Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

Người Việt duy nhất được Tần Thuỷ Hoàng đúc tượng, gả công chúa là ai?

Tần Thủy Hoàng binh chinh thiên hạ, thống nhất Trung Hoa, là bậc quân vương oai phong lừng lẫy, nhưng lại yêu mến và trọng dụng một thường dân đất Việt. Đó là Lý Thân, còn được gọi là Lý Ông Trọng.

Lý Ông Trọng là một nhân vật huyền sử, được coi là “Tứ Đại Trụ Thần”, xuất hiện trong nhiều dị bản khác nhau của truyền thuyết dân gian. Ông sinh ra tại làng Chèm, nay thuộc Từ Liêm, Hà Nội, sống vào cuối đời Hùng Vương thứ 18 và những năm đầu thời Thục An Dương Vương.
Nguoi Viet duy nhat duoc Tan Thuy Hoang duc tuong, ga cong chua la ai?
Pho tượng đồng khổng lồ hình Lý Ông Trọng – Tranh vẽ của Bùi Van Bao (Ảnh: hungsuviet.us). 
Theo chính sử, Lý Ông Trọng là bậc dũng sĩ, vóc dáng cao to, khí chất phi phàm. Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông “cao 2 trượng 3 thước”, còn sách Từ Nguyên thì viết rằng, Lý Ông Trọng “thân dài một trượng ba thước, khí chất đoan dũng, khác với người thường”.
Thời trẻ, Ông Trọng đến hương ấp làm lực dịch. Khi bị trưởng quan đánh đòn, ông than rằng: “Người ta ở đời có tráng chí, hãy nên như chim loan, chim phượng bay cao chín tầng trời, bay xa ngàn vạn dặm, chứ lẽ nào quanh quẩn mãi ở đây, chịu để cho người ta hành hạ?”
Từ đó Ông Trọng quyết chí tu thân, dùi mài kinh sử, sau sang nước Tần, được vua Tần trọng dụng, cho làm quan tới chức Tư lệ hiệu úy. Sự việc này được ghi chép lại trong cả Đại Việt sử ký và Việt Điện U Linh.
Tuy nhiên theo truyền thuyết dân gian, Ông Trọng là người cương trực, trung hậu, thương dân, từng đánh nhau với tên lính huyện để bảo vệ dân phu, sau lại được Hùng Vương trọng dụng. Ông có công giúp vua Hùng dẹp yên bờ cõi, ngăn chặn quân địch từ phía Tây và phía Nam tiến vào Văn Lang.
Đến thời An Dương Vương, ông trở thành tướng giỏi và được vua cử sang sứ nước Tần. Tần Thủy Hoàng thấy tướng mạo phi phàm của vị sứ giả phương Nam, biết không phải người phàm, bèn ngỏ ý mời ông giúp trừ giặc Hung Nô, phong ông làm Vạn Tín Hầu.
Thời đó mặc dù Tần vương đã thống nhất thiên hạ, uy danh ngàn vạn dặm, nhưng biên giới phía Bắc luôn bị quân Hung Nô quấy nhiễu. Quân Tần có Vạn Lý Trường Thành hiểm trở để phòng thủ nhưng vẫn phải nhiều phen khốn đốn, chống đỡ liên miên.
Tần Thủy Hoàng bèn phái Ông Trọng đến trấn giữ đất Lâm Thao, tức vùng đất tỉnh Cam Túc ngày nay. Uy danh của Ông Trọng khiến quân Hung Nô khiếp đảm, chỉ đứng nhìn từ xa mà cũng đủ hồn xiêu phách lạc.
Từ khi có Lý Ông Trọng, quân Hung Nô không còn dám bén mảng tới biên giới nhà Tần. Vua Tần cũng vì thế mà rất mực tin yêu, muốn giữ chân ông nên bèn gả công chúa Bạch Tĩnh Cung, tức Tây Cung công chúa. Là một sứ giả người Việt, vừa được phong quan chức, lại trở thành phò mã như vậy, thật hiếm lắm thay!
Thế nhưng, danh tiếng và quyền thế nơi đất khách vẫn không thể giữ chân ông. Ông gửi lòng mình theo những áng mây trôi về phương Nam, ngày đêm mong ngóng sớm được đoàn tụ gia viên.
Khi biết Ông Trọng được vua Tần phê chuẩn cho trở lại cố hương, quân Hung Nô lại tiến quân sang quấy nhiễu. Không còn cách nào khác, Tần Thủy Hoàng phải sai sứ sang Âu Lạc thỉnh mời. Nhưng Ông Trọng tìm cách thoái thác, không muốn tiếp tục phục vụ nước Tần.
Truyền thuyết dân gian kể rằng ông phải giả chết, khiến vua Tần bất đắc dĩ đúc một pho tượng đồng khổng lồ hình Lý Ông Trọng. Pho tượng được đặt ở cửa Tư Mã Hàm cung. Bên trong pho tượng chứa được vài chục người, và có chỗ điều khiển để cử động tay chân. Khi quân Hung Nô định kéo sang cướp phá, từ xa thấy bức tượng đồng cứ ngỡ là Ông Trọng, phải vội vàng tháo chạy, không dám bén mảng tới nước Tần lần nữa.
Nhiều trăm năm về sau, thanh danh của Lý Ông Trọng vẫn khiến nhiều tướng lĩnh Trung Hoa phải cúi đầu tôn kính. Sử sách có viết về hai tướng triều Đường là Triệu Xương và Cao Biền, từng mộng thấy Ông Trọng mà kinh tâm động phách. Họ sai người chạm khắc tượng gỗ sơn son thếp vàng, trùng tu đền thờ tráng lệ, đem lễ vật tế lễ, không lúc nào ngớt nghi ngút khói hương.
Ngày nay ở làng Chèm, huyện Từ Liêm, vẫn còn ngôi đền cổ thờ Lý Ông Trọng. Trải qua hàng nghìn năm phong ba cùng tuế nguyệt, ngôi đến vẫn còn giữ được pho tượng Lý Ông Trọng cao 8 mét, cùng với các câu đối và văn bia ghi lại thần tích về ông. Trong đó có câu: “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. “Hương” ở đây là Lý Ông Trọng, người làng Chèm, xã Thụy Hương. Đức Thánh làng Chèm vì thế mà được xếp ngang hàng với Phù Đổng Thiên Vương, là một trong Tứ Đại Trụ Thần của nước ta thời xưa.
Theo Hồng Liên /NHDTV

