Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Bắc Kạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Bắc Kạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

15 món ngon Bắc Kạn ăn một lần nhớ mãi

Tôm chua và cá nướng Ba Bể, miến dong Na Rì, chuối hột rừng, thịt lợn gác bếp, bánh pẻng phạ, rau sắng có thể nói là những món ngon riêng có của vùng núi Bắc Kạn.

Tôm chua Ba Bể

Ở Ba Bể, người dân thường ăn tôm chua với thịt chân giò hoặc ba chỉ luộc kèm đĩa khế chua, chuối xanh, đinh lăng… Giữa khung cảnh thiên nhiên nên thơ, nhấm nháp tôm chua cùng chén rượu ngô cay nho nhỏ, du khách sẽ có cảm giác lâng lâng êm ái, thấm thía vị béo chua chua của thịt, cảm nhận phần tỏi ớt cay cay cùng mùi thơm riềng...

Món ăn được bán khá nhiều ở các bản Bó Lù, Pác Ngòi… Ngoài tôm, các loại tép hay cá nhỏ được bắt tươi ở hồ, ăn không hết, người dân cũng muối vào lọ, để ăn dần.
Chuối hột rừng

Chuối hột hồ Ba Bể được bán nhiều ở đường lên ao Tiên, khu vực đón khách từ cổng vào xuống hồ... Vì trồng trên những quả núi quanh hồ nên thân chuối vươn cao, quả căng tròn trông rất hấp dẫn, vừa tạo cảnh quan đẹp lại dùng để làm thuốc và quà biếu.

Thịt lợn gác bếp

Khác với một số dân tộc khác, người Tày sống quanh hồ Ba Bể thường bỏ thịt vào sọt hoặc gùi đi rừng rồi mới treo lên bếp. Khói từ bếp củi hằng ngày hun lên làm thịt có màu vàng đen.

Thịt treo như vậy để được cả năm mà không hỏng. Ngày nay, dù không phải tích trữ thịt treo gác bếp làm lương thực để dành nhưng trong nhà người Tày ở quanh hồ vẫn luôn có một ít, dùng trong những dịp đón khách quý, lễ tết hay ngày quan trọng khác.

Bánh Pẻng phạ

Bánh Pẻng phạ thường xuất hiện trong dịp người Tày vùng Ba Bể đón mừng năm mới hay lễ hội xuống đồng. Hình dáng chiếc bánh không có gì đặc biệt, viên bánh tròn tròn cỡ trái nhãn lồng.


Bên ngoài có lớp bột trắng che lớp bột nâu bên trong. Bánh pẻng phạ là một trong những món ăn truyền thống của dân tộc Tày để dâng trời đất.

Bánh pẻng phạ chế biến không cầu kỳ nhưng mùi vị thơm ngon. Nguyên liệu chính để làm bánh là bột gạo nếp được nhào với nước chè mạn pha đặc để lấy màu nâu và vị chát, một chút rượu trắng cho dậy mùi.

Khâu nhục

Khâu nhục là món ăn đặc biệt mang đậm tính dân tộc của người dân Bắc Kạn. Khâu nhục được làm rất công phu, khoai được chọn phải là khoai môn Bắc Kạn, bên trong lòng khoai có vân màu tím. Thịt lợn phải là thịt ba chỉ ngon, luộc sơ qua, dùng tăm tre chọc bì thật kĩ, tẩm ướp gia vị rồi đem quay, vừaa quay vừa quết mật ong cho vàng bì. Khoai cũng phải rán vàng. Mọi thứ được xếp vào bát, cứ một miếng khoai, một miếng thịt, cho nhân được làm bằng thịt, nấm hương, mộc nhĩ …đã xào lên trên hấp cách thuỷ khoảng 5 tiếng đồng hồ. Thành phẩm khi xong được cho ra đĩa rất đẹp. Món khâu nhục làm cầu kì nhưng ăn lại rất ngon nên nhân dân Bắc Kạn thường dành vào những dịp đặc biệt như lễ tết, cưới hỏi và vào nhà mới.

Rau sắng (rau ngót rừng)

Không giống như các loại rau khác chỉ cần trồng ngày một ngày hai là được hái lá, rau sắng từ khi trồng đến khi được hái lá lần đầu tiên phải sau ít nhất là 3-5 năm, và sau 10 năm mới được thu hoạch với số lượng lớn.
Lá rau sắng dùng để nấu canh với thịt hoặc cá. Mùi vị của loại rau này rất đậm đà, chỉ cần một vài cọng cũng đã đủ để có thể nấu bát canh thơm ngon cho 4 người ăn.Theo kinh nghiệm của người dân, phải ăn canh rau sắng nấu suông, nêm một chút muối, chậm rãi nhai kỹ từng chiếc lá nhỏ, thưởng thức thật sâu, thật kỹ vị ngọt, vị bùi khó tả của nó thì mới cảm nhận được hương vị đặc biệt của cây rau sắng. Những cây rau sắng đực cho những chùm rồng rồng. Loại này có thể nấu canh và ngon hơn nữa là xào với thịt bò.

Quả sắng hình bầu dục, to như quả nhót, khi chín có mầu vàng sẫm, ăn có vị ngọt đượm như mật ong. Hạt của quả sắng sau khi bóc vỏ đem ninh với xương rất thơm ngon, có vị ngọt, bùi.

Xôi Đăm Đeng

Món xôi này rất độc đáo vì được nấu từ gạo nếp nương và tất cả màu sắc của xôi không tạo ra bằng phẩm màu mà bằng hương sắc của cây cỏ. Người ta lấy lá của cây cẩm và vài loại lá khác đun lên, chắt nước ra, ngâm gạo nếp vào khoảng vài giờ rồi mang đồ trên chõ gỗ. Nước ngâm gạo phải nóng già thì khi chín xôi mới có độ dẻo.

Xôi Đăm Đeng có một mùi thơm đặc trưng của cây cỏ, không thể lẫn với bất cứ loại xôi nào khác. Hạt xôi bóng đẹp nhưng không ướt, khi nguội hạt xôi se lại nhưng vẫn mềm, dẻo và thơm.

