Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Ba Na. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục và lể hội dt Ba Na. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

Tái hiện Lễ Tơ Mon của đồng bào dân tộc Bahnar

Ngày 19/5, tại Làng Văn Hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), đồng bào dân tộc Bahnar ở xã Tơ Tung, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai đã tổ chức tái hiện lễ Tơ Mon đặc sắc của dân tộc mình.


Các vật lễ trong lễ Tơ Mon của đồng bào Bahnar. Ảnh: Hoàng Hải 

Cũng như bao dân tộc khác ở Tây Nguyên, đồng bào dân tộc Bahnar có rất nhiều lễ hội khác nhau như: lễ cầu an, lễ mừng lúa mới, lễ trả ơn… trong đó có lễ Tơ Mon.

Thầy cúng và già làng làm lễ cúng tổ tiên. Ảnh: Hoàng Hải 

Để tổ chức lễ Tơ Mon, gia chủ sẽ mời thầy cúng hoặc già làng cùng với các vật lễ như: gà, heo, ghè rượu...

Gia đình cha nuôi (mẹ nuôi) đón gia đình nhà con nuôi từ ngoài cổng làng, trước đó gia đình sẽ cúng tổ tiên tại cây nêu lễ hội để báo cho tổ tiên biết hôm nay là ngày lành tháng tốt gia chủ làm lễ nhận con nuôi và kết nghĩa với buôn làng bạn mời tổ tiên hãy về chứng giám và phù hộ cho gia đình.

Gia chủ đón gia đình con nuôi từ cổng làng. Ảnh: Hoàng Hải

Sau đó dàn cồng chiêng sẽ nổi lên đón chào gia đình người con nuôi đến với buôn làng. Cha mẹ nhận con nuôi mang bầu nước đến chào đón và cùng nhau di chuyển về nhà để làm lễ.

Đón con nuôi về nhà làm lễ. Ảnh: Hoàng Hải 
Thầy cúng và các già làng đọc lời cúng để mọi người trong làng và người thân của hai gia đình chứng giám lễ kết nghĩa, sau đó người con ngồi cung kính trước người mẹ (cha) nuôi để mời rượu, thịt và mẹ (cha) nuôi cũng có động tác tương tự để đáp lễ. Nếu không có ý kiến phản đối nào thì lễ Tơ Mon nhận con nuôi đã xong.

Dàn cồng chiêng đón chào gia đình người con nuôi. Ảnh: Hoàng Hải 
Người mẹ (cha) nuôi có trách nhiệm thương yêu, bảo bọc con nuôi như chính con ruột của họ và ngược lại con nuôi phải có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già cùng mọi công việc trong nhà như những người con ruột.

Thầy cúng và già làng làm lễ cúng nhận con nuôi trước sự chứng kiến của mọi người. Ảnh: Hoàng Hải 
Về phía người mẹ (cha), trong một thời gian thấy người con nuôi không quan tâm chăm sóc, hiểu thảo với mình và vô trách nhiệm với họ hàng bà con gần xa của gia đình thì người mẹ (cha) sẽ từ bỏ đứa con nuôi bằng cách trả lại lễ vật y như người con nuôi đã mang đến khi làm lễ nhận mẹ nuôi.

Hai người nhận nhau làm mẹ con nuôi và trao cho nhau những kỷ vật.
Ảnh: Hoàng Hải 

Trong trường hợp đó, người con nuôi ấy sẽ phải sống trong sự coi thường của dân làng và gia đình, bị mất uy tín trước cộng đồng và đặc biệt gần như bị cô lập trong cộng đồng làng. Nhưng trên thực tế khi đã kết nghĩa làm cha (hoặc mẹ), anh (hoặc em) nuôi  là có thêm một thành viên mới trong gia đình, thêm sức mạnh, thêm phúc đức, rất ít có trường hợp trả lại lễ và sống vô trách nhiệm với nhau.

Và nếu người con nuôi thực hiện mọi nghĩa vụ tốt và yêu quý cha, mẹ nuôi mình thì khi cha hoặc mẹ nuôi mất đi, người con nuôi này được hưởng đầy đủ các quyền và thực hiện nghĩa vụ theo luật làng như người con ruột, ví dụ như chia đất, nhà và của quý trong nhà như cồng chiêng, ché... tùy thuộc vào hoàn cảnh điều kiện kinh tế của từng gia đình.

Trong hoàn cảnh các con ruột đi xa không phụng dưỡng cha mẹ già một thời gian dài (khoảng 2-3 năm trở lên) trong khi đó người con nuôi tận tụy với cha mẹ nuôi cũng như đi nuôi nhà mả và bỏ mả cho cha, mẹ nuôi của mình thì tất cả tài sản gần như là của người con nuôi toàn quyền quyết định theo luật làng. Trong khi đó, những người con ruột ở xa không đảm đương trách nhiệm quyền và nghĩa vụ của mình thì chỉ được chia một phần nhỏ gia tài của cha mẹ để lại.


 Mẹ nuôi đeo vòng cổ, vòng tay cho con nuôi. Ảnh: Hoàng Hải 
Sau lễ Tơ Mon vài tháng, đến lượt người cha (hoặc mẹ) sẽ sắm lễ vật đãi lại đứa con kết nghĩa; thường thì lễ vật phải nhiều hơn lễ của con. Lúc này chỉ là nghi thức đãi ăn chứ không hành lễ. Kết thúc buổi giao hảo ấy, cha (mẹ) nuôi mà họ nhận kết nghĩa còn phải tặng vật quý làm kỷ niệm, thường thì cồng chiêng, hay ghè rượu, ruộng, rẫy, nhà... tùy vào điệu kiện của từng gia đình (không theo quy ước và bắt buộc).

Bà con dân làng cùng uống rượu cần chung vui trong lễ nhận con nuôi của gia chủ. Ảnh: Hoàng Hải 
Từ lâu đời, người Bahnar kết nghĩa cha con, mẹ con hay kết nghĩa thành anh chị em với nhau vì nhiều lý do như để được thân mật hơn, hoặc để giúp đỡ nhau trong cuộc sống.

Kết thúc buổi lễ, bà con dân làng cùng mở hội múa hát, đánh cồng chiêng.
Ảnh: Hoàng Hải 

Lễ Tơ Mon là lễ mang đậm tính nhân văn cũng như phát huy tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn cũng như chia sẻ những niềm vui trong gia đình và cộng đồng của đồng bào dân tộc Bahnar.