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2019

Võ tướng đất Hoan Châu chỉ huy vạn quân đào sông, đắp lũy chỉ trong 1 đêm

(Baonghean.vn) - Năm 1591, chỉ trong 1 đêm, vị tướng trấn thủ đất Hoan Châu này đã dẫn hàng vạn quân đào xong sông gọi là "Sông Nhà Mạc" và đắp nhiều thành lũy gọi là "Nhất dạ thành" ở vùng Duyên Hà, Hậu Tái, Thái Bình.
Võ tướng trấn thủ đất Hoan Châu
Nằm gần dòng Lam giang, miếu Tiên Đô hay còn gọi là đền Tiên Đô thuộc làng Đặng Lâm, xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương là nơi thờ Mạc Đăng Lượng, tự là Cát Giang Tử, tước hiệu Minh Nghĩa Đại Vương.
Trong suốt 14 năm trấn thủ đất Hoan Châu, ông đã xây dựng nơi đây thành một vùng đất trù phú, lương thực đầy đủ, ngành nghề phát triển, đời sống nhân dân no ấm.
Nhà thờ họ Hoàng Trần được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia, nơi thờ thần tổ Mạc Đăng Lượng. Ảnh: Ngọc Phương
Mạc Đăng Lượng tức Hoàng Đăng Quang sinh năm 1496, quê ở xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương). Ông là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi và có quan hệ họ hàng với hoàng tộc nhà Mạc.
Năm 17 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tước Quốc Công dưới triều hậu Lê, do chán ghét các phe phái tranh giành ngôi vua, ông cáo quan về ở ẩn tại nơi sinh ra là làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương xưa (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng). Năm 1527, Mạc Thái Tổ lập lên triều Mạc, cho mời ông ra phò tá, ban tước Hoàng Quận Công.
Trong chiến tranh, Nam - Bắc triều ngày 16/2/1535 (năm Đại Chính thứ 7) phụng chiếu Mạc Thái Tông, ông cùng em trai Mạc Đăng Tuấn đã đưa hơn 1 vạn quân vào trấn thủ đất Hoan Châu, đóng quân xứ Tiên Đô, lập 2 tuyến phòng thủ từ huyện Nam Đường tới phủ Anh Sơn.
Tuyến 1 ở Phủ Anh Sơn, cả một vùng Tây Bắc giáp động núi Lĩnh Sơn, Đông Nam giáp sông Lam ngày nay. Tuyến 2 ở các huyện Hưng Nguyên, Nghi Xuân, Nam Đường, Thanh Chương; phía Nam giáp động núi Lĩnh Sơn, phía Bắc giáp núi Đại Huệ. Ngài có công chiêu lập 137 hộ dân tiền thân các dòng họ lớn ở Tổng Đặng Sơn (ngày nay thuộc 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).
Những trận chiến lịch sử
Từ tháng 7/1571 tới năm 1575, dưới sự chỉ huy của Phụ Chính Khiêm Vương Mạc Kính Điển, Hoàng Quận Công Mạc Đăng Lượng, Thạch Quận Công Nguyễn Quyện cùng các tướng nhà Mạc tiến đánh vùng Thanh Nghệ. Trong trận Lèn Hai Vai (Yên Thành), đội quân đã đánh thắng Lai Quận Công Phan Công Tích. Tháng 10/1584, nhà Mạc tấn phong ông Hoàng Quận Công Phủ Tả Đô Đốc tước Minh Nghĩa Đại Vương, sau tấn phong Phó Quốc Vương Triều Mạc. 
Kiệu cổ rước Mạc Đăng Lượng (Hoàng Đăng Quang) từ nhà thờ họ Hoàng Trần đến miếu Tiên Đô vào dịp tế họ đầu năm. Ảnh: Ngọc Phương
Năm 1591, ông dẫn hàng vạn quân chỉ 1 đêm đã đào xong sông gọi là "Sông Nhà Mạc" và đắp nhiều thành lũy gọi là "Nhất dạ thành" ở vùng Duyên Hà, Hậu Tái, Thái Bình. Năm 1592, Thăng Long thất thủ, nhà Mạc thất thế, ông đổi tên thành Hoàng Đăng Quang (sau này là thần tổ của dòng họ Hoàng Trần - Nhà thờ Hoàng Trần đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia) về ở ẩn vùng Chân Lộc, Thanh Chương, Nam Đường. Tại đây ông sống ẩn dật, chiêu dân lập ấp, dạy học, làm thuốc, làm nông trang đến cuối đời.
Năm Hoằng Định thứ 2 (1602), ông đến dâng hương chứng kiến việc di dời mộ cụ Nguyễn Cảnh Hoan từ Rú Nguộc, huyện Thanh Chương về Rú Cấm, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Sinh thời, mặc dù Mạc Đăng Lượng và Nguyễn Cảnh Hoan ở 2 chiến tuyến khác nhau nhưng rất trọng nghĩa khí của nhau. 
Năm 1604, Mạc Đăng Lượng (Hoàng Đăng Quang) qua đời, hưởng thọ 108 tuổi. Sau khi mất, mộ ông và vợ được song táng tại Rú Cật thuộc dãy núi Đại Huệ. Duệ hiệu của ông là: Lê triều Tiến sỹ tước Quốc Công, Mạc Triều Hoàng đại tướng (Hoàng Quận Công) Phó Quốc Vương, gia phong Thái Quốc Công, tặng Hiển Công Vương, gia tặng Minh Nghĩa Đại Vương, thăng Tiên Đô miếu (Đền Tiên Đô)...
Hàng năm, con cháu thuộc 5 chi đều đến viếng mộ ông. Việc chăm sóc thường xuyên do chi họ Hoàng Văn ở Nam Lĩnh trông coi. Mộ ông và vợ được xây dưới chân núi Đại Huệ theo hình chữ nhật, dài 4,25m và rộng 2,50m. Năm 1992, con cháu 5 chi họ Hoàng đã di chuyển mộ phần hai ông, bà Mạc Đăng Lượng và Mai Thị Huệ về hợp táng tại nghĩa trang họ Hoàng Trần ở Hòn Lửa, xã Nam Sơn, huyện Đô Lương.
Trải qua thời gian, miếu Tiên Đô không còn, mãi đến năm 2014, chính quyền địa phương xã Đặng Sơn và con cháu dòng họ Hoàng Trần đã cho xây dựng lại bia miếu Tiên Đô trên nền đất xưa. Ngày 16/6 âm lịch hàng năm, chính quyền địa phương tổ chức trang trọng lễ húy nhật tại bia miếu này./.