Xôi Đăm Đeng thường được ăn với muối vừng hoặc ruốc tùy theo khẩu vị từng người. Người dân miền núi quan niệm rằng ăn xôi này sẽ mang lại nhiều may mắn và tốt lành.

Nếu có dịp lên Bắc Kạn vào những ngày lễ, tết hãy thưởng thức món xôi “Đăm Đeng” để tận hưởng hương sắc của núi rừng nơi đây.

Miến dong Na Rì

Miến dong là đặc sản nổi tiếng của Na Rì, Bắc Kạn, được làm thủ công từ những củ dong riềng trồng trên đèo Áng Toòng ở độ cao trên 1.000 m. Sợi miến được làm từ bàn tay khéo léo của người dân nơi đây nên giữ nguyên màu sắc tự nhiên vốn có. Sợi miến có màu vàng hoặc trong đục, sợi dai và giòn để lâu cũng không bị nát, đây cũng là nét đặc trưng khiến nhiều người yêu thích món ăn dân dã này.

Sợi miến có màu tự nhiên do không dùng hóa chất, sợi miến khi nấu có vị dai, giòn và thơm của dong riềng. Từ miến dong có thể chế biến nhiều món ngon và dễ ăn.

Măng vầu

Rừng Bắc Kạn có rất nhiều loại măng như: măng tre, măng trúc, măng nứa, măng mai… nhưng nếu nói là đặc sản phải kể đến thứ “măng vầu” hay còn gọi là “măng đắng”. Theo kinh nghiệm của những người đi hái măng, vào đầu vụ những mầm măng vầu mới nhú còn có vị ngọt xen lẫn vị hơi hơi hơi đắng, còn từ sau tháng 2 Âm lịch, măng lại chuyển sang vị đắng gắt hơn.

Ở Bắc Kạn, người ta có thể chế biến măng thành rất nhiều món ngon nhưng hấp dẫn hơn cả có lẽ là măng luộc chấm mắm tôm chanh ớt. Những người sành ăn măng thì hay chọn ăn loại măng luộc thật đắng vì như vậy mới cảm nhận hết được sự thú vị của món ăn này. Cái cảm giác đắng, chát cứ mất dần khi nhai kỹ, thay vào đó là cảm giác thoang thoảng ngọt, nhẹ nhẹ cay, rất lạ.

Rau dớn

Rau dớn là một loại cây thuộc họ quyết, giống như cây dương xỉ, cành dài lá nhỏ, mặt lá có màu xanh nhẵn, cuống lá có lông. Ở Bắc Kạn, rau dớn thường mọc ở vùng núi cao, nơi ngọn nguồn của các con sông, con suối và thường mọc ở bờ suối, bờ khe, nơi có độ ẩm ướt cao.

Rau dớn ăn ngon nhất là sau mùa lụt đến cuối mùa xuân. Lá rau dớn non uốn cong như vòi voi, có nhựa nhớt. Đồng bào thường chỉ hái ngọn cong non, lá bánh tẻ để ăn.

Rau bồ khai (rau dạ hiến)

Rau bồ khai (bò khai) thường mọc trên những vùng núi đá cheo leo, ngọn rau giống như cây tầm gửi, thân bám vào những cây gỗ lớn để vươn lên đón lấy cái trong trẻo của ánh sáng và khí trời. Ngọn rau thoạt nhìn giống ngọn mướp hương nhưng mảnh mai hơn và có màu xanh non tơ như lá cành mới nhú. Khoảng mùa xuân, bồ khai bắt đầu trổ ngọn xanh tốt. Người dân trong vùng đã quen với mùa đi hái bồ khai. Vào dịp này, ở khắp các phiên chợ vùng cao nơi đây đều có bày bán rau bồ khai.

Bồ khai mang về chẳng phải chế biến cầu kì gì nhiều, chỉ cần nhặt sạch, phi tỏi thơm trên bếp rồi đổ rau vào xào to lửa là đã có một món ăn hấp dẫn. Bồ khai còn được dùng làm phở, mì xào hay xào lẫn với thịt bò. Rau bồ khai có một mùi vị rất riêng, không thể tìm được sự tương đồng ở bất cứ loại mùi vị nào khác.

Lạp sườn hun khói

Lạp sườn được làm từ thịt lợn bản nên thịt thơm và chắc. Điểm độc đáo của lạp sườn Bắc Kạn là được tẩm ướp bằng gừng đá, một loại gừng chỉ mọc trên đá của người dân tộc nên có mùi thơm rất đặc biệt, không giống gia vị nào của miền xuôi.

Lạp sườn được làm bằng tay của người Bắc Kạn có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bếp, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mắc mật, thơm một cách đặc biệt. Vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng. Nhấp thêm chút rượu nữa thì càng khoái khẩu.

Cá nướng Ba Bể

Cá trong hồ Ba Bể có rất nhiều, thường được người dân đánh bắt thủ công, số lượng cá không nhiều nhưng chất lượng thì tuyệt vời vì thịt cá trắng, chắc và có vị ngọt. Người ta chọn lấy loại cá chỉ nhỏ bằng ngón tay cái, loại cá này vừa giống như cá bống, vừa giống con cá nẹp ở xuôi để làm món cá nướng.

Không gì khoái bằng ngồi bên bờ hồ Ba Bể, nhâm nhi đĩa cá nướng chấm tương ớt với vài chén rượu ngô. Vị cá thơm lừng, thịt cá bùi và dai. Rượu ngô cay cay nhưng vẫn có vị ngọt đâu đây nơi cuống lưỡi. Cùng ngắm cảnh hồ Ba Bể, thần tiên và thăng hoa hơn bất cứ mâm cao cỗ đầy nào khác.

Bánh ngải

Mỗi dân tộc đều sáng tạo ra những loại bánh có hương vị khác nhau, có một loại bánh mà chỉ người Tày mới có đó là bánh ngải. Bánh ngải có màu xanh đặc trưng của thiên nhiên, hình thù và cách làm gần giống với bánh dày của người miền xuôi.