Sau phần nghi thức cúng mọi người cùng nhau uộng rượu cần, đánh cồng chiêng và mở hội.      
Hoàng Hải
 Quang cảnh lễ Tơ Mon tại nhà Rông.
Quang cảnh lễ Tơ Mon tại nhà Rông.
Lễ Tơ Mon là một tập tục đẹp của người Ba Na ở làng Klot, xã Kon Gang (huyện Đak Đoa, Gia Lai) nhằm giúp cộng đồng gắn kết hơn, cùng chia sẻ với nhau những khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống.
Vào ngày lành tháng tốt, gia đình tới làm lễ tại cây nêu trước nhà Rông, mời tổ tiên chứng giám việc nhận con nuôi và kết nghĩa với buôn làng bạn. Sau đó, gia đình cha (mẹ) nuôi đón gia đình nhà con nuôi từ ngoài cổng làng, khi đó trống chiêng tấu lên những làn điệu truyền thống mừng người con nuôi và gia đình đến với buôn làng. Cha mẹ nhận con nuôi mang bầu nước đến chào đón và cùng nhau di chuyển về không gian nhà Rông để làm lễ và thực hiện các nghi thức truyền thống đến khi hoàn tất các thủ tục nhận con nuôi.
Sau khi làm xong lễ Tơ Mon, về phía người mẹ sau một thời gian nếu thấy người con nuôi không quan tâm chăm sóc, hiếu thảo hoặc không có trách nhiệm với mình và họ hàng thì sẽ từ bỏ người con nuôi bằng cách trả lại lễ vật như người con nuôi đã mang đến khi làm lễ nhận mẹ nuôi. Trong trường hợp đó, người con ấy sẽ phải sống trong sự coi thường của dân làng và gia đình, bị cô lập trước cộng đồng. Trong cuộc sống sau này đối với người con nuôi, mẹ, cha nuôi phải có trách nhiệm thương yêu bảo bọc người con nuôi như con đẻ của mình.
Nếu người con nuôi thực hiện mọi nghĩa vụ tốt và yêu quý cha, mẹ nuôi mình thì khi cha hoặc mẹ nuôi mất đi, người con nuôi này được hưởng đầy đủ các quyền và thực hiện nghĩa vụ theo luật làng như người con ruột, ví dụ như chia đất, nhà và của quý trong nhà như cồng chiêng, ché... tùy thuộc vào hoàn cảnh điều kiện kinh tế của từng gia đình.
Sau các nghi thức trong Lễ, nếu không có ý kiến phản đối, người con nuôi đã chính thức được cộng đồng và gia đình thừa nhận là thành viên mới của bản làng, gia tộc. Lễ Tơ Mon là hoạt động văn hóa truyền thống giúp cộng đồng gắn kết hơn, cùng chia sẻ với nhau những niềm vui cũng như khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống.
T.H 
Sưu tầm

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Lễ cúng đầu năm của người Bahnar

Nhịp sống đô thị và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã len lỏi vào từng buôn, làng nhưng nét văn hóa bản sắc của người Bahnar làng Mơhra (xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang, Gia Lai) vẫn được được lưu truyền, gìn giữ và có sức sống mạnh mẽ. Trong đó, lễ cúng đầu năm gồm cúng xin sức khỏe và lễ cúng Kuai là một trong những nét đẹp đặc trưng trong đời sống tinh thần của cư dân nơi đây.
Cúng xin sức khỏe

Làng Mơhra có 117 hộ với 457 khẩu, hầu hết là người Bahnar bản địa nơi đây. Tiếp chúng tôi trong những ngày giáp Tết Kỷ Hợi 2019, Già làng Hmunh (70 tuổi) hiện rõ niềm vui trên khuôn mặt. Ông cho biết, lễ cúng xin Yang cho người dân sức khỏe rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Bahnar. Lễ cúng được thực hiện vào đầu tháng 1 âm lịch hằng năm và bắt buộc phải có mặt tất cả mọi thành viên trong làng. Do đó, chủ lễ phải thông báo trước về thời gian tổ chức để bà con trong làng kịp chuẩn bị và dự lễ. Già làng sẽ là người đại diện cho buôn làng đến nhà rông làm lễ cúng xin Yang (giàng, trời, thần linh) ban cho người dân trong cộng đồng được mạnh khỏe, không bị bệnh tật quấy nhiễu để rắn rỏi đôi chân lên nương, lên rẫy. Đây là phong tục độc đáo của người Bahnar, cũng là dịp để những thành viên trong cộng đồng sum họp, thêm gắn kết nhau trong những ngày đầu Xuân.

Lễ vật cúng xin sức khỏe do tất cả người dân trong làng đóng góp. Điều đó thể hiện sự đoàn kết và trách nhiệm của từng thành viên cho lễ cúng. Lễ vật gồm 1 con heo cái được nấu thành 3 món, 1 con gà mái và 1 quả trứng gà. Cơm được nấu trong 3 nồi Gọ bảy (nồi đồng) có kích thước khác nhau. Gọ bảy nhỏ nhất được nấu đầu tiên và phải dùng gạo mới thu hoạch, nồi phải được rửa thật sạch và cơm này dành cho những người lớn tuổi trong làng ăn. Hai nồi còn lại dùng để nấu cơm cho cả làng.
 
  Già làng Hmunh thực hiện lễ cúng xin mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Ảnh: Chí Hào

Khoảng 13 giờ, sau khi lễ vật đã được chuẩn bị đầy đủ, dân làng trải một chiếc chiếu mới mua trong nhà rông để thầy cúng vào làm lễ. Thầy cúng nhắc khi làm lễ xong mọi người ăn uống phải nói chuyện lịch sự, không được ca hát nhảy múa. Lễ vật được bày biện xong xuôi, chủ lễ ngồi xuống, chắp tay khấn xin Yang cho dân làng khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt, đi đường gặp điều may mắn, có người tốt bụng giúp đỡ. Sau khi khấn xong, lễ vật đã cúng sẽ được phân phát cho các thành viên trong làng cùng ăn để nhận sự che chở của Yang. Các cụ già, thầy cúng sau khi đã ăn xong mà còn dư thì phải chia lại cho con cháu, không được mang về hay vứt bỏ.

“Lễ cúng là điểm tựa tinh thần cho người dân. Mình là người lính cụ Hồ, cháu bác Núp (Anh hùng Núp-P.V) nên không mê tín dị đoan, không cúng để chữa bệnh, người dân làng Mơhra hay nơi khác bị đau ốm mình đều nói phải đến bệnh viện. Các làng chỉ giữ lại những lễ cúng năm mới, cúng sức khỏe như một nét đẹp văn hóa”- già làng Hmunh nói.

Lễ cúng Kuai

Sau khi cúng xin sức khỏe cho dân làng vài ngày, thầy cúng sẽ chọn một ngày trời nắng đẹp để thực hiện Lễ cúng Kuai-xin mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Lễ cúng có 1 con heo, 1 con gà và 1 ghè rượu. Đặc biệt, lễ cúng này không được thiếu 1 cây le được chặt trong rừng. Cây le chuẩn bị cho lễ cúng phải cứng, cong đều nhưng không được quá già. Thầy cúng là người tự tay vót cây le và giữ lại 3 đốt có nhánh dài. Ngọn cây le được cột 3 chiếc vòng tròn làm bằng tre, tiếp theo cột sợi dây rừng dài chừng 1m, cuối sợi dây này cũng được cột 3 chiếc vòng bằng tre. Trước khi tiến hành cúng, thầy cúng sẽ đốt nhựa cây Gul có mùi rất thơm để “gọi” Yang về. Đây là loại nhựa cây này rất khó tìm và chỉ những người thạo đi rừng, nhiều khi phải đi rừng nhiều ngày mới may mắn tìm thấy.

Mọi thủ tục chuẩn bị hoàn tất, đầu tiên thầy cúng sẽ xoay ngọn cây le chỉ hướng cong về hướng mặt trời mọc khấn xin cho trời mưa thuận gió hoà, không có bão, đừng cho nắng nhiều. Thầy cúng đặt hai lòng bàn tay khép vào nhau vừa đưa lên xong hạ xuống khấn xin: “Hôm nay làng tôi có 1 con heo, 1 con gà, 1 ghè rượu cho Yang. Yang hãy giúp dân làng trồng cây lúa xuống có nhiều hạt, khoai sắn củ to. Xin Yang cho mưa thuận gió hòa, cây trái tốt tươi, mùa màng bội thu. Chúng tôi sẽ sống đoàn kết, hoà thuận và không lừa ai”.