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2019

Mối tình của nữ tướng giả trai và đội quân kỳ lạ nhất sử Việt

Bà Nguyễn Thị Bành là vợ của tướng quân Nguyễn Chích trong kháng chiến chống quân Minh. Vợ chồng bà từng huấn luyện đội quân bồ câu nổi tiếng, lập nhiều chiến công.

Trong lịch sử Việt Nam, nhiều nữ tướng dũng mãnh trên sa trường nhưng đóng giả thành nam nhi để ra trận thì chỉ có bà Nguyễn Thị Bành. Đây là nữ tướng nổi tiếng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vợ của Nguyễn Chích - khai quốc công thần hàng đầu của nhà Hậu Lê.
Giả trai tòng quân đánh giặc
Theo Việt Nam sử lược, Nguyễn Chích (1382-1448) quê ở thôn Vạn Lộc, huyện Đông Sơn, châu Ái (Đông Sơn, Thanh Hóa ngày nay).
Văn bia quốc triều tả mệnh công thần cho biết ông mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ, tính hiền lành, trung thực, ít nói, có chí lớn. Năm 25 tuổi, ông dựng cờ khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược ở Hoàng Nghiêu (Thanh Hóa).
Trong số các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh thời kỳ này, cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Chích lãnh đạo có quy mô lớn. Dựa vào địa hình hiểm trở, gồm những vách núi dựng đứng, Nguyễn Chích đã nhiều lần đẩy lùi các cuộc tấn công của quân Minh.
Để củng cố sức mạnh, mở rộng căn cứ khởi nghĩa, Nguyễn Chích tăng cường tuyển chọn quân sĩ. Trong một lần như thế, ông đã gặp nữ tướng Nguyễn Thị Bành.
Moi tinh cua nu tuong gia trai va doi quan ky la nhat su Viet
Tranh minh hoạ nữ tướng Nguyễn Thị Bành đã giả trai, quyết ra trận đánh giặc Minh xâm lược. 
Một hôm, ông ở trong doanh trại thì nghe nghĩa binh báo có chàng trai trẻ tuổi xin gặp chủ tướng. Khi đối mặt, Nguyễn Chích thấy dáng người này nhỏ nhắn, thư sinh “trói gà không chặt”. Ông cất tiếng hỏi: "Anh có tài năng gì, vì sao lại tìm đến đây?".
Tráng sĩ đáp bằng giọng nói nhỏ nhẹ nhưng cương quyết: “Tôi học võ từ nhỏ, nay vì căm thù giặc nên đến xin đầu quân”. Nguyễn Chích liền nói: “Anh hãy trổ tài cho ta xem”.
Ông mời người lạ mặt ra ngoài tỉ thí võ với một bộ tướng của mình. Trong chốc lát, “tráng sĩ”đánh ngã bộ hạ của Nguyễn Chích. Sau đó, lần lượt những tướng khác bị hạ, cả doanh trại đều kinh ngạc, khâm phục. Nguyễn Chích vui mừng, thu nhận nhân tài vào đội quân của mình.
Qua chứng kiến sinh hoạt hàng ngày, ông để ý tráng sĩ kia có cử chỉ và thói quen sinh hoạt khác hẳn với mọi người. Dáng vẻ thùy mị, khuôn mặt, làn da, vóc dáng, đi đứng, bàn tay… giống như con gái.
Nguyễn Chích cho tổ chức một cuộc thi đấu vật, ai cũng phải tham dự. Bị đưa vào thế bí, “tráng sĩ” lúc đầu tìm cách từ chối khéo. Trước mệnh lệnh, sự thúc ép của binh tướng, người này buộc phải thú nhận với Nguyễn Chích rằng mình là gái giả trai, tên thật Nguyễn Thị Bành.