Muốn bánh thơm, dẻo phải chọn loại nếp nương và không được lẫn dù chỉ một hạt gạo tẻ. Bánh ngải là thứ bánh rất dễ ăn, mát và không ngấy, nếu ai đã từng ăn một lần sẽ không quên mùi vị của loại bánh dân dã này. Vị hăng hăng, thơm thơm là lạ của lá ngải như dung hòa cái dẻo, cái ngọt của nếp, của đường, miếng bánh có sự tươi non của đồi nương, cái hoang dã của lá rừng.

Mứt mận

Món mứt mận ở Bắc Kạn được người dân coi là đặc sản. Vì nó có những hương vị đặc trưng riêng và rất hấp dẫn. Hầu như người dân Bắc Kạn đi đâu xa đều mang món mứt mận để làm quà biếu và giới thiệu sản phẩm của quê hương mình.
Theo giadinh.net.vn
Những món ngon của núi rừng Bắc Kạn
Ngoài cảnh đẹp non nước hữu tình của hồ Ba Bể, Bắc Kạn còn có những đặc sản khiến bước chân lữ khách phải lưu luyến.

Miến dong Na Rì

Miến dong mềm dai, ăn mát và chế biến được nhiều món ngon

Miến dong là đặc sản nổi tiếng của Na Rì, Bắc Kạn, được làm thủ công từ những củ dong riềng trồng trên đèo Áng Toòng ở độ cao trên 1.000 m. Sợi miến được làm từ bàn tay khéo léo của người dân nơi đây nên giữ nguyên màu sắc tự nhiên vốn có. Sợi miến có màu vàng hoặc trong đục, sợi dai và giòn để lâu cũng không bị nát, đây cũng là nét đặc trưng khiến nhiều người yêu thích món ăn dân dã này.

Sợi miến có màu tự nhiên do không dùng hóa chất, sợi miến khi nấu có vị dai, giòn và thơm của dong riềng. Từ miến dong có thể chế biến nhiều món ngon và dễ ăn.

Măng vầu

Măng vầu chỉ cần luộc rồi chấm mắm tôm chanh ớt cứ gọi là ngon tuyệt đỉnh

Rừng Bắc Kạn có rất nhiều loại măng như: măng tre, măng trúc, măng nứa, măng mai… nhưng nếu nói là đặc sản phải kể đến thứ “măng vầu” hay còn gọi là “măng đắng”. Theo kinh nghiệm của những người đi hái măng, vào đầu vụ những mầm măng vầu mới nhú còn có vị ngọt xen lẫn vị hơi hơi hơi đắng, còn từ sau tháng 2 Âm lịch, măng lại chuyển sang vị đắng gắt hơn.

Ở Bắc Kạn, người ta có thể chế biến măng thành rất nhiều món ngon nhưng hấp dẫn hơn cả có lẽ là măng luộc chấm mắm tôm chanh ớt. Những người sành ăn măng thì hay chọn ăn loại măng luộc thật đắng vì như vậy mới cảm nhận hết được sự thú vị của món ăn này. Cái cảm giác đắng, chát cứ mất dần khi nhai kỹ, thay vào đó là cảm giác thoang thoảng ngọt, nhẹ nhẹ cay, rất lạ.

Tôm chua Ba Bể

Tôm chua Ba Bể không hề kém cạnh so với tôm chua Huế

Tôm chua là món ăn ngon, có mặt ở nhiều nơi và nhiều vùng chế biến nhưng tôm chua ở Khang Ninh- Ba Bể có một hương vị rất riêng biệt của vùng miền núi Việt bắc. Du khách đến Bắc Kạn mà không được thưởng thức tôm chua Ba Bể thì thật sự đáng tiếc. Hiện nay cứ 5 ngày một phiên tôm chua được bày bán tại chợ Khang Ninh (trên đường du khách vào tham quan hồ Ba Bể) bởi lẽ nó không chỉ là món ăn quen thuộc của đồng bào miền núi nữa mà nó đã được nhiều du khách thập phương biết đến.

Rau dớn

Rau dớn xào ăn giòn ngon

Rau dớn là một loại cây thuộc họ quyết, giống như cây dương xỉ, cành dài lá nhỏ, mặt lá có màu xanh nhẵn, cuống lá có lông. Ở Bắc Kạn, rau dớn thường mọc ở vùng núi cao, nơi ngọn nguồn của các con sông, con suối và thường mọc ở bờ suối, bờ khe, nơi có độ ẩm ướt cao.

Rau dớn ăn ngon nhất là sau mùa lụt đến cuối mùa xuân. Lá rau dớn non uốn cong như vòi voi, có nhựa nhớt. Đồng bào thường chỉ hái ngọn cong non, lá bánh tẻ để ăn.

Rau bồ khai

Loại rau này được nhiều người thành phố tìm mua

Rau bồ khai (bò khai) thường mọc trên những vùng núi đá cheo leo, ngọn rau giống như cây tầm gửi, thân bám vào những cây gỗ lớn để vươn lên đón lấy cái trong trẻo của ánh sáng và khí trời. Ngọn rau thoạt nhìn giống ngọn mướp hương nhưng mảnh mai hơn và có màu xanh non tơ như lá cành mới nhú. Khoảng mùa xuân, bồ khai bắt đầu trổ ngọn xanh tốt. Người dân trong vùng đã quen với mùa đi hái bồ khai. Vào dịp này, ở khắp các phiên chợ vùng cao nơi đây đều có bày bán rau bồ khai.

Bồ khai mang về chẳng phải chế biến cầu kì gì nhiều, chỉ cần nhặt sạch, phi tỏi thơm trên bếp rồi đổ rau vào xào to lửa là đã có một món ăn hấp dẫn. Bồ khai còn được dùng làm phở, mì xào hay xào lẫn với thịt bò. Rau bồ khai có một mùi vị rất riêng, không thể tìm được sự tương đồng ở bất cứ loại mùi vị nào khác.