Tiếp đó già làng Hmunh xoay ngọn cây le về hướng Nam, xin cho dân làng làm ăn may mắn; xoay về hướng Bắc xin cái bông làm khố, nhuộm vải đẹp; xoay về hướng Tây xin nước để cây không chết khô, người dân làm ăn trong thời tiết thuận lợi. Nghi lễ cúng được thực hiện xong, thầy cúng sẽ phân phát lễ vật cho tất cả người dân trong cộng đồng cùng ăn, uống rượu ghè và trò chuyện với nhau về những điều đã trải qua trong năm cũ; đồng thời, răn bảo nhau sống tốt, tôn trọng giúp đỡ nhau để đón một năm mới thuận lợi, thành công hơn năm cũ.
Theo baogialai.com.vn

Nét đẹp văn hóa cúng kho lúa đầu năm mới của đồng bào Bahnar

Xuất phát từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh, đồng bào dân tộc Bahnar ở Gia Lai cho rằng mọi vật đều có tâm hồn. Năm mới, khi vụ mùa đã được thu hoạch xong, lúa đem từ đồng về chất đầy kho là thời điểm đồng bào Bahnar tổ chức cúng kho lúa, cầu mong thần lúa cho dân làng dồi dào sức khỏe, mùa vụ sau bội thu...
Người già trong gia đình vun xới lúa trong kho. Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN

Anh Đinh Ngưi, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Kbang, Gia Lai cho biết: Kbang là địa phương còn lưu giữ khá nhiều nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Bahnar trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Cúng kho lúa không phải là một lễ lớn, tuy nhiên đây là một trong những lễ cúng không thể bỏ qua hằng năm. Người Bahnar tin rằng lúa cũng có thần cai quản và thần lúa đã ban cho con người lương thực, sức khỏe.

Mỗi gia đình người Bahnar có từ 1-2 kho lúa tùy theo lượng lúa thu hoạch trong một mùa. Kho lúa thường được làm cách nhà chính khoảng vài chục mét. Sau khi gặt, phơi khô, lúa được đem về kho tích trữ. Lúa đựng trong kho với mục đích dự trữ lương thực trong 1 năm cho cả gia đình. Trong kho lúa có một ngăn để trữ lúa giống, không lẫn với lúa ăn. Điểm đặc biệt của kho lúa là chỉ để đựng lúa mà không để bất cứ loại lương thực nào khác. Lúa để dành trong kho được lấy ra sử dụng quanh năm cho đến vụ mùa kế tiếp.

Kho lúa của dân tộc Bahnar tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN

Huyện Kbang là nơi còn lưu giữ nhiều kho lúa nhất tỉnh Gia Lai. Kho có kiểu kiến trúc nhà sàn thu nhỏ, diện tích từ 10-20 m, mái lợp bằng tre, trụ cột bằng gỗ. Chân kho lúa được bôi một lớp dầu trơn để chuột, sóc không trèo lên cắn phá lúa. Sàn và tường kho lúa được kết nối bằng các tấm liếp đan bằng nứa thật kín, không để lúa rơi rớt ra ngoài nhưng vẫn giữ được độ thông thoáng để lúa không bị ẩm mốc. Kho lúa có cửa để gia chủ ra vào đổ lúa, vun lúa cho gọn gàng.

Lúa được đổ dần từ kho trong ra ngoài cho đến khi đụng ngưỡng cửa, người dân sẽ đóng kín cửa và đổ lúa từ một cửa phụ gần sát nóc kho lúa xuống cho đến khi đầy kho; kho lúa đầy được khóa lại cẩn thận. Sau đó, người già trong gia đình tiến hành làm lễ cúng để tạ ơn thần lúa đã mang đến một vụ mùa bội thu.

Bên cạnh nhà chính là Kho lúa của dân tộc Bahnar tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN

Già Đinh Hoắt ở làng Bôn, xã Lơ Ku, huyện Kbang, cho biết: Khi tiến hành cúng kho lúa, người Bahnar thường dùng gà làm vật tế lễ, họ lấy tiết gà bôi lên góc 4 chân và trên chốt khóa của kho lúa. Họ cũng chọn những hạt gạo thơm ngon nhất để nấu cơm cúng thần linh. Người lớn trong gia đình hành lễ bằng các lời khấn thần lúa, mời thần về ăn những hạt cơm thơm dẻo mà ngài ban tặng cho gia đình. Phía trước mỗi kho lúa được gia chủ cắm 3 ngọn tre tươi giống kiểu cây Nêu trong các lễ hội truyền thống với ý nghĩa thần lúa sẽ trú ngụ ở đây và cai quản kho lúa giúp họ.

Mỗi năm, đồng bào Bahnar thường tổ chức cúng kho lúa 2 lần. Lần thứ nhất là trước khi lấy lúa giống ra để gieo trồng vụ mới, người dân cúng kho lúa mong cầu một mùa màng bội thu. Lần hai là khi thu hoạch xong, lúa chất đầy kho, mỗi gia đình lại tổ chức cúng kho lúa riêng, kết hợp với lễ mừng lúa mới của cả làng để cảm tạ thần linh đã ban cho một vụ mùa tươi tốt, thóc lúa đầy kho.
Hồng Điệp

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na

Thổi tai là nghi lễ cho em bé dưới 24 tháng, gửi gắm mong muốn các thần linh tiếp tục bảo vệ và dạy bảo con trẻ lớn lên.


Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Đồng bào dân tộc Ba Na (Tơ Tung, K’bang, Kon Tum) quan niệm vạn vật hữu linh và cầu cúng là phương thức phổ biến để đồng bào giao tiếp với thần linh. Trong những giai đoạn nhất định, đời người sẽ chịu tác động của những thần linh khác nhau. Những đứa trẻ luôn được bao quanh bởi nhiều vị thần. Muốn chúng được mạnh khỏe, đồng bào phải thực hiện các nghi lễ cầu xin các vị thần phù hộ từ khi đứa bé mới sinh ra đến tuổi trưởng thành.
Để tiến hành nghi lễ, người thân trong gia đình và thầy cúng tiến hành là cây nêu. Đây là loại cây đặc trưng của đồng bào được làm bằng tre, tỉa hoa, vẽ hoa văn bằng tiết gà.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Tùy điều kiện mà chủ nhà chuẩn bị lễ vật, tuy nhiên, không thể thiếu cây nêu, mẹt, bầu đựng nước, dao, ống nứa thổi tai, bông vải, bát đồng, cuộn chỉ, con gà (với con trai thì gà trống, con gái thì gà mái). Con gà sau khi mổ thịt, chọn ra một vài miếng như gan, thịt, lòng, tiết… bỏ vào rổ nhỏ, lót lá cây sạch, rượu thì rót vào bát đồng để tiến hành lễ.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Những đứa trẻ sau khi sinh từ 3 tháng đến 24 tháng sẽ phải tổ chức lễ thổi tai. Ngoài cầu cho đứa trẻ khỏe mạnh, người Ba Na tổ chức lễ thổi tai để chúc phước, đặt tên cho em bé mới sinh và tạ ơn các thần linh.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Các thầy cúng tiến hành nghi lễ tại phần sân trước cửa nhà để mời các vị thần về.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Khi bà đỡ, thầy cúng có mặt, gia đình đưa em bé ra ngồi trước lễ vật để thầy cúng khấn. Cha mẹ em bé ngồi phía đông của lễ vật, còn thầy cúng ngồi ở phía tây.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Bà đỡ, thầy cúng đến chúc phước, cầu mong sự may mắn; cúng thần hộ mệnh bảo vệ đứa trẻ. Người ta không quên gọi các yang (thần), tổ tiên, ông bà; yang đông yang tây, yang rừng rú, suối sông; yang sinh đẻ, bảo vệ loài người… Khi cúng, người ta mang em bé sơ sinh ra bồng bế, vỗ nhẹ vào ngực, lưng và thổi tượng trưng vào tai.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Khấn xong, thầy cúng xoa nhẹ vào đầu, ngực, lưng, tay chân em bé, và thổi tượng trưng vào tai bé, buộc chỉ vào rái tai.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Thực hiện xong nghi lễ, thầy cúng mời bà đỡ, cha mẹ em bé uống rượu cần để cảm tạ. Với Lễ thổi tai, người Ba Na tin rằng em bé sẽ luôn khoẻ mạnh, khôn ngoan, lanh lợi, trở thành người tốt.
Lễ thổi tai - nghi thức đầu đời của người Ba Na
Đồng bào thường làm phần nghi thức trong nhà sàn. Sau khi cúng Yàng, bà con họ hàng uống rượu vui chơi, ca hát, hòa tấu nhạc cụ dân tộc, để chúc mừng em bé tại sân lễ hội.
Nghi lễ thổi tai của người dân tộc thiểu số Ba Na (Tơ Tung, K’bang, Kon Tum) diễn ra trong khuôn khổ Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam” từ ngày 18 đến 23/11, tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội).
Ngọc Thành