Sát cánh bên chồng trong mọi hoàn cảnh
Phát hiện nữ tướng Nguyễn Thị Bành gạt mình, nhưng mến mộ tài năng và ý chí của nàng, Nguyễn Chích vẫn giữ lại. Tình yêu nảy nở, ông cưới bà làm vợ và phong làm phó tướng.
Từ nhỏ, Nguyễn Chích đã được bố truyền nghề nên ông có biệt tài nuôi chim bồ câu rất giỏi. Nguyễn Thị Bành cũng trở thành trợ thủ đắc lực cho chồng huấn luyện đội quân chim bồ câu. Đây cũng được xem là đội quân kỳ lạ trong lịch sử.
Khi Trương Phụ đem đại quân bao vây, quyết san bằng căn cứ Hoàng Nghiêu, bà Nguyễn Thị Bành cùng chồng chỉ huy binh sĩ đánh tan quân địch. Trong trận ấy, nữ tướng cùng chồng chỉ huy một cánh quân tiến đánh trại quân Minh, diệt nhiều quân địch.
Có lần, tướng Minh là Lương Nhữ Hốt cho quân bao vây nghĩa quân Hoàng Nghiêu trên núi dài ngày, cắt con đường viện binh, ép Nguyễn Chích phải đầu hàng.
Nhận được tin chồng đang bị bao vây, phó tướng Nguyễn Thị Bành đang ở quê nhà, liền đến các làng xã tập hợp khoảng 60 trai tráng, mang nhiều cờ cùng gươm dao, đến đêm thì tiến vào căn cứ, vừa đi vừa dẫm chân rầm rập.
Dưới ánh sao đêm, quân Minh quan sát thấy đội quân cờ xí rợp trời, bước đi dồn dập rung chuyển mặt đất, tưởng như có đại quân. Lương Nhữ Hốt hoảng sợ, nghĩ rằng có cánh quân khởi nghĩa khác, phối hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào nên vội vàng bỏ chạy tán loạn.
Sau này, khi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, vợ chồng Nguyễn Chích đã mang đội quân bồ câu theo để truyền tin. Nhiều lần nghĩa quân Lam Sơn bị vây khốn. “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần / Lúc Khôi Huyện quân không còn một đội”, thức ăn cạn kiệt thì cũng chính đội quân bồ câu của vợ chồng Nguyễn Chích đã mang thư truyền tin để ứng cứu lẫn nhau.
Sau những chiến công đó, Lê Lợi khen ngợi vợ chồng Nguyễn Chích, tự thân trao thóc tẩm mật cho nữ tướng Nguyễn Thị Bành để cho bồ câu ăn, ghi nhận công lao.
Trong suốt cuộc đời mình, bà Nguyễn Thị Bành là người vợ hết lòng vì chồng, sát cánh cùng Nguyễn Chích trong mọi hoàn cảnh. Sau khi nhà Lê thành lập, có những lúc Nguyễn Chích gặp bất lợi trên quan trường, bị phế truất, bà động viên, an ủi, sát cánh cùng chồng vượt qua khó khăn.
Theo Nguyễn Thanh Điệp /Zing News

Huyền bí chuyện hiển linh lạ kỳ của danh tướng Đặng Dung

(Kiến Thức) - Đặng Dung là một danh tướng tài ba nổi tiếng thời Hậu Trần (1407 - 1414) không chỉ với những chiến công hiển hách mà còn bởi khí tiết sáng ngời và nỗi niềm cứu nước đau đáu khôn nguôi. Ít ai hay trong các giai thoại về ông, có câu chuyện hiển linh rất huyền ảo, lạ lùng.