Lạp sườn hun khói

Lạp sườn hun khói có vị thơm rất riêng

Lạp sườn được làm từ thịt lợn bản nên thịt thơm và chắc. Điểm độc đáo của lạp sườn Bắc Kạn là được tẩm ướp bằng gừng đá, một loại gừng chỉ mọc trên đá của người dân tộc nên có mùi thơm rất đặc biệt, không giống gia vị nào của miền xuôi.

Lạp sườn được làm bằng tay của người Bắc Kạn có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bếp, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mắc mật, thơm một cách đặc biệt. Vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng. Nhấp thêm chút rượu nữa thì càng khoái khẩu.

Cá nướng Ba Bể

Những con cá ở hồ Ba Bể được bắt và nướng ngay tại chỗ

Cá trong hồ Ba Bể có rất nhiều, thường được người dân đánh bắt thủ công, số lượng cá không nhiều nhưng chất lượng thì tuyệt vời vì thịt cá trắng, chắc và có vị ngọt. Người ta chọn lấy loại cá chỉ nhỏ bằng ngón tay cái, loại cá này vừa giống như cá bống, vừa giống con cá nẹp ở xuôi để làm món cá nướng.

Không gì khoái bằng ngồi bên bờ hồ Ba Bể, nhâm nhi đĩa cá nướng chấm tương ớt với vài chén rượu ngô. Vị cá thơm lừng, thịt cá bùi và dai. Rượu ngô cay cay nhưng vẫn có vị ngọt đâu đây nơi cuống lưỡi. Cùng ngắm cảnh hồ Ba Bể, thần tiên và thăng hoa hơn bất cứ mâm cao cỗ đầy nào khác.

Bánh ngải

Bánh ngải dẻo, thơm mùi lá ngải cứu

Mỗi dân tộc đều sáng tạo ra những loại bánh có hương vị khác nhau, có một loại bánh mà chỉ người Tày mới có đó là bánh ngải. Bánh ngải có màu xanh đặc trưng của thiên nhiên, hình thù và cách làm gần giống với bánh dày của người miền xuôi.

Muốn bánh thơm, dẻo phải chọn loại nếp nương và không được lẫn dù chỉ một hạt gạo tẻ. Bánh ngải là thứ bánh rất dễ ăn, mát và không ngấy, nếu ai đã từng ăn một lần sẽ không quên mùi vị của loại bánh dân dã này. Vị hăng hăng, thơm thơm là lạ của lá ngải như dung hòa cái dẻo, cái ngọt của nếp, của đường, miếng bánh có sự tươi non của đồi nương, cái hoang dã của lá rừng.

Mứt mận

Mứt mận của Bắc Kạn thừa sức cạnh tranh với ô mai Hà Nội

Món mứt mận ở Bắc Kạn được người dân coi là đặc sản. Vì nó có những hương vị đặc trưng riêng và rất hấp dẫn. Hầu như người dân Bắc Kạn đi đâu xa đều mang món mứt mận để làm quà biếu và giới thiệu sản phẩm của quê hương mình.
Theo: ngoisao.net
 

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

12 món ăn ngây ngất du khách khi đến Bắc Kạn

 Không chỉ sở hữu nhiều cảnh đẹp nên thơ trữ tình, Bắc Kạn còn là điểm du lịch hấp dẫn với văn hóa ẩm thực độc đáo, đậm đà hương vị núi rừng Tây Bắc.
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 1
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 2
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 3
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 4
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 5
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 6
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 7
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 8
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 9
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 10
12 mon an ngay ngat du khach khi den Bac Kan hinh anh 11
Độc giả Huyền Chi

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

Đặc sắc ẩm thực Bắc Kạn

Đến với Bắc Kạn, du khách không những được trải nghiệm các nền văn hóa khác nhau, được tham quan danh thắng thiên nhiên tuyệt đẹp Hồ Ba Bể, mà còn được thưởng thức các loại đặc sản ẩm thực mang đậm bản sắc của đồng bào dân tộc nơi đây.
Món Xíu Soong.
Trong các hành trình du lịch, văn hóa ẩm thực không phải là yếu tố quyết định nhưng sẽ là yếu tố đóng vai trò thiết yếu, có ý nghĩa làm cho mỗi hành trình du lịch thêm thú vị, hấp dẫn, nhiều trải nghiệm hơn, để lại ấn tượng đẹp khó quên trong lòng mỗi du khách. Sẽ rất thú vị nếu sau một chặng đường dài tham quan các di tích, danh lam thắng cảnh, các điểm đến ý nghĩa, tìm hiểu về truyền thống lịch sử, văn hóa, được nghe giới thiệu về các món ăn, đồ uống đặc sản quê hương, du khách lại có dịp được thưởng thức các món ẩm thực đặc sản đó tại những nhà hàng ở Bắc Kạn. “Trăm nghe không bằng một thấy” chắc chắn mỗi du khách sẽ có thêm được những cảm nhận mới. Bởi, trong mỗi đồ ăn, thức uống, đặc sản ấy còn ẩn chứa những nét văn hóa đặc trưng, phong tục tập quán, là tính cách, hương vị, là thành quả của cả một quá trình lao động sản xuất sáng tạo và những tri thức dân gian quý báu được người dân gìn giữ, bảo tồn và duy trì từ bao đời nay. Và khi ra về rất nhiều du khách không quên mua về làm quà cho người thân, bàn bè cùng thưởng thức.
Có thể khẳng định việc khám phá, thưởng thức văn hóa ẩm thực là một nhu cầu thực tế của du khách. Cùng điểm qua những món ẩm thực truyền thống, đặc sắc với nét đặc trưng riêng biệt của tỉnh Bắc Kạn:
Xíu Soong được làm từ thịt lợn bản thơm và chắc, tẩm ướp bằng gừng núi đá nên có mùi thơm rất đặc biệt.
Cơm lam được làm từ nguyên liệu là gạo nếp. Gạo nếp sau khi được cho vào ống tre thì được nướng lên. Trong quá trình nướng, phải chú ý xoay ống tre cho thật đều tay để ống không bị cháy. Nướng sau khoảng 1 giờ đồng hồ, ngửi mùi thơm là cơm chín.
Món Cơm Lam
Thịt hun khói. Để làm món thịt hun khói được ngon, người ta thường chọn thịt ba chỉ, thịt mông, thịt vai để chế biến và tuyệt đối không rửa lại bằng nước lạnh. Thịt pha xong, người dân lau khô và ngả ra cho nguội. Sau đó, thịt được đưa vào cối giã với một lượng muối vừa đủ để muối ăn sâu vào thớ thịt chứ không giã nát. Tiếp theo cho thịt vào sọt ủ 2 – 3 ngày. Nguyên liệu đem ủ với thịt là một loại men làm từ các cây rừng.
Sau khi ủ, thịt được treo trên gác bếp. Do nấu ăn hàng ngày bằng củi nên gác bếp thường xuyên có khói. Khói bám vào làm thịt có màu vàng đen. Lượng mỡ gặp nóng chảy xuống một phần, phần còn lại rất trong. Thịt treo như vậy để được cả năm mà không hỏng.
Món Thịt Lợn hun khói
Bình Nguyên (Backan.gov.vn)

