá sách heo thái từng miếng nhỏ xiên vào que tre đem nướng.

Ngày Tết, người M’Nông đặt các thức nhắm rượu trên lá chuối hột rừng (người Kinh gọi là chuối chát), hoặc trên mâm đồng hay trong một chiếc rá (rổ) để chủ và khách vừa nhắm rượu, vừa chuyện trò. Ngày Tết, các món ăn của người M'Nông không những đẹp mắt, ngon miệng, mà tất cả còn phải thể hiện đúng phong vị ẩm thực cổ truyền của họ, từ cách chế biến đến cách trưng bày, thết đãi theo truyền thống dân tộc.

Các món ăn ngày Tết của người M'Nông tiêu biểu nhất là “canh thụt”. Đây là món ăn độc đáo, mang đậm hương vị núi rừng, với các nguyên liệu khó kiếm như lá bép, đọt mây, ớt và cà đắng. Phụ gia gồm có cá khô, sườn heo, mì chính, muối. Trước khi nấu, đàn ông vào rừng chọn một cây lồ ô có lóng dài, không già cũng không quá non, đem về cưa ra từng khúc 0,5 mét. Sau đó, phụ nữ M’Nông cho tất cả nguyên liệu vào ống lồ ô, gác lên bếp lửa, nấu. Khi nấu, thỉnh thoảng phải cầm một chiếc que dài thụt vào ống, để cho các thành phần của món canh chín đều, vì thế mới có tên là “canh thụt”.
 
Nguyên liệu chuẩn bị nấu canh thụt cần có lá bép, cá lòng tong, đọt mây, cà đắng... Ảnh: baogialai.com.vn

Món độc đáo thứ hai là canh “biăp pu”. Nguyên liệu chính để nấu canh gồm có lá bép, bột gạo, vỏ chuối khô, thịt lợn, cá suối... Hái lá bép còn tươi, càng già càng tốt, về bỏ vào cối giã. Gạo đem ngâm nước lã một đêm trước, bỏ vào cối giã chung với lá nhao (lá bép khô, người M’Nông cất trên gác bếp). Tất cả mọi thứ được giã nát thành bột, sau đó khuấy với nước ấm, đủ độ chín mới nêm gia vị, thịt, cá vào nồi. Đặc biệt là món canh này người M’Nông không dùng muối. Họ phải lấy vỏ chuối khô hay rễ tranh, đốt cháy thành tro, giã nhỏ và lọc nước từ trước Tết, để cho vào canh tạo độ mặn. Người M’Nông quan niệm, các cô gái phải biết nấu canh biăp pu ngon mới là người trưởng thành, khi lấy chồng đủ sức đảm đang công việc nội trợ gia đình.

Trong các ngày Tết, người M’Nông thường nấu cơm nếp thay vì nấu cơm gạo tẻ và đặc sắc nhất là nấu theo cách thức truyền thống (nướng trên than hồng), còn gọi là nấu cơm lam. Họ dùng những ống lồ ô còn non, giữ lại mấu ở một đầu ống, cho gạo nếp và nước vào, nút lại. Sau đó đốt bằng lửa than. Nếp chín tỏa hương thơm, quyện với mùi của lồ ô tươi, khiến cho cơm lam có một hương vị đặc sắc, ngon hơn cơm nếp nấu bằng chõ hay nồi đồng.
Theo baogialai.com.vn
 

Lòng hiếu khách cuả người M’nông

Người M’nông quan niệm “khách vào bon (làng) như con vào bụng mẹ” nên không phân biệt khách chung hay khách riêng, tất cả đều được bon hoặc chủ nhà chào đón nồng nhiệt.


Bon chủ nhà trao tặng khách dây hạt cườm, chúc khách luôn khỏe mạnh, làm ăn phát đạt. Ảnh: Y Krắk Knul

Trước đó vài ngày, để chuẩn bị đón khách, người M'nông sẽ mời các nghệ nhân cồng chiêng về dự, chuẩn bị sẵn lễ vật và cử người biết hát đối đáp cùng già làng đứng đón khách từ đầu bon.

Người M'nông chuẩn bị lễ vật đón khách. Ảnh: Y Krắk Knul

Trong không khí náo nhiệt, đại diện bon sẽ trao tặng khách vòng sức khỏe hoặc dây hạt cườm, chúc khách gặp may mắn, bình yên. Sau đó, mọi người cùng nắm tay nhau, nhảy múa xung quanh cây nêu, hát bài ca đoàn kết; uống chung ché rượu cần và thưởng thức các món đặc sản như: cơm lam, thịt nướng…

Mọi người cùng nắm tay nhau nhảy múa, hát bài ca đoàn kết. Ảnh: Y Krắk Knul

Theo già làng Ma Rin ở xã Đắk N’Drung, huyện Đắk Song (Đắk Nông), lòng hiếu khách của người M’nông luôn mang tính cộng đồng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, nâng cao tinh thần đoàn kết và ý thức lao động sản xuất trong cộng đồng người M'nông.
Y Krắk Knul

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Bài cúng trong nghi lễ của người M’nông

Cũng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, đồng bào M’nông có một hệ thống nghi lễ xung quanh các hoạt động thường nhật và mỗi nghi lễ đều gắn liền với một bài cúng riêng biệt. Những bài cúng không chỉ thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của đồng bào đối với các vị thần linh mà còn thể hiện giá trị nhân văn cao cả.