Gia Lai: Đặc sắc lễ hội thổi tai của đồng bào Ba Na

Lương Xuân Tính 
Vanhien.vn - Đối với đồng bào Ba Na, lễ thổi tai là nghi lễ rất quan trọng cho một người mới sinh trong gia đình, vừa là niềm vui, vừa là trách nhiệm, gửi gắm mong muốn các thần linh tiếp tục bảo vệ và dạy bảo con trẻ lớn lên.
Bé Đinh Thị Ni (2 tuổi) - người được làm lễ thổi tai, đang vui đùa trong bố mẹ, chị Đinh Thị Mai và anh Đinh A Nghinh . Ảnh: Thanh Hà.
Nghi lễ vòng đời đầu tiên…
Người Ba Na quan niệm rằng trong những giai đoạn nhất định của đời người hay vòng cây cối, cá nhân, cộng đồng, vật nuôi sẽ chịu tác động của những vị thần linh khác nhau. Từ khi sinh ra đến lúc về thế giới ông bà, người Ba Na phải trải qua ít nhất hai, ba lễ cúng sức khoẻ. Lễ thổi tai được thực hiện đầu tiên trong các nghi lễ vòng đời của người Ba Na. Tổ chức lễ thổi tai để chúc phước, đặt tên cho em bé mới sinh và tạ ơn các thần linh, cầu cho đứa trẻ khoẻ mạnh, khôn ngoan, trở thành con người tốt của gia đình và cộng đồng.
Tùy theo điều kiện kinh tế mà gia đình chọn thời điểm tổ chức lễ thổi tai cho em bé và quy mô lớn hay nhỏ. Có nơi thì tổ chức lễ khi em bé sinh được một tuần, hoặc khi em bé đã rụng rốn, và đặt tên cho bé. Nếu điều kiện khó khăn, đến khi em bé biết bò, thậm chí biết đi, gia đình mới làm lễ thổi tai, đặt tên.
Sau phần lễ, bà con Ba na tưng bừng nhảy múa trong tiếng cồng chiêng quanh cây nêu, chúc mừng nghi thức thổi tai thành công. Ảnh: Minh Tiến
Để tiến hành nghi lễ cúng thổi tai cho em bé, gia đình chuẩn bị một con gà, ghè rượu cần; con trai thì gà trống, con gái thì gà mái. Cây nêu, mẹt, bầu đựng nước, dao, ống nứa thổi tai, bông vải, bát đồng, cuộn chỉ ô… Con gà sau khi mổ thịt, chọn ra một vài miếng gan, thịt, lòng, tiết… bỏ vào cái rổ nhỏ, lót lá cây sạch, rượu thì rót vào bát đồng để tiến hành lễ thổi tai. Bà đỡ, thầy cúng đến chúc phước, cầu mong sự may mắn; cúng thần hộ mệnh bảo vệ trẻ sơ sinh. Người ta không quên gọi các yang tổ tiên, ông bà; yang Đông yang Tây, yang rừng rú, suối sông; yang sinh đẻ, bảo vệ loài người… Khi cúng, người ta mang em bé sơ sinh ra bồng bế, vỗ nhẹ vào ngực, vào lưng em và thổi tượng trưng vào tai - anh Đinh A Nghinh (làng Leng, xã Tơ Tung, huyện K’bang, Gia Lai) chia sẻ.
… Nét đẹp văn hóa của đồng bào Ba Na
Thầy cúng Đinh Girang (làng Leng, xã Tơ Tung, huyện K’bang, Gia Lai) đọc bài khấn: “Hỡi các yang (thần linh), này đây chúng ta dâng các thần bằng rượu ngọt, rượu chua, thịt heo gà, muốn tiến hành thổi tai cho nó, mong rằng các yang che chở, bao bọc, nuôi nấng, dìu dắt nó. Chúng ta cột ghè rượu ba, rượu năm để dâng cho thần đỡ đẻ, thần trông nom trẻ, mong sau này cả nhà đi rẫy lên nương, mẹ nó chẻ củi, lấy nước không có gì vướng mắc trắc trở; cầu cho em bé sống khoẻ mạnh đến thọ. Nó lớn lên được cha nhờ gánh nước, mẹ nhờ nương rẫy; người nó được khoẻ mạnh, uống rượu, vui chơi với mọi người không bị rượu đè, ma xui làm việc xấu. Nó sống khỏe mạnh cứng cáp, con gái lớn vùn vụt như măng lên, con trai khỏe như cọp không tóp không khô lại. Này đây, các loại rượu ngon, thịt thơm dâng cho các yang để sau này, ra sông, xuống suối, vào rừng lên núi; dù trời lạnh hay nóng, mưa hay nắng luôn luôn được các yang che chở cho nó suốt cuộc đời...”.
Khấn xong, thầy cúng Đinh Girang xoa nhẹ vào đầu, vào ngực, vào lưng, tay chân em bé, và thổi tượng trưng vào tai bé. Thực hiện xong nghi lễ, thầy cúng mời bà đỡ uống trước, sau đến cha mẹ em bé, rồi đến bà con họ hàng, thôn, làng cùng uống vui với gia đình ca hát.
Bà con Ba Na và du khách nhảy múa trong tiếng cồng chiêng quanh cây nêu, chúc mừng nghi thức thổi tai thành công. Ảnh: Thanh Hà
Sau phần nghi thức tại không gian nhà sàn truyền thống là phần hội với sự giao lưu của đồng bào dân tộc Ba Na cùng đồng bào các dân tộc và du khách cùng uống rượu chung vui, ca hát, hòa tấu nhạc cụ dân tộc và cầu chúc em bé sẽ luôn khỏe mạnh, khôn ngoan, lanh lợi, trở thành người có ích cho xã hội.
Lễ thổi tai của đồng bào Ba Na đến từ xã Tơ Tung, H. K'bang, tỉnh Gia Lai là một trong những hoạt động đặc sắc trong khuôn khổ các hoạt động Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam” năm 2018 tổ chức tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Tái hiện Lễ thổi tai là hoạt động thiết thực và ý nghĩa do chính chủ thể văn hóa thực hiện nhằm giới thiệu bản sắc văn hóa truyền thống của người Ba Na tại “Ngôi nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, đồng thời đây là cơ hội để đồng bào Ba Na quảng bá việc gìn giữ những phong tục, nghi lễ, những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình tới du khách.
Nguồn: langvietonline.vn

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

Lễ Pơ Kong-Nét đẹp văn hóa truyền thống Bahnar

Lễ Pơ Kong là lễ trao còng đồng của cô dâu, chú rể khi chính thức đồng ý lấy nhau và có sự chứng giám của gia đình, dân làng và thần linh.
Vào ngày này, gia đình, bà con hai họ cũng như dân làng đều đến chia vui trong không khí vui mừng cho hạnh phúc cho đôi bạn trẻ. Ngoài tính cộng cảm mọi người còn chia sẻ với chủ nhà nắm gạo, cái ghè, con gà, bó rau… tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi gia đình.