Tháng 6 năm Đinh Hợi (1407) cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại, một số quan lại cũ và những người còn tưởng nhớ đến nhà Trần đã tìm con cháu dòng dõi nhà Trần để mưu việc đánh giặc, phục quốc. Trong số đó có Trần Triệu Cơ ở đất Mô Độ xã Yên Mô, huyện Yên Mô (nay thuộc huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) đã tôn lập Trần Ngỗi lên làm vua, hiệu là Giản Định Đế, thật là:
Dòng Trần chưa dứt một dây,
Triệu Cơ còn rắp ra tay đồ hồi.
Lại phù Giản Định lên ngôi,
Cảnh Chân, Đặng Tất vua tôi hiệp tình.
Mở cờ đánh với quân Minh,
Phá đồn Cổ Lộng, đốt thành Bô Cô.
Ví hay nhân thế tràng khu,
May ra khôi phục cơ đồ cũng nên.
Trùng hưng cơ tự chưa bền,
Bỗng không đem kẻ tướng hiền giết đi.
Cho nên hào kiệt bạn li,
Cánh vây không có, còn gì mà mong.
(Trích: Đại Nam quốc sử diễn ca)
Đặng Dung (1373-1414) người xã Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, châu Nghệ An (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) ban đầu theo cha là Đặng Tất phò vua Giản Định Đế lập ra nhà Hậu Trần, nhưng sau Giản Định Đế nghe lời xàm tấu đã giết cha của ông cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân. Giận vì cha mình chết oan nên Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) đem quân bản bộ bỏ đi rồi tìm lập cháu của Trần Nghệ Tông là Trần Quý Khoáng lên làm vua (tức Trùng Quang Đế) để tiếp tục đánh giặc Minh. Một thời gian sau hai lực lượng của họ Trần hợp nhất, Giản Định Đế được tôn lên làm Thái thượng hoàng cùng với Trùng Quang Đế:
Cùng nhau gánh việc gian nan,
Hạ Hồng tế ngựa, Bình Than đỗ thuyền.
Dựng cờ đại nghĩa chống ngoại xâm
Huyen bi chuyen hien linh la ky cua danh tuong Dang Dung
 (Hình minh họa – Nguồn: vinabooks). 
Tháng 7 năm Kỷ Sửu (1409) trong một trận đánh lớn, quân Minh bắt được Giản Định Đế đưa về phương Bắc giết hại. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, Đặng Dung cùng các tướng càng dốc lòng, dốc sức giúp vua Trùng Quang Đế, lập nhiều công lao, nổi bật nhất là trận đánh vào tháng 9 năm Quý Tỵ (1413) ở khu vực sông Thái Già (còn gọi là Sái Già), theo Minh Sử thì trận đánh này xảy ra tại Ái Tử (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), chút nữa bắt được chủ tướng của giặc là Trương Phụ.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đang khi đôi bên quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của Phụ. Dung đã nhảy lên thuyền của Phụ và định bắt sống Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết”.
Sử thần thời Hậu Lê là Ngô Sĩ Liên có lời bình rằng: “Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không?. Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mới chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!”.
Do giặc Minh liên tục được chi viện, chúng vừa đánh vừa dùng nhiều thủ đoạn để mua chuộc người nên đã có một bộ phận nhát gan phản bội đất nước, tiếp tay cho giặc đàn áp càng mạnh hơn lực lượng của Trùng Quang Đế. Sách Đại Nam quốc sử diễn ca có đoạn viết:
Quân Minh chiếm giữ Bắc Kỳ,
Vua Trần lánh ở Nam thùy một nơi.
Đặng Dung, Cảnh Dị mấy người,
Thế cùng dù có tướng tài cũng thua.
Cuối năm Qúy Tị (1413) bắt được Trùng Quang Đế và các cận thần trong đó có Đặng Dung. Đến tháng 4 năm sau, giặc áp giải vua tôi nhà Hậu Trần về phương Bắc, “đến giữa đường vua nhảy xuống nước chết” (Việt sử tiêu án). Trong sách Khâm Định Việt sử thông giám cương mục cũng viết tương tự: “Tháng 4, mùa hạ. Trương Phụ đưa Đế Quý Khoáng sang Yên Kinh, chưa đến nơi thì Quý Khoáng mất, bình chương Đặng Dung, thái phó Nguyễn Súy đều chết theo”.