Trong các  lễ hội, nghi lễ của đồng bào M'nông đều có những bài cúng đi kèm

Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh nên bất cứ một sự việc nào diễn ra trong đời sống hàng ngày của người M’nông đều phải được cúng bái. Ngoài các nghi lễ truyền thống mang tính cộng đồng, liên quan đến vòng đời con người, đồng bào M’nông còn có thêm các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp và đều được tiến hành xuyên suốt cả một mùa rẫy.

Tại các nghi lễ, lễ hội, ngoài rượu cần, mâm cúng, cùng các con vật hiến sinh như trâu, gà, heo thì luôn có bài cúng đi cùng. Bài cúng là một thể loại nói vần thể hiện lời cầu khấn của con người thỉnh cầu các vị thần linh giúp đỡ, ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu.

Điển hình, trong nghi lễ ăn cơm mới được đồng bào tổ chức trước khi chuẩn bị thu hoạch lúa đầu mùa. Lễ vật cúng được đặt trên một cái nia gồm 1 con gà luộc, cơm lấy trên đầu nồi, cá tươi, thịt, các dụng cụ sản xuất như rựa, rìu, xà gạc…Chủ nhà lấy tiết gà hòa vào rượu và bôi lên các dụng cụ để tạ ơn đã giúp đỡ gia đình trong sản xuất, lao động, có được thành quả như hôm nay.

Lời cúng như sau: “Kính báo các thần nay tôi ăn cơm gạo mới/ Cho xà gạc ăn trước, chúng tôi ăn sau/ Cho rìu ăn trước, chúng tôi ăn sau/ Cho cào ăn trước, chúng tôi ăn sau/ Cho con dao ăn trước, chúng tôi ăn sau/ Nay chúng tôi trả ơn các dụng cụ sản xuất/ Chúng tôi đền ơn cho ăn cơm đầu nồi/ Chúng tôi đền ơn cho uống nước rượu đầu/ Chúng tôi đền ơn cho ăn máu con gà/ Dụng cụ đã giúp chúng tôi hoàn thành nương rẫy…”.
 

Hay trong lễ trưởng thành - được cha mẹ tổ chức cho con cái khi từ 16-20 tuổi để thừa nhận là thành viên đã trưởng thành của cộng đồng. Đây là nghi lễ đặc biệt quan trọng nên lễ vật cúng cũng phải tươm tất gồm một con heo, ché rượu cần. Cả già làng và người được làm lễ đều mặc trang phục truyền thống để tiến hành các nghi thức cần thiết.

Lời khấn như sau: “Ơ thần! Người này đã được cha mẹ dâng lễ vật là bảy ché rượu, một con heo cúng thần, thịt heo còn lại chia cho tất cả. Rượu nồng hay nhạt xin thần cùng uống, thịt ngon hay dở xin thần cùng ăn. Cầu mong thần phù hộ cho người này mọi điều đều tốt, mọi điều đều hay. Hỡi thần…”.

Có thể thấy, mỗi một bài cúng đều có một nội dung khác nhau và đó chính là mục đích cốt yếu mà nghi lễ hướng tới. Chính vì vậy, dù quy mô nhỏ hay lớn, mỗi lễ hội, nghi lễ đều có một bài cúng riêng biệt. Các bài cúng có thể giống nhau về thể thức, về mục đích nhưng nội dung không giống nhau mà hoàn toàn phụ thuộc vào cách thể hiện của chủ lễ. Trước đây, trong mỗi gia đình, dòng họ và đặc biệt là hội đồng già làng trong cộng đồng bon đều có những người hết sức thành thạo việc cúng tế và cử hành nghi lễ.
Theo baodaknong.org.vn

Độc đáo chiếc rìu của người M’nông

Ðối với người M’nông, ngoài các vật dụng lao động sản xuất như xà gạc, cái cuốc hay lưỡi cày… thì chiếc rìu là công cụ nổi trội hơn về kiểu dáng, công năng sử dụng cũng như hình thức trang trí. Đây là một vật dụng không thể thiếu trong các nghi lễ và đời sống hàng ngày của người M'nông.
Chiếc rìu là công cụ để tạc tượng gỗ của đàn ông M'nông