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

25 tiếng sấy dẻo chuối Bắc Kạn

Chuối chín sấy dẻo trong điều kiện 95 độ C và độ ẩm 65% suốt 25 tiếng sẽ cho ra món ăn vặt được nhiều người yêu thích.

25 tiếng sấy dẻo chuối tươi Bắc Kạn

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Hồng không hạt Bắc Kạn: Đặc sản vùng sơn cước

Cây hồng không hạt đã gắn bó với vùng đất Bắc Kạn trên 100 năm. Hiện nay, tại một số xã của huyện Chợ Đồn, huyện Ba Bể, huyện Ngân Sơn vẫn còn những cây hồng gần 100 năm tuổi cho năng suất và chất lượng quả tốt.

 Là một tỉnh miền núi có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp với một số loài cây ăn quả ôn đới, cận nhiệt đới, hồng không hạt là giống cây ăn quả dễ trồng, không kén đất, có chất lượng đặc thù riêng biệt và đã trở thành loại cây đặc sản của tỉnh Bắc Kạn. Cây hồng không hạt gắn với vùng đất Bắc Kạn đã có lịch sử phát triển trên 100 năm. Tại bản Lác thuộc xã Quảng Bạch, xã Xuân Lạc, xã Tân Lập huyện Chợ Đồn hay tại các xã Quảng Khê, Đồng Phúc thuộc huyện Ba Bể và xã Nà Phặc thuộc huyện Ngân Sơn vẫn còn những cây hồng gần 100 năm tuổi cho năng suất và chất lượng quả tốt. Theo nhiều người dân nơi đây, với những cây hồng mặc dù đã già cỗi nhưng vẫn không hết tác dụng, có thể tận dụng chặt lấy rễ của nó đem trồng. Một cây hồng lớn, già có thể lấy được nhiều đoạn rễ để giâm thành cây con đem trồng, chỉ cần chặt mỗi đoạn dài khoảng 20cm đem cắm xuống đất, rễ sẽ mọc mầm thành cây con, bởi thế mà nhiều hộ gia đình ở trong thôn không cần phải tìm mua cây hồng giống ở nơi khác.
 hong khong hat bac kan: dac san vung son cuoc hinh anh 1
Hồng không hạt Bắc Kạn
Hồng không hạt Bắc Kạn thuộc họ thị Ebenaceae, loài hồng trơn, có tên khoa học là Diospyros kaki L. Theo tiếng địa phương của dân tộc Tày, tên địa danh “Bắc Kạn” là cách nói chệch của chữ “Pác Cạm” có nghĩa là cửa ngõ hoặc “Pác Cáp” có nghĩa là nơi hợp lưu của các dòng chảy. Cách gọi Hồng “không hạt” là nói tới điểm đặc biệt của loại quả này là không có hạt do nhân của hạt bị thoái hóa, trong như thạch, vì vậy, không như các giống hồng khác, khi ăn, hồng không hạt Bắc Kạn có độ giòn. Cũng theo tiếng của dân tộc Tày, Hồng không hạt còn được gọi là Mác hồng, còn chúng ta hay gọi là hồng ngâm do trước khi ăn, phải ngâm hồng qua nước để khử chát.
Đặc điểm của loại quả này là quả không có hạt, vỏ quả màu vàng đỏ khi chín; tai quả to, quả không cứng và không chát, vị ngọt dịu đến ngọt đậm sau khi ngâm, quả nhiều cát đường và rất giòn. Hồng không hạt chín vào thời điểm khoảng cuối tháng 7, 8 âm lịch, khi chín, màu quả chuyển từ xanh sang đỏ vàng sáng. Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây khi hái hồng đúng độ chín, đem về ngâm xuống nước sạch, ngâm ngay sẽ cho chất lượng quả tốt và ngon nhất. Hái hồng nên vào buổi sáng hoặc buổi chiều mát. Quả hái về, xếp nhẹ nhàng vào các sọt có thể vận chuyển đi xa và bảo quản được lâu.
 Quả hồng chín màu vàng sáng rất đẹp, nhưng hái từ trên cây xuống vẫn không thể ăn được vì nó còn rất chát. Phải ngâm hồng trong nước sạch, ngập khoảng 15-20cm, ngâm từ ba đến bốn ngày đêm, quả hồng sẽ hết nhựa chát và chuyển thành vị ngọt, khi đó vớt ra để ráo nước là có thể ăn.
 hong khong hat bac kan: dac san vung son cuoc hinh anh 2
Vào mùa thu, đặc biệt vào ngày Tết trung thu truyền thống, quả hồng không hạt Bắc Kạn thường được dùng làm quà biếu cho bạn bè và người thân, được bày trên mâm ngũ quả trong mỗi gia đình người Việt. Nét văn hóa đặc thù này đã làm cho giá trị và danh tiếng của hồng được lưu truyền qua hàng trăm năm cho đến ngày nay.
Hồng không hạt Bắc Kạn phân bố xung quanh khu vực hồ Ba Bể, tại những nơi có độ cao dưới 800m so với mặt nước biển. Hiện diện tích trồng hồng không hạt toàn tỉnh có gần 1000ha, năng suất đạt 1000 tấn/năm, cho thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Hồng không hạt Bắc Kạn bao gồm hai loại là hồng không hạt “tháng 8-9” và hồng không hạt “tháng 9 -10”. Hồng không hạt "tháng 8-9” thường được trồng ở bờ ruộng, bờ ao hoặc trong vườn nhà - nơi có nguồn nước thuận lợi, chủ động tưới tiêu nên quả thuôn; vỏ quả màu vàng đỏ; thịt quả màu vàng sáng; quả không có hạt; tai quả to, có 4-5 tai; quả không cứng và không chát, vị ngọt dịu đến ngọt đậm sau khi ngâm; quả nhiều cát đường và rất giòn; trọng lượng từ 15-18 quả/kg. Trái lại, hồng không hạt "tháng 9-10" được trồng chủ yếu ở vườn đồi - nơi có địa hình dốc, nguồn nước cung cấp ít hơn nên quả ngắn, hơi tròn; vỏ quả màu vàng sẫm; thịt quả màu vàng sáng; quả không có hạt; tai quả to, có 4 tai; quả cứng và không chát, vị ngọt dịu sau khi ngâm; quả ít cát đường; trọng lượng từ 25-30 quả/kg.
Hồng không hạt đã được cấp giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý năm 2010 tại Quyết định số 1721/QĐ-SHTT ngày 08/9/2010 về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00021 cho sản phẩm hồng không hạt Bắc Kạn. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn là tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý "Bắc Kạn" cho sản phẩm hồng không hạt. Năm 2013, quả hồng không hạt của Bắc Kạn được công nhận là sản phẩm nằm trong top 100 nhãn hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam do Trung ương Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam cùng tạp chí sở hữu trí tuệ và sáng tạo bình chọn.
Với giá bán dao động từ 25.000 – 35.000 đồng/kg, nhiều hộ dân của tỉnh đã cải thiện được cuộc sống, phát triển kinh tế ngày càng vững vàng hơn. Sản phẩm hồng không hạt những năm gần đây không chỉ tiêu thụ bó hẹp trong địa phận  tỉnh Bắc Kạn mà theo chân lái buôn đi về mọi ngả đường đất nước. Đặc biệt trong những mâm cỗ Trung thu hồng không hạt đã trở thành một loại đặc sản không thể thiếu. Cây hồng không hạt được tin tưởng rằng sẽ phát triển xứng tầm thương hiệu, sánh vai cùng các thương hiệu nổi tiếng trong nước như Vải Thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), Nhãn Lồng Hưng Yên… trong một tương lai không xa.
Theo Thanh Tuyền (TTXTTMNNHN)