 Lễ  Pơ - Kong của chú rể Huk và cô dâu Nhung, diễn ra tại  nhà ông Y Thương, bà Nay Nhoa là ông bà ngoại của cô dâu tại làng Kto (xã Kon Gang, huyện Đak Đoa, Gia Lai)

Lễ Pơ Kong diễn ra với một số nghi thức tuy đơn giản nhưng đầy đủ ý nghĩa theo phong tục Bahnar. Gia chủ sẽ chuẩn bị 1 ghè rượu, 2 đùi gà, 2 nắm xôi, một ít muối, 2 chiếc còng đồng, tất cả lễ vật để lên lá chuối được gia chủ xếp khéo léo và rất đẹp mắt. Già làng chuẩn bị trang phục truyền thống, chỉnh tề để chuẩn bị làm lễ theo phong tục của người Bahnar. Ông ngồi giữa và cô dâu, chú rể, còn gia đình họ hàng ngồi hai bên để chứng kiến niềm vui lớn này.

Tay cầm cành cây teng leng (cây này người Bahnar coi là cây thần để cúng mới có linh nghiệm), già làng làm lễ và đọc lời khấn với nội dung: “Báo cáo với thần linh, ông bà tổ tiên, hôm nay con trai Huk, con gái Nay Y Nhung chính thức là vợ, là chồng, gia đình bên gái có thêm con trai, gia đình con trai có thêm con gái” (theo phong tục người Bahnar không phân biệt là con dâu, con rể. Chỉ khi có người ngoài nói chuyện về gia đình và tìm hiểu kỹ thì họ mới giới thiệu là dâu hoặc rể-N.V)

Khi già làng khấn xong, chú rể trao còng đồng cho cô dâu và ngược lại. Lễ nghi tiếp theo là già làng đưa cho cô dâu, chú rể mỗi người một chiếc đùi gà và một nắm xôi. Họ vừa ăn vừa uống rượu cho tới khi ăn hết thì già làng mới tuyên bố người con trai và con gái này chính thức là vợ chồng (mà người Bahnar gọi là Bôk muh măt), là người cùng nhà dưới sự chứng giám của gia đình, dân làng và các Yàng. Lúc này, đại diện cho 2 gia đình đứng ra dặn dò hai con phải yêu thương lẫn nhau, chăm sóc cho nhau… Cô dâu, chú rể cầm chén rượu lấy từ ghè rượu đã được già làng cúng đến mời rượu cha mẹ hai bên cũng như mọi người đến tham dự lễ Pơ Kong, sau đó nhận những lời chúc phúc của mọi người, hai bên gia đình cô dâu, chú rể. Từ nay hai bên chính thức gọi nhau là sui gia, tiếng Bahnar gọi là Pô Băn.               

Trước khi làm lễ Pơ Kong, gia đình bên gái đã chuẩn bị một số thực phẩm, đồ uống truyền thống như rượu ghè, lá mì, cơm lam... Nhà trai thì tùy thuộc vào điều kiện, vì lễ này nhà gái đã lo hết do đã “bắt” được chồng cho con mình. Dân làng cũng hòa cùng gia đình ăn uống nói chuyện, một nhóm ít người ngồi bàn, ngồi ghế ăn uống, còn phần nhiều là 5-7 người từng nhóm ngồi dưới gốc cây… Chỗ nào có bóng mát là chỗ đó có tiếng cười nói vui mừng chia sẻ niềm vui cùng gia đình… Đây cũng là dịp để mọi người tìm hiểu nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn về cuộc sống cũng như kinh nghiệm đồng áng, kỹ thuật trong sản xuất giúp gia đình và cộng đồng ngày càng phát triển.

Lễ Pơ Kong vừa là nghi thức truyền thống vừa tiết kiệm theo nếp sống mới. Ở đó, người đi dự đám cưới không cần phải lo lắng “phong bì”, gia đình bên tổ chức cũng không phải lo chuyện “ế ẩm mâm cao cỗ đầy”. Với lễ Pơ Kong của người Bahnar, ngoài việc vui vẻ chia sẻ chúc mừng hạnh phúc của đôi bạn trẻ, đây cũng là dịp để mọi người có cơ hội gặp gỡ, hỏi thăm, nhận biết thêm người nhà của cả hai bên gia đình, qua đó giúp cho mối quan hệ dòng họ, bà con ngày càng khăng khít, đoàn kết giúp đỡ, chia sẻ trong cuộc sống cộng đồng.

 
Y Phương (Báo điện tử Gia Lai)

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Lễ Sơmă Kơcham của người Bahnar

Tháng 3, khi hoa Pơ-lang (hoa gạo) nở cũng là lúc đồng bào dân tộc Bahnar ở Mơ H’Ra, xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang (Gia Lai) tổ chức lễ hội Sơmă Kơcham.
Sơmă Kơcham - lễ hội lớn nhất trong năm
của đồng bào Bahnar

Tháng 3, khi hoa Pơ-lang (hoa gạo) nở cũng là lúc đồng bào dân tộc Bahnar ở Mơ H’Ra, xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang (Gia Lai) tổ chức lễ hội Sơmă Kơcham. Theo tiếng Bahnar thì Sơmă là cúng, Kơcham là sân.

Đầu gà dùng để cúng Yàng
 
Cúng sân hiểu theo nghĩa rộng là cúng đất làng. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của người Bahnar, mở đầu cho một năm sản xuất - đồng nghĩa với một lễ hội đón mừng năm mới.