Nguyên liệu để làm rìu của đồng bào M'nông đều có sẵn trong tự nhiên và rất dễ tìm. Ðể hoàn thành một chiếc rìu thì người thợ phải làm qua 3 bước cơ bản: Rèn lưỡi rìu, làm cán và ốp lót tay. Lưỡi rìu của người M’nông thường được rèn bằng sắt, rộng khoảng 7cm, dài từ 20-25cm; lưỡi hình chữ nhật, mặt chính rất sắc, tỏa nhẹ ra 2 mũi.  Phần đuôi lưỡi rìu được rèn hằn sâu một bên, một bên hở để dễ lắp cũng như dễ dàng lấy ra thanh gỗ ốp lót tay nếu không may bị gãy.

Cán rìu được làm từ gốc tre. Tùy thuộc vào chức năng và thói quen mỗi người, cán rìu có độ dài ngắn khác nhau nhưng trung bình có độ dài từ 70cm trở lên. Ðể có một cán rìu chắc, đẹp đòi hỏi người làm phải tỉ mỉ tìm chọn những gốc tre già, lõi nhỏ và quan trọng là cán phải nặng, phần đầu cán to, hơi cong.

Khi đã chọn được gốc tre ưng ý, người ta chặt gốc tre mang về, sau đó hơ nóng qua lửa nắn chỉnh độ thẳng tay cầm của cán rồi bỏ lên gác bếp lửa khoảng 1 năm sau thì mới sử dụng. Mục đích của việc làm này là nhằm tạo cho cán rìu được nhuộm màu đen bóng của khói, được nhận hơi nóng của lửa để có độ bền lâu trong quá trình sử dụng.

Ốp lót tay rìu thường được làm từ gỗ căm xe hay lim, dài từ 50 – 70cm, rộng khoảng 8cm. Ốp lót tay là điểm quan trọng để giữ độ thăng bằng, chính xác, tạo lực tiếp xúc tốt khi bổ củi, chặt đẽo cây…

Sau khi đã đủ sẵn nguyên liệu thì ráp các bộ phận lại với nhau. Phần đầu cán được đục một lỗ nhỏ ở giữa để đút vừa ốp lót tay. Còn đối với rìu dùng trong các nghi lễ thường đòi hỏi kỹ thuật rèn tinh xảo với dáng hình độc đáo, chạm khắc hoa văn chìm trên cán.
 
Người M'nông ở bon Ðắk R'moan, xã Ðắk Nia, thị xã Gia Nghĩa(Đắk Nông) coi chiếc rìu là vật dụng không thể thiếu trong đời sống hàng ngày

Ngày xưa, mỗi gia đình người M’nông thường có từ 2–3 chiếc rìu, các loại to nhỏ khác nhau để dùng phù hợp cho các thành viên trong gia đình sử dụng. Ðối với người phụ nữ thì rìu không chỉ là vật dụng sinh hoạt hàng ngày, mà nó còn thể hiện sự khéo léo, đảm đang qua những bó củi được mang về nhà của thiếu nữ đến tuổi gả chồng, hay tâm tư, tình cảm của người vợ để vun vén tổ ấm gia đình.

Ngược lại, với nam giới, rìu là một vật dụng để họ thể hiện vai trò, trách nhiệm của người đàn ông trụ cột trong gia đình. Ðó là việc lên rừng hạ cây, tạc tượng gỗ truyền thống, đẽo cột làm nhà… và một số công việc nặng nhọc khác của gia đình cũng như của bon làng.

Theo nghệ nhân Ðiểu M'rưng ở bon Ðắk R'moan, xã Ðắk R'moan (Gia Nghĩa), đối với người M’nông thì rìu không chỉ là công cụ lao động thuần túy mà còn là lễ vật không thể thiếu trong các nghi lễ mang đậm dấu ấn tâm linh của cộng đồng và trong các nghi lễ, lễ hội của bon làng. Chiếc rìu dùng trong các nghi lễ cũng được coi là một vật linh thiêng. Tại nghi lễ hiến sinh, thầy cúng thường lấy huyết của con vật bôi vào các vật dụng sản xuất, trong đó có chiếc rìu để khấn mời các thần linh về dự lễ hội cùng với bon làng, ban cho bon làng mùa vàng bội thu, gia đình no ấm.

Ngày nay, tập quán sinh hoạt, lao động của bà con đã có nhiều thay đổi, máy móc hiện đại dần thay thế nhiều công cụ lao động. Tuy nhiên, tại các bon làng, đồng bào dân tộc M'nông vẫn giữ thói quen sử dụng rìu trong lao động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày.
 
Theo baodaknong.org.vn