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

Bắc Kạn có một thứ quà không ai dám... 'ăn vụng'

TTO - Bạn ở Bắc Kạn, cứ đến mùa này là gửi xe khách xuống cho vài chục cân quýt hôi, thứ quả ăn chơi mà muốn “ăn vụng” là điều không tưởng, bởi mùi hương “thần thánh” không loại quýt nào có được.
Bắc Kạn có một thứ quà không ai dám... 'ăn vụng'
Mùa quýt hôi Bắc Cạn - Ảnh: Thủy OCG
Cuối năm dương lịch, dọc theo quốc lộ 3 từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn, những hàng quýt dân dã kê bán dọc hai bên đường khiến nhiều lái xe không thể không dừng lại.
Vốn quýt hôi mỗi năm chỉ có một mùa, không ăn nhanh thì hết.
Túi lớn túi bé, vừa để thưởng thức cái vị rôn rốt chua chua ngọt ngọt, vừa để nhấm nháp cái thứ vỏ đầy tinh dầu để đánh lừa khứu giác qua cơn say xe đường trường, vừa để làm quà. 
Người bán hàng nói chắc như đinh đóng cột: “Đây là quýt Quang Thuận, ngon nhất Bắc Kạn”. Cây quýt hôi mười năm trở lại đây là cây công nghiệp xóa đói giảm nghèo giúp dân Bắc Kạn làm giàu bền vững.
Thoạt tiên là cây ăn quả truyền thống của vùng, sau được nhân ra trồng và tiêu thụ trên diện rộng, được ưa chuộng và trở thành “thương hiệu nông sản”.
Trên địa bàn ba huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Ba Bể có đến hơn 50% diện tích trồng quýt tập trung ở xã Quang Thuận (Bạch Thông), nơi được coi là vựa quýt của cả tỉnh.
Hèn nào, chủ hàng phải giới thiệu ngay với khách lữ hành về nguồn gốc đặc sản của mớ quýt hôi kia, lại còn cam đoan bà con không hề dùng chất kích thích trong quá trình chăm sóc hay sử dụng hóa chất bảo quản sau khi thu hoạch, đảm bảo đạt chất lượng về an toàn vệ sinh thực phẩm.
Bắc Kạn có một thứ quà không ai dám... 'ăn vụng'
Mùa quýt hôi Bắc Cạn - Ảnh: Thủy OCG
Nghe lời quảng cáo vừa dễ thương vừa chân thật của một người bán hàng ở xã Tú Trĩ ngay dọc quốc lộ 3, bạn tôi phì cười bảo cho thêm túi nữa để “nhặt cho chặt bị”.
Quýt Bắc Kạn về cảm quan có thể phân biệt được với các giống quýt khác nhờ vào hình dạng quả. Thông thường, quýt Bắc Kạn có hình tròn dẹt, đường kính khá lớn, từ 7 - 9cm, bề cao chừng 4 - 5cm.
Vỏ chín có màu vàng, quả già có độ rám nhẹ, cầm lên cảm được độ xốp rỗng giữa vỏ và múi.
Quýt bóc ra có múi to, mọng nước, vị chua chua ngòn ngọt, dịu nhẹ, xơ dễ tước, hạt nhỏ. Mùi tinh dầu trong vỏ quýt hôi thì khỏi tả, thơm phức, mạnh hơn hẳn các loại quýt khác, một đặc trưng điển hình của quýt hôi.
Chiếc xe chạy qua đèo Gió trên địa phận Ngân Sơn. Điều hòa tắt đi và cửa kính xe hạ xuống, đón những cơn gió lạnh ùa về từ trên đỉnh núi. Mùi vỏ quýt không vì thế mà mất đi, vẫn vấn vít trong khoang xe đang đầy gió và nhạc.
Không ai trong chúng tôi có thể lý giải nổi tại sao một thứ quả có hương vị nồng nàn và rực rỡ đến thế, lại mang một cái tên hết sức ngược đời - “quýt hôi”. Rõ là không “hôi” chút nào, mà thậm chí còn quá ư là thơm thảo, với hương tinh dầu ấm áp, quyện chặt và bền lâu.
Chỉ biết, chính bởi hương vị đậm đà của vỏ quýt hôi, mà thứ vỏ này đã trở thành một nguồn nguyên liệu quý giá trong việc điều chế các vị thuốc đông y, và một trong những món ăn điển hình không thể thiếu vỏ quýt hôi ở miền Bắc, chính là món chả rươi danh bất hư truyền.
Bắc Kạn có một thứ quà không ai dám... 'ăn vụng'
Quýt hôi - món quà không để “ăn vụng” - Ảnh: Thủy OCG
Ở miền Bắc, nhiều vùng có giống quýt thơm ngon như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn. Tuy nhiên do thổ nhưỡng nên chất lượng quýt giữa các vùng cũng không giống nhau hoàn toàn.
Người ta có thể nhớ đến những thung lũng quýt ở Bắc Sơn (Lạng Sơn) hay Trà Lĩnh (Cao Bằng), nhưng quýt hôi Bắc Kạn mới thực sự đặc biệt.
Và bạn, nếu cuối năm dương lịch có dịp chạy qua quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, đừng quên bỏ vào trong xe thứ hương vị đặc sản của một miền đất: quýt hôi.
Thưởng thức quýt hôi Bắc Kạn để thấy thêm ấm nồng trên những chặng đường xa.
THỦY OCG