Già làng thực hiện nghi lễ cúng thần linh
 
Thưởng thức rượu cần trong lễ Sơmă Kơcham

Lễ hội kéo dài suốt một ngày đêm, cầu xin thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, con người khỏe mạnh, loài vật sinh sôi. Đàn lễ được tổ chức rất long trọng. Lễ vật hiến tế các vị thần linh là trâu, bò, rượu cần, cơm lam. Phần lễ do các già làng đảm nhận. Sau phần lễ là tiệc ăn uống kéo dài suốt đêm.
Bài: Ngọc Tấn - Ảnh: Trần Phong

Độc đáo lễ Tơ Mon

Người Bahnar ở làng Klot, xã Kon Gang (huyện Đak Đoa) cũng như bao dân tộc khác ở Tây Nguyên nói chung và người Bahnar nói riêng có rất nhiều lễ hội khác nhau như: lễ cầu an, lễ mừng lúa mới, lễ trả ơn…, trong đó có lễ Tơ Mon (còn được gọi là lễ bú vú hay lễ kết nghĩa mẹ con).
Những người già trong làng cho biết, bao đời qua người Bahnar kết nghĩa anh em, cha con, mẹ con hay kết nghĩa thành anh chị em với nhau vì nhiều lý do như để được thân mật hơn, hoặc để giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Bà Ka Ri-Chi hội trưởng chi hội Phụ nữ làng cho biết: Theo nghi thức trước đây của lễ Tơ Mon, hai bên cùng nhau thịt heo, mổ gà rồi lấy máu trộn lẫn với rượu, với quan niệm máu hòa rượu kia chính là “sữa” và người ta chỉ có thể là mẹ con (hay cha con) với nhau khi đứa trẻ bú sữa đấng sinh thành của nó. Sau đó người nhận làm cha (hoặc mẹ) của đứa trẻ kết nghĩa sẽ để mình trần đứng một bên và để cho thầy cúng hoặc già làng cầm bát rượu hòa máu con vật hiến sinh đứng sau lưng đổ từ vai xuống ngực cho đứa con kết nghĩa há miệng dưới vú hớp uống nước ấy.

Lễ Tơ Mon tại gia đình bà Bà Yươh (làng Klot, xã Kon Gang, huyện Đak Đoa)

Chỉ đến khi người thầy cúng đổ hết chén rượu thì nghi thức bú vú mới kết thúc. Lúc này hai gia đình kết nghĩa sẽ cùng đến bên ghè rượu, cùng lấy gan con vật hiến sinh và đọc lời cúng nhằm thông báo cho các vị thần biết chuyện và mời các thần uống rượu, ăn gan những con vật hiến sinh, từ đó quan tâm, giúp đỡ cho cha con (hoặc mẹ con) kết nghĩa có được sức khỏe dẻo dai, sống thuận hòa đến đời con cháu. Thầy cúng vừa đổ rượu vừa khấn xin các thần phù hộ cho tình phụ tử hoặc mẫu tử của hai gia đình kết nghĩa được bền chặt,  cùng ăn ở thuận hòa, cùng yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, ai làm trái, sống sai sẽ bị các thần phán xét.

Tuy nhiên, hiện nay nghi thức này đã được biến tấu cho phù hợp hơn, làng không làm nghi lễ như trước kia mà chỉ mời thầy cúng hoặc già làng cùng với đủ các vật lễ như gà, heo, ghè rượu sau khi đọc lời cúng để cho các Yang và mọi người trong làng, đặc biệt là người thân của hai gia đình, chứng giám lễ kết nghĩa, sau đó người con ngồi cung kính trước người mẹ (cha) nuôi để mời một ly rượu, một miếng thịt đưa cho mẹ và mẹ nuôi cũng có động tác tương tự để đáp lễ. Nếu không có ý kiến phản đối nào thì lễ Tơ Mon mẹ nhận con nuôi chính thức đã xong. Người mẹ (cha) nuôi có trách nhiệm thương yêu bảo bọc con nuôi như chính con ruột của họ và ngược lại con nuôi phải có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già cùng mọi công việc trong nhà như những người con ruột.

Về phía người mẹ, trong một thời gian thấy người con nuôi không quan tâm chăm sóc, hiểu thảo với mình và vô trách nhiệm với họ hàng bà con gần xa của gia đình thì người mẹ sẽ từ bỏ đứa con nuôi bằng cách trả lại lễ vật y như người con nuôi đã mang đến khi làm lễ nhận mẹ nuôi. Trong trường hợp đó, người con nuôi ấy sẽ phải sống trong sự coi thường của dân làng và gia đình, bị mất uy tín trước cộng đồng và đặc biệt gần như bị cô lập trong cộng đồng làng. Nhưng trên thực tế khi đã kết nghĩa làm cha (hoặc mẹ), anh (hoặc em) nuôi  là có thêm một thành viên mới trong gia đình, thêm sức mạnh, thêm phúc đức, rất ít có trường hợp trả lại lễ và sống vô trách nhiệm với nhau.

Ảnh: Y Phương
Ảnh: Y Phương
Và nếu người con nuôi thực hiện mọi nghĩa vụ tốt và yêu quý cha, mẹ nuôi mình thì khi cha hoặc mẹ nuôi mất đi, người con nuôi này được hưởng đầy đủ các quyền và thực hiện nghĩa vụ theo luật làng như người con ruột, ví dụ như chia đất, nhà và của quý trong nhà như cồng chiêng, ché... tùy thuộc vào hoàn cảnh điều kiện kinh tế của từng gia đình. Trong hoàn cảnh các con ruột đi xa không phụng dưỡng cha mẹ già một thời gian dài (khoảng 2-3 năm trở lên) trong khi đó người con nuôi tận tụy với cha mẹ nuôi cũng như đi nuôi nhà mả và bỏ mả cho cha, mẹ nuôi của mình thì tất cả tài sản gần như là của người con nuôi toàn quyền quyết định theo luật làng. Trong khi đó, những người con ruột ở xa không đảm đương trách nhiệm quyền và nghĩa vụ của mình thì chỉ được chia một phần nhỏ gia tài của cha mẹ để lại.

Sau lễ Tơ Mon vài tháng, đến lượt người cha (hoặc mẹ) sẽ sắm lễ vật đãi lại đứa con kết nghĩa; thường thì lễ vật phải nhiều hơn lễ của con, ví như gia đình con giết heo thì họ mổ bò. Lúc này chỉ là nghi thức đãi ăn chứ không hành lễ. Kết thúc buổi giao hảo ấy, cha (mẹ) nuôi mà họ nhận kết nghĩa còn phải tặng vật quý làm kỷ niệm, thường thì cồng chiêng, hay ghè rượu, ruộng, rẫy, nhà... tùy vào điệu kiện của từng gia đình (không theo quy ước và bắt buộc).

Lễ Tơ Mon là lễ mang đậm tính nhân văn cũng như phát huy tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn cũng như chia sẻ những niềm vui gia đình và cộng đồng. Đây là một mỹ tục nên rất cần được nhân rộng, khuyến khích trong văn hóa làng để tô đậm thêm những nét son trong luật tục của tộc người Bahnar nói riêng, các tộc người trên đất Tây Nguyên nói chung vốn dĩ đang ngày càng bị mai một bởi sự xâm lấn thô bạo của nhiều luồng văn hóa ngoại lai.
 
Y Phương ( Báo Điện tử Gia Lai

Lễ đâm trâu của đồng bào Bahnar

Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Bahnar có tục đâm trâu khi làng có sự kiện trọng đại hoặc mở hội mừng xuân. Theo các già làng thì người Bahnar có 3 việc cần giết trâu. Một là cầu bình yên. Hai là, khi làng có chuyện vui trọng đại. Ba là, trong làng có người chết, nhà chủ mổ trâu để tiếp đãi những người đến chia buồn.
Lễ đâm trâu bắt đầu
Con trâu chọn để cúng phải to khỏe, được buộc chắc chắn vào cột. Suốt đêm bà con dân làng bày tỏ tình cảm với trâu bằng bài hát “Khóc trâu”, mong con vật hiểu được tình cảm của mọi người để thực hiện nhiệm vụ của mình.