Huyen bi chuyen hien linh la ky cua danh tuong Dang Dung-Hinh-2
Mài kiếm dưới ánh trăng. (Hình minh họa – Nguồn: wordPress.com).  
Đặng Dung đã tuẫn tiết theo vua để giữ tròn khí tiết. Ông có để lại một bài thơ tên là Thuật hoài (có sách chép là Cảm hoài) bằng chữ Hán theo thể thất ngôn bát cú để tỏ rõ lòng yêu nước và khí phách của mình, được người đời sau truyền tụng, ca ngợi:
Thế sự du du nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
Nghĩa là:
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
(Bản dịch của Phan Kế Bính)
Văn thần thời Hậu Lê là Lý Tử Tấn có nhận xét về tác giả bài thơ trên như sau: “Phi hào kiệt chi sĩ bất năng” (Nghĩa là: Nếu không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể làm được bài thơ này).
Sau khi Đặng Dung mất, nhớ đến vị dũng tướng tài ba, tiết liệt một số nơi đã lập đền thờ ông, trong đó có làng thuộc xã Yên Trị, phủ Kim Tông (có tên khác là Kim Trung) thuộc lộ Sơn Nam; sau này thuộc tổng Ngọc Chấn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam (nay là xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).
Vì bấy giờ đất nước đang trong ách đô hộ của ngoại bang, để che mắt giặc Minh nên người dân lập đền và thờ phụng Đặng Dung trên danh thờ một vị thủy thần với duệ hiệu Tam đầu cửu vĩ Bát hải Long vương. Sau này các triều đại có sắc phong, đặt thêm duệ hiệu khác nhưng duệ hiệu ban đầu vẫn được giữ nên nhiều người lầm tưởng vị thần được thờ là thủy thần.
Huyen bi chuyen hien linh la ky cua danh tuong Dang Dung-Hinh-3
Hình tượng Tam đầu cửu vĩ trong tín ngưỡng dân gian. (Hình minh họa – Nguồn: vanhienviet). 
Tại xã Ngọc Chấn thuộc tổng Ngọc Chấn, huyện Đại An có ngôi đền thờ Đặng Dung tương truyền rất linh ứng và cũng từ đây xuất hiện một câu chuyện lạ kỳ về ông. Trong sách Nam Định tỉnh địa dư chí của Nguyễn On Ngọc có viết về chuyện “Gió thần Ngọc Chấn” như sau:
“Xã này thờ tôn thần Giác Hải Long Vương thuỷ tề. Cúng gió cầu mưa thường linh ứng. Các triều trước liệt vào ngạch quốc tế. Thần làm gió làm mưa đều nổi gió bắc lên làm hiệu. Trong đền có câu đối: "Tằng kí hà niên thần kiếm hoá/Do truyền kĩ độ bắc phong lai". Vua Lê Thánh Tông đi dẹp Chiêm Thành qua địa phận thôn Uý Uy, nằm mơ thấy thần cho một cây gươm. Hôm sau sai người đào ở trong đền, qủa nhiên được cây gươm. Xa giá chỉ huy, hễ đi đến đâu là dẹp yên đến đó.
Đến bản triều [tức triều Nguyễn] ngày tháng bảy năm Canh Dần Thành Thái thứ 2 [1890], nước sông lên to. Bấy giờ có một chiếc hoả thuyền của quân Pháp đâm vào bến sông ở địa phận xã Thôi Ngôi, không ra được. Quan phủ sở tại bắt nhân dân các xã trong huyện hết sức lôi kéo, hơn một tháng trời phu dịch rất là vất vả, khó nhọc mà cũng không sao kéo ra được. Quan mới mật đảo với thần đền xã ấy, thì đến nửa đêm bỗng gió bắc nổi lên rất mạnh, hoả thuyền tự nhiên đi ra, nhân dân cả huyện mới tránh khỏi nạn lôi kéo.
Lại tục truyền rằng trước đền có một dải sông chảy ngang, hàng năm có những con cá lớn nhảy vọt trước đền, có khi hai, ba ngày mới dời đi nơi khác nhưng không làm hại gì cả”.
Cũng về câu chuyện hiển linh lạ kỳ này, trong sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược của Khiếu Năng Tĩnh, ở tiểu mục về “Thủy thần dị truyện” có viết rõ hơn:
“Thần vốn tên là Đặng Dung, thờ tại bờ sông Mờm thuộc xã Ngọc Chấn, tổng Ngọc Chấn, thần là tướng thời Hậu Trần, từng đóng quân chặn quân Minh và cứu thổ dân bị lụt lớn vỡ đê. Thần thác danh thủy thần, được vua Hồng Đức phong là Bát Hải Long vương bảo quốc hộ dân Đặng tướng quân thượng đẳng phúc thần, có lệ quốc tế, phàm cầu nắng cầu mưa cầu phúc giải tai đều linh ứng rõ rệt.
Thời Lê Thánh Tông năm Hồng Đức thứ nhất [1470], vua tụ tướng đánh Chiêm Thành, qua đền mơ thấy thần dâng kiếm; mùa xuân năm sau thắng giặc trở về bèn ban tiền xây to đền. Thời Tự Đức khi Bắc thành trở thóc vào Huế, ban chiếu phong cho Đông Hải đại vương và Kim Tông thủy thần bảo vệ thuyền biển, khi thuyền đến chỗ đền Tiên Thanh Hoá, thần Kim Tông nổi bão đánh chìm hết, thần Đông Hải báo mộng cho Tự Đức, Tự Đức nổi giận sai quan về cưa chân nhang án chính vị, đem kê gạch để phạt tội.
Tháng 7 năm Thành Thái thứ 2 (1890) nước to đẩy hoả thuyền của người Pháp vào bãi, quan phủ Lê Huy Phan đốc người kéo không nổi, ông vào đền cầu đảo xin thần giúp đỡ cho dân khỏi vạ, nửa đêm thần nổi gió dâng nước đẩy thuyền ra sông.
Lại nói trước đền có quãng sông ngang, năm nào cũng có cá to đến trước đền, vùng vẫy có khi một ngày, có khi hai ba ngày mới đi mà không phá hại gì cả. Việc này hay vào ngày đại lễ hoặc khánh hạ, mấy năm gần đây thì không thấy nữa. Tới quãng năm Duy Tân có đôi lần tả đạo phỉ báng, vào ngày lễ rước thần, thần cho xoay kiệu chạy xéo tan hết lạc ngô để trừng phạt, do đó tả đạo cũng có phần nào nhụt bớt càn rỡ”.
Huyen bi chuyen hien linh la ky cua danh tuong Dang Dung-Hinh-4
 Đền thờ Đặng Dung ở xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. (Hình minh họa – Nguồn: namdinh.org.vn). 
Ngôi đền thờ danh tướng Đặng Dung ở Ngọc Chấn còn gọi là đền Cả, theo thần phả lưu giữ tại đền thì ông là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, lại có công chỉ huy nghĩa quân đắp đê ngăn lũ giúp nhân dân Kim Tông trong tai họa vỡ đê năm Tân Mão (1411) cứu vớt tài sản, ổn định đời sống.
Theo sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược thì trong thời gian ở Ngọc Chấn, danh tướng Đặng Dung có làm bài thơ nhan đề là: “Kim Tông quân thứ trung cảm tác” (Trong thuyền tại nơi đóng quân cảm tác):
Tinh kỳ nghiêm lập thủy lưu trường,
Thân ỷ thuyền lan vọng cố hương.
Dân tán quốc nguy thùy nhiệm trọng,
Binh cơ lợi độn vị năng lường!
Nghĩa là:
Cờ tinh nghiêm chỉnh nước trôi dài,
Quê cũ bên thuyền ngóng chờ hoài.
Dân tán nước nguy, ai gánh vác?
Việc quân thắng bại biết chưa rồi.
(Người dịch: Dương Văn Vượng)
Hàng lễ hội đền Cả ở Ngọc Chấn (xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) được tổ chức long trọng, đặc biệt là các nghi thức cầu đảo, cầu mùa màng tươi tốt, cầu cuộc sống yên bình và tiến hành rước kiệu. Ngoài ra dân làng còn tổ chức các hoạt động vui chơi như cướp cầu, leo cầu phao,… nhưng thu hút đông đảo người dân nhất chính là hội đua thuyền (bơi chải) vào tháng 3 âm lịch hằng năm nhằm diễn lại tích thủy chiến của danh tướng Đặng Dung trên sông Đáy tại chính nơi mà ông đã cùng binh sĩ trên đường đi đánh giặc đã dùng thuyền cứu vớt người, của cải và đắp đê quai chắn nước, cấp lương thực, dựng nhà cửa, cứu dân trong thảm họa vỡ đê, tái lập xóm làng.
Lê Thái Dũng