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

Ngậy bùi đặc sản bánh trứng kiến Bắc Cạn

LĐO ĐỖ THẢO  


Bánh trứng kiến ngon lạ của người Tày
Nhắc tới trứng kiến, ít ai có thể nghĩ đó là nguyên liệu để chế biến món ăn, bởi không dễ dàng để thu lượm được trứng kiến cũng như không phải ai cũng dám thử món ăn đặc biệt này. Nhưng nếu ai có dịp tới thăm Bắc Cạn từ tháng 3 tới tháng 5 âm lịch - mùa kiến sinh sản, và thưởng thức món bánh trứng kiến của bà con người Tày thì người đó đã được gặp được một điều may mắn lớn.
    Bánh trứng kiến, một loại đặc sản quý của ẩm thực dân tộc Tày. Người Tày truyền miệng rằng, bánh ra đời từ câu chuyện kén rể của một gia đình Tày xa xưa, có cô con gái rất xinh đẹp và kén rể bằng một loại bánh ngon, lạ. Rất nhiều chàng trai mang các loại bánh ngon, làm từ sơn hào hải vị đến ra mắt, nhưng không vừa lòng gia đình. Còn chàng trai nghèo không có tiền mua cao lương, mỹ vị để làm bánh thì lại nghĩ ra món bánh làm từ trứng của kiến và bột gạo. 
    Món bánh hết sức bình dân đó lại được lòng mọi người, chàng trai đã lấy được cô gái. Từ đó, người Tày làm bánh trứng kiến trong những dịp lễ quan trọng. Vì vậy, không phải lúc nào cũng có thể được ăn bánh trứng kiến mà phải tin dịp lễ hoặc nhà có khách quý.

    Bánh trứng kiến ngon lành của bà con người Tày ở Bắc Cạn. Ảnh. Đỗ Thảo

    Bánh trứng kiến được làm từ trứng kiến và bột gạo. Để làm ra những chiếc bánh, đòi hỏi rất nhiều công phu. Bà con người Tày phải lên nương, lên núi để lượm trứng kiến, có khi cả mất cả ngày trời chỉ lượm được một, hai bát nhỏ, vì giờ kiến không nhiều nữa. Trứng kiến là trứng của kiến lành, làm tổ trên thân cây rừng. Trứng to bằng hạt gạo tẻ, có màu trắng sữa, căng mọng.
    Bánh được làm từ bột gạo, nhồi nhân trứng kiến, gói trong những chiếc lá vả. Ảnh. Đỗ Thảo

    Sau khi rửa qua, trứng kiến được rang chín, trộn gia vị, thịt băm, lạc rang và vừng để làm nhân bánh. Bột bánh làm từ gạo nếp pha thêm chút gạo tẻ, xay nhuyễn, nhào dẻo, dát mỏng, nhồi nhân, rồi nặn thành hình vuông, bọc vào lá vả, đem hấp chín. Lá bọc bánh chỉ dùng lá vả, lấy lá bánh tẻ, bỏ phần gân và cuống lá đi, gói bên ngoài bánh.
    Những chiếc bánh nho nhỏ nhưng là cả kì công của bà con người Tày Ảnh. Đỗ Thảo

    Khi ăn bánh, người ta ăn cả phần lá vả kèm với bánh. Bánh có vị rất lạ, dẻo mềm, thơm của gạo nếp nương hòa với vị thanh mát, hơi ngái của lá vả, vị béo ngậy đậm đà của trứng kiến, tạo nên hương vị tuyệt vời.
    Khi ăn, ăn kèm cả phần vỏ bánh bằng lá vả với nhân, trứng kiến béo ngậy sẽ làm cho mọi người bất ngờ. Ảnh. Đỗ Thảo