Tấu chiêng chuẩn bị cho lễ đâm trâu

Chủ lễ là già làng, người có uy tín khấn trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, dân làng khỏe mạnh, hoa trái mùa màng tốt tươi… Giữa tiếng cồng chiêng thúc giục, những chàng trai múa, phóng lao vào con trâu… Khi trâu chết, người ta thịt trâu làm cỗ dâng cúng thần linh và chia lộc cho cả làng, cầu mong bình yên và hạnh phúc cho buôn làng.
Các thiếu nữ Bahnar múa hát trong lễ đâm trâu

Lễ đâm trâu thực sự là ngày hội của đồng bào Bahnar, là một phong tục độc đáo được lưu truyền từ bao đời nay. Hiện nay, thực hiện nếp sống mới, lễ hội này chỉ còn mang tính tượng trưng, không tổ chức tràn lan như trước kia.
 
Trâu bị hạ gục

Thanh H

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Độc đáo lễ hội cầu an của người Ba Na

Lễ cầu an theo tiếng Ba Na còn gọi là Puh Hơ Drih, là một trong những lễ hội truyền thống có từ lâu đời liên quan đến con người và mùa màng

 Lễ hội được tổ chức với mong muốn cầu cho buôn làng ấm no, khỏe mạnh, tránh khỏi chiến tranh, dịch bệnh, xua đuổi những xui xẻo, tai họa khỏi buôn làng. 
Thông thường, lễ hội cầu an của đồng bào Ba Na được tổ chức vào tháng 11, 12 Dương lịch, sau khi người dân thu hoạch xong. Nghệ nhân A Thút, xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, cho biết: Đây là lễ hội có từ xa xưa và được người Bana truyền lại cho con cháu. Lễ hội bắt nguồn từ khi làng của người Ba Na bị đại dịch hoành hành. Nhiều người chết, nên người dân tổ chức lễ cúng thần, cầu mong thần linh xua đuổi tà ma. Nghệ nhân A Thút cho biết: Lễ hội cầu an là xin các vị thần linh cầu mong cho dân làng mình khỏe mạnh, xua đuổi mọi bệnh tật, ốm đau, xui xẻo ra khỏi làng. Dân làng mình được khỏe mạnh, làm nhiều rẫy, làm nhiều ngô, nhiều khoai, chăn nuôi phát triển, đàn trâu, bò để làng có cuộc sống sung túc, no ấm, xây dựng làng mình phát triển lên, tốt đẹp hơn.
Trước khi tổ chức lễ hội, già làng tổ chức cho dân  trong buôn phát dọn đường đi sạch sẽ, sửa sang nhà Rông, bến nước, dọn vệ sinh các con đường trong buôn. Để chuẩn bị cho lễ hội, người dân chuẩn bị 4 hình nộm người làm bằng các vật liệu, sản vật sẵn có trong tự nhiên hay từ những sản phẩm nông nghiệp. Tùy vào điều kiện kinh tế  mà dân trong buôn cúng cho Yang (thần linh)  những lễ vật hiến sinh phù hợp.

Lễ hội Puh Hơ Drih.

Thông thường, lễ vật cúng thần của người Ba Na có thể là những con bò, heo, dê, gà…Tuy nhiên, những năm gần đây, bà con Bana thường chọn con dê làm con vật hiến sinh. Theo quan niệm của đồng bào, dê là con vật linh thiêng, là anh của các súc vật trong làng. Vào ngày lễ hội, tất cả thành viên trong buôn đều tập trung  trước nhà Rông để làm lễ cúng thần.
Già làng là người chủ trì buổi lễ. Già làng cầm khiên, đao đi đầu, bên cạnh là một thanh niên đeo mặt nạ cầm mác; tiếp sau là 4 thanh niên mang theo hình nộm. Tiếp nữa là 2 thiếu nữ, mỗi người cầm cây lá đót. Cuối cùng là đội cồng chiêng và đi sau là toàn thể dân trong buôn. Giờ phút được chờ đợi nhất của lễ hội đó là lúc già làng làm lễ cầu khấn các thần linh phù hộ, cảnh người dân làm các động tác hú gọi xua đuổi tà ma  trong tiếng cồng chiêng nổi lên dồn dập.
Việc xua đuổi những con ma xấu diễn ra cho đến khi đoàn người đi hết khắp buôn làng, đuổi dồn về cuối buôn. Lúc này, tất cả các đạo cụ như: hình nộm, lá đót, mặt nạ…được dân bỏ lại, rồi đoàn người  quay về tập trung tại nhà Rông. Ngay sau phần lễ, tất cả dân làng cùng đánh cồng chiêng, trình diễn trang phục cổ truyền, uống rượu cần, liên hoan ẩm thực và hát dân ca. Ông Ma Lê, người dân tộc Ba Na hiện đang sống tại Hà Nội, chia sẻ cảm xúc sau khi xem lại lễ hội: Thuở bé, tôi xa quê hương nên tôi được xem những điệu múa này tôi rất thích, điệu múa, tiếng cồng chiêng nhịp điệu, lễ nghi theo đúng ngày xưa. Tôi thấy rất phấn khởi”.
Ngày nay, những lễ hội cầu an, cầu mùa của đồng bào Ba Na không chỉ đơn thuần là hoạt động tâm linh truyền thống nhằm tạ ơn trời đất cho vụ mùa bội thu, mà còn là dịp để đồng bào vui chơi, đánh cồng chiêng, uống rượu cần... Lễ hội cũng là dịp để người Ba Na thể  hiện tinh thần đoàn kết, góp phần giáo dục con cháu bảo tồn nét văn hoá truyền thống, làm giàu thêm đời sống tinh thần của bà con dân tộc Ba Na trong cuộc sống hôm nay.
Theo VOV5

Thứ Năm, 29 tháng 6, 2017

Kỳ lạ làng 'người rừng' bôi phân trâu lên người ở Tây Nguyên

Trước khi nhảy xuống suối tắm, mình phải múc bùn dưới ruộng lúa, phân trâu đổ vào ổ con trâu thường nằm để tắm, bôi lên người.

Tắm bùn đuổi ma rừng 

Tôi lên Tây Nguyên vào những ngày đầu mùa mưa, rừng cây sũng nước, không biết do mưa hay sương đêm còn đọng. Những con đường ướt át, bầu trời sà thấp, cảm giác như chỉ cần đưa tay lên là đụng vào những đám mây xám. 

Sau gần 3 giờ bị “tra tấn” trên chiếc xe đò vừa chật chội bởi đủ thứ mùi, chúng tôi thở phào khi xe dừng ở thị trấn Kanak, “thủ phủ” huyện K’bang. 

Anh bạn đi cùng cảnh báo: Từ đây đến Kon Pne còn cả trăm cây số nữa, phải đi bộ nhiều cây số đường rừng, lội suối. Và nếu muốn ngồi xe ô tô phải bỏ ra mỗi người 1,5 triệu đồng để thuê xe chứ không có xe đò. Chúng tôi chọn giải pháp thuê 2 “con ngựa sắt” đã được người dân bản địa “độ” lại. 

Đi đã khá lâu, vượt qua những dốc cao chóng mặt, hàng chục cánh rừng âm u mà phía trước vẫn chỉ là con đường rừng hun hút. Đến một con thác mà bạn tôi bảo đó là thác Kon H’Phăm, chúng tôi dừng chân nghỉ và gặm bánh mỳ. 

Đúng lúc đó, có mấy người Ba Na đeo gùi đi tới, chúng tôi mừng rỡ định làm quen, hỏi thăm. Nhưng chưa kịp hỏi gì, họ đã rẽ ngang, biến mất sau những lùm cây. Anh bạn tôi cười: “Người Ba Na ở trong này sống biệt lập, họ rất ít tiếp xúc với người ngoài, nên ngại”. 