Phi tướng quân - Đô đốc nhà Tây Sơn một đòn hạ gục cao tăng Trung Quốc

Nhật Minh
Phi tướng quân - Đô đốc nhà Tây Sơn một đòn hạ gục cao tăng Trung Quốc
Hình minh họa

Phan Văn Lân là đại tướng nhà Tây Sơn, được quân Thanh mệnh danh là Phi tướng quân (tướng từ trên trời xuống) để chỉ sự lợi hại và nhanh nhẹn của ông khi lâm trận.


Bên cạnh một võ nghiệp lẫy lừng cống hiến cho nhà Tây Sơn, thân thế của đại tướng Phan Văn Lân cho đến ngày nay vẫn là một ẩn số cho những người muốn quan tâm tìm hiểu. Các tài liệu hiện còn cho thấy những nét phác sơ sài về ông. 
Thời trai trẻ Phan Văn Lân từng cùng ba anh em Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ) nhận Trương Văn Hiến làm thầy, tầm sư học võ. Theo gia phả họ Phan và Việt Nam sử lược Phan Văn Lân sinh năm Canh Thìn (1730), ông là con trưởng của Phan Chu, cháu đích tôn của Thám hoa Phan Kính và có dòng dõi với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp.
1. Mãnh tướng văn võ song toàn
Phan Văn Lân dáng vẻ thư sinh nhưng võ công lại cực kỳ cao cường. Ông tự nhận môn phái theo học có từ thời nhà Trần được lưu truyền trong dân gian tới thế kỷ XVIII. Mặc dù là một người có tài, song Phan Văn Lân luôn khiêm tốn với mọi người, hễ ai nói đến võ thuật ông lại khước từ rồi lẳng lặng bỏ đi.
Đây cũng được xem là một cách thức chờ đợi thời cơ của mãnh tướng. Khi tham gia nghĩa quân Tây Sơn, tài năng của Phan Văn Lân mới từng bước được mọi người biết tới.
Là người rộng lượng, khảng khái và quý trọng hiếu lễ với mọi người, Phan Văn Lân được cả chủ tướng và binh sĩ dưới quyền yêu mến. Trong suốt binh nghiệp của nhà Tây Sơn từ chống thù trong đến tiêu diệt giặc ngoài ông đều trực tiếp tham chiến và có những đóng góp quan trọng, định đoạt một phần lịch sử dân tộc.
Phi tướng quân - Đô đốc nhà Tây Sơn một đòn hạ gục cao tăng Trung Quốc - Ảnh 2.
Minh họa Quang Trung cùng các tướng lĩnh công thành (nguồn: Internet)
Sau khi tiêu diệt Võ Văn Nhậm ở Bắc Hà, Quang Trung thành lập Bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn tại đây, người được giao quản lý là tướng Ngô Văn Sở. Trong lực lượng của Bộ chỉ huy lúc đó có Phan Văn Lân. Ông là một trong những thành viên chủ chốt hoạch định kế hoạch chống lại sự xâm lược của quân đội nhà Thanh năm 1789.
Trong trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân Kỷ Hợi (1789), tại mặt trận Ngọc Hồi – Đống Đa, Phan Văn Lân cùng với các tướng Ngô Văn Sở, Võ Văn Dũng,… sát cánh và hỗ trợ đắc lực cho chủ tướng Quang Trung đánh và chiếm đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi. Nhờ những đóng góp của Phan Văn Lân, sau chiến thắng, hoàng đế Quang Trung đã phong cho ông chức Đô đôc, tước Nội hầu.
2. Một đòn hạ gục cao tăng Trung Quốc
Kể về sức mạnh hơn người của Phan Văn Lân, trong sách Các danh tướng Việt Nam cho biết hai giai thoại. Một lần nọ, các tướng muốn thử sức Phan Văn Lân, các tướng liền đưa ông vào trong thành rồi đóng chặt cửa lại, cung kính thưa "nay cửa thành đã đóng, vào ra đều không thể được, vậy xin tướng công thử võ cho xem".
Bất đắc dĩ, Phan Văn Lân bảo các tướng lấy thêm những hòn đá lớn, mỗi hòn nặng đến vài trăm cân, chồng lên nhau và nói rằng "tôi chỉ là kẻ yếu đuối, vô dụng, chỉ xin thử một lần cho vui xem có được không". Nói rồi Phan Văn Lân đưa sống bàn tay phải chém mạnh xuống, cả ba hòn đá lớn đều bị vỡ làm đôi. Mọi người lúc đó chứng kiến đều kinh hãi.
Trong một lần khác, khi chiếm được Quy Nhơn, dưới trướng của Nguyễn Nhạc có một đại sư từ Trung Quốc theo phục. Nhà sư này rất giỏi võ nghệ nên càng được chủ yêu mến. Nghe được tài năng của Phan Văn Lân, vị cao tăng này đã dò hỏi và tìm đến tận doanh trại xin gặp để tỉ thí võ nghệ. Phan Văn Lân vì khiêm tốn mà đã hơn một lần tránh mặt.
Phi tướng quân - Đô đốc nhà Tây Sơn một đòn hạ gục cao tăng Trung Quốc - Ảnh 4.
Minh họa đại sư Trung Quốc ra đòn (nguồn: Internet)
Về sau, vì binh sĩ nhiều lần khẩn cầu, ông đã tìm đến nhà đại sư. Thoáng thấy nhà sư đang dạy võ, Phan Văn Lân đã bật cười. Không cần hỏi thêm, đại sư đã biết đó là Phan Văn Lân. Thời cơ đã đến, ông liền xin được thách đấu cùng Phan Văn Lân. Biết không thể khước từ thêm một lần nữa, Phan Văn Lân ra điều kiện:Muốn thử võ nghệ thì phải mời vị Trưởng quan tới chứng giám và phải giao ước rằng, trong quá trình giao đấu một trong hai người có lỡ mất mạng cũng không được truy cứu trách nhiệm người còn lại.
Nhà sư nhanh chóng đồng ý để cuộc tỉ thí diễn ra. Để nhường nhà sư, Phan Văn Lân chỉ rũ áo và ngồi yên một chỗ, trong khi nhà sư sử dụng quyền cước lao đến đấm đá tới tấp.
Khi gần giáp mặt nhau, Phan Văn Lân chỉ hơi nghiêng mình, đưa tay đẩy nhẹ một cái, nhà sư bị tung lên cao rồi rơi xuống đất, đau như trời giáng.
Hai câu chuyện nhỏ phần nào cho biết sức khỏe phi phàm và lòng tự trọng, khiêm nhường của một bậc đại tướng thế kỷ XVIII
Tham khảo nhiều nguồn