    Không phải ai cũng dám thử món ăn này, nhưng nếu đã thử, chắc hẳn sẽ bị cuốn hút và say mê như chúng tôi. Từ sự tò mò, chúng tôi bị bất ngờ bởi vị ngon lạ lùng của món bánh này. Đó là nguyên nhân hiện nay trứng kiến được liệt vào hạng cao lương mỹ vị của Cao Bằng, Bắc Cạn. Và không khó để hiểu tại sao bánh trứng kiến là đặc sản quý hiếm của bà con người Tày vùng địa đầu Tổ quốc này.
    Thi thoảng bánh trứng kiến được bán cùng các đặc sản khác ở Bắc Cạn tại khu hồ Ba Bê. Ảnh. Đỗ Thảo

    Thơm lừng cá nướng Ba Bể



    LĐO ĐỖ THẢO 

    cá nướng Ba Bể thơm lừng
    Ba Bể hút hồn người bởi những huyền tích xa xưa, bởi khung cảnh đẹp như tranh, bởi những sản vật mà đất trời ban tặng cho mảnh đất này. Đến Ba Bể, chúng tôi say cảnh, say người và say ẩm thực nơi đây, đặc biệt là món cá nướng thơm ngon nổi tiếng của khu hồ.
      Ba Bể hút hồn người bởi những huyền tích xa xưa, bởi khung cảnh đẹp như tranh, bởi những sản vật mà đất trời ban tặng cho mảnh đất này. Đến Ba Bể, chúng tôi say cảnh, say người và say ẩm thực nơi đây, đặc biệt là món cá nướng thơm ngon nổi tiếng của khu hồ.

      Cá được kẹp thành xiên chữ A rất bắt mắt. Ảnh. Đỗ Thảo
      Người dân nơi đây vẫn giữ thói quen đánh bắt truyền thống. Họ chèo thuyền độc mộc ra hồ và sử dụng phương pháp thủ công, dùng lưới và các dụng cụ đơn giản khác. Mỗi buổi sáng sớm, thuyền cá về bến, những con cá to được mang bán, còn cá mương, cá nhỏ thì để làm cá nướng. Bà con bỏ ruột cá, làm sạch và phơi khô bằng ánh nắng. Cá được phơi dọc theo khu hồ, sau 2,3 bữa nắng, cá sẽ teo lại, khô, giòn. Cá được kẹp vào que tre, mỗi kẹp có 4-5 con cá to, 6-8 con cá nhỏ, rồi bày bán cho khách du lịch.

      Các xiên được xếp cạnh bếp than ủ lửa âm ỉ, khi có khách, chủ quán sẽ nướng cá cho nóng. Ảnh. Đỗ Thảo
      Cách kẹp cá ở Ba Bể khác với nhiều nơi, người dân Ba Bể kẹp cá thành hình xiên chữ A chứ không kẹp thành đường thẳng như những nơi khác. Những xiên các khô, vàng, con nào con nấy đều tăm tắp, nhìn rất hấp dẫn.
      Cá sau khi xiên vào que tre, được xếp cạnh bếp than hoa ủ lửa âm ỉ. Đến khi có khách tới, chủ quán mới nướng cá trên bếp than, nướng cả xiên cá và que tre. Vì cá khô rồi nên rất nhanh chín, khi nướng, lật xiên cá liên tục, tránh để quá tay, cá sẽ khô lại, mất vị.
      Cá khô được đóng gói và bán quanh khu hồ. Ảnh. Đỗ Thảo
      Mỗi xiên cá dao động trong khoảng từ 5.000đ tới 10.000 đ, với nhiều lựa chọn, từ những con cá nhỏ như ngón tay út tới những con cá to bằng 3 ngón tay. Nhưng theo bà con, cá mương nhỏ tầm 2 ngón tay đổ lại là ngon nhất vì cá non, thịt ngọt, xương mềm và giòn.
                     
      Cá khô và cá nướng được bày bán cùng nhiều đặc sản khác. Ảnh. Đỗ Thảo
      Cá ở đây không tanh như cá sông, cá biển. Khi chín có màu vàng sậm, thơm, ngọt, chắc. Xiên cá nướng nóng hổi, còn ám mùi khói, dậy mùi cá thơm lừng mà không bị át mùi do không ướp bất cứ loại gia vị nào. Ngoài cá nướng, tôm nướng cũng góp thêm phần thơm ngon cho ẩm thực khu hồ ba Bể.
      Những sạp bán cá khô, bán đặc sản hồ Ba Bể gần bến thuyền. Ảnh. Đỗ Thảo
      Dọc bờ hồ và các địa điểm du lịch trong khu hồ, đâu đâu cũng có thể mua được những xiên cá đặc biệt này. Mang những xiên cá lên các du thuyền, vừa nhâm nhi, vừa thưởng ngoại phong cảnh, thêm chút rượu nhẹ, thấy được cái thi vị của sự tận hưởng, thấy lòng thảnh thơi đến lạ lùng.
      Tôm được phơi khô, tôm nướng cũng là một món ngon của ẩm thực quanh khu vực hồ Ba Bể. Ảnh. Đỗ Thảo
      Món cá nướng mang đậm cái hồn của  người làm ra nó, mộc mạc mà nồng đậm, như chính những người dân bao đời gắn bó với hồ, với núi. Những xiên cá nhỏ mà chứa hết tinh túy, đậm, ngọt, thơm giòn, mang lại cho chúng tôi bao dư vị khó quên. Hơn nữa, cá khô còn được bà con gói cẩn thận trong túi để bán cho du khách. Du khách có thể mang chút hồn hậu của mảnh đất này gửi tới bạn bè, người thân.

      Những con cá cơm nhỏ xíu được phơi nắng để làm cá khô. Ảnh. Đỗ Thảo