Từ trẻ em, phụ nữ đến người già, ai ai cũng có thể uống rượu được
Từ trẻ em, phụ nữ đến người già, ai ai cũng có thể uống rượu được 

Đến Kon Pne, chúng tôi được anh Đinh Ka, Trưởng thôn 2 (tên mới của làng Kon K’riêng) đợi sẵn rồi đưa chúng tôi đi thêm 4 cây số đường rừng nữa, mới lên đến Kon K’riêng nằm cheo leo trên sườn núi. 

Lúc này, đang có hàng chục người đủ mọi lứa tuổi, từ đầu đến chân họ nhuộm bùn đen trũi, đua nhau từ trên một mỏm đá cao nhảy ùm ùm xuống con suối nước chảy trong vắt. Dòng nước nhanh chóng cuốn sạch bùn trên cơ thể, quần áo họ. 

Gần đó, 4 người đàn ông đang đầm mình trong một vũng nhỏ, chứa chất lỏng sền sệt, đen kịt, bốc mùi hôi nồng nặc. 

Đinh Ka bảo: “Hôm nay làng có lễ X'trăng (đâm trâu) cúng Yàng Sơri (thần Lúa), Yàng Đắk (thần Nước), Yàng Kông (thần Núi), cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhiều sức khỏe. 

Đây là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của làng Kon K’riêng. Trong dịp lễ này, người dân trong làng phải ra suối tắm để Yàng Đắk làm phép, thần sẽ đem lại may mắn cho từng người. 

Tắm bùn đuổi ma rừng
Tắm bùn đuổi ma rừng 

Trước khi nhảy xuống suối tắm, mình phải múc bùn dưới ruộng lúa, phân trâu đổ vào ổ con trâu thường nằm để tắm, bôi lên người. Mình phải làm con ma rừng, ma rừng bẩn lắm, nên xuống suối tắm để thần suối tẩy cái bẩn đi, con ma rừng sẽ ra khỏi người, cả năm mình sẽ khỏe mạnh”. 

Ở khu vực nhà rông, không khí còn náo nhiệt hơn nữa. Chỉ người đàn ông đang ngồi, mắt lim dim, miệng lầm rầm khấn vái, bạn tôi bảo: “Già làng Đinh A Khi đấy”. Đinh Ka nói thêm: “Già làng đang khấn cảm ơn thần linh vì mùa vụ và cầu phù hộ cho dân làng mùa tới”. 

Theo lời Đinh Ka, để chuẩn bị cho lễ hội, từ 10 ngày trước, dân làng đã “nhắm” sẵn một con trâu tơ, khỏe mạnh, sừng dài không quá 2 gang tay. Con trâu này được chăm sóc đặc biệt, ăn uống, tắm rửa mỗi ngày.
Video người rừng trèo cây thoăn thoắt


Đến ngày làm lễ, trâu được cột bằng dây mây, một đầu nối với cây gơng (cây nêu), trên đỉnh nêu có những vòng tròn, trong mỗi vòng trong lại có sợi dây thả lòng thòng xuống đất. Những sợi dây này để thần theo xuống nhận lễ cúng. 

Trước khi hành quyết, một nhóm thanh niên mạnh khỏe bắt đầu bài biểu diễn võ thuật theo nhịp cồng chiêng rộn rã và tiếng hò reo, cổ vũ của dân làng. 

Bài biểu diễn kết thúc, họ bất ngờ phóng những cây lao dài, hạ gục con trâu trong chốc lát. Sau đó, họ mổ trâu, lấy tim, gan, cắt đầu trâu để già làng dâng mời các vị thần theo cây gơng xuống hưởng lễ. 

Vui buồn bên "kàng" rượu 

Đêm xuống, Kon Pne chìm trong bóng tối vì điện chưa có. Nhưng, nhiều người dân làng Ba Na khiến tôi bất ngờ khi thấy trên trán họ có một chiếc đèn pin. Ánh sáng loang loáng, lúc rọi lên trời, lúc lại chiếu thẳng vào mặt người đối diện. 

Anh A Pun, người trong làng bảo: “Hồi xưa ở đây chỉ có lửa và trăng thôi. Mấy năm trước có người dưới xã lên, thấy họ có cái này nên bà con mới học theo”. 

Trong nhà rông, hàng chục người đàn ông, phụ nữ tuổi trung niên đang ngồi quây quần quanh bếp lửa bập bùng, trước mặt là những bình rượu cần mới tinh, dưới sàn, trên những tấm lá chuối rừng tươi, bày la liệt thịt trâu, thịt gà nướng, xôi. 

Múa hát xung quanh cây nêu khi đang tế thần
Múa hát xung quanh cây nêu khi đang tế thần 

Ly uống rượu là một đoạn ống cây hóp (thuộc họ tre) tươi, đủ mọi kích cỡ, người Ba Na gọi là kàng. Trước khi mời khách, già làng Đinh A Khi uống một kàng. 

Anh bạn tôi bảo, người Ba Na rất mến khách, nhưng trước khi mời khách dùng gì, chủ nhà sẽ dùng trước để cho khách biết không có độc. Ở đây, từ đứa trẻ 2 tuổi đến thiếu nữ, người lớn tuổi, tất cả đều có thể ngậm cần hút rượu ừng ực! 

Chúng tôi vừa uống xong kàng rượu thơm lựng mùi nếp nương, thì bất ngờ, họ nắm một nắm xôi nhét đầy miệng, tôi chưa kịp phản ứng gì thì anh bạn nói liền “Đó là tình cảm của họ, nếu nhả ra họ sẽ ghét đấy”. 

Sau đó, họ bắt đầu dúi vào tay chúng tôi những miếng thịt trâu nướng thơm phức mùi gia vị từ các loại lá rừng. Sau vài kàng rượu, những chàng trai cô gái Ba Na bắt đầu đứng lên, nắm tay nhau vừa nhảy múa vừa ca hát trong tiếng cồng chiêng ngân vang, tiếng reo hò, cổ vũ. 

Trong hơi men chếnh choáng, già làng Đinh A Khi tâm sự, điều khiến ông trăn trở nhất là từ bao đời nay, ở Kon K’riêng vẫn tồn tại hủ tục hôn nhân cận huyết. 

Chỉ vào cặp vợ chồng trẻ Đinh Ka, Đinh H’Lét, ông cho biết, mẹ Đinh H’Lét là chị gái của bố Đinh Ka (chị em con cô con cậu), hai người lấy nhau nay đã có đứa con 5 tuổi. 

“Ở đây, con của 2 anh em trai và con của chị em gái thì không được lấy nhau. Nhưng con của anh em trai với chị em gái và ngược lại, thì có thể lấy nhau”, già làng nói. 

Còn chàng trai tên Đinh Huyi (20 tuổi) thì cầm tay chúng tôi nói: “Trai làng cũng biết lấy vợ trong làng, có họ hàng là không tốt, cán bộ xã nói nhiều rồi. Nhưng phải đến buôn khác, xa lắm mới lấy được vợ. Trai làng khác cũng không thích mình đưa con gái đẹp trong làng họ đi xa đâu”. 

Khi tiếng gà rừng bắt đầu te te gáy, chúng tôi rời Kon K’riêng trong cái lạnh se sắt của núi rừng. Trên đường về, tâm trạng tôi vui buồn lẫn lộn. 

Không biết đến bao giờ họ bỏ được hủ tục đã ăn sâu vào nếp nghĩ hàng trăm năm qua?

Nguồn: Phúc Lập (Nông nghiệp Việt Nam)