Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Tuyên Quang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Tuyên Quang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2019

BÚN CỦA NGƯỜI TÀY Ở THƯỢNG LÂM

Hiện nay, xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) đang có 6 hộ gia đình người Tày làm nghề sản xuất bún. Trước đây, bún thường được làm trong các dịp lễ, Tết nhưng giờ đây món ăn này được sử dụng hàng ngày.
     Bà Ma Thị Chấn, thôn Nà Đông, xã Thượng Lâm (Lâm Bình) với thành phẩm bún của gia đình
    Công đoạn làm bún của người Tày kỳ công hơn các loại bún khác. Để làm nên những mẻ bún thơm ngon, việc quan trọng đầu tiên là bí quyết từ khâu chọn gạo. Gạo làm bún phải là gạo Bao Thai, loại gạo làm cho sợi bún khô, dẻo, không dính bết như các loại gạo khác.

    Gia đình bà Ma Thị Chấn, thôn Nà Đông có truyền thống làm nghề bún ở địa phương. Bà Chấn cho biết, thời gian để làm được món bún này mất khoảng một tuần. Trước tiên là ngâm gạo vào chum 7 ngày 7 đêm cho đến khi nào hạt gạo hoai mềm và có mùi chua, sau đó chắt nước đi cho ráo, ủ một tối rồi cho vào cối xay thành bột mịn, tiếp theo là nhào bột rồi nặn thành từng quả bột nặng chừng một cân, đem quả bột luộc qua nước sôi.
    Quả bột sau khi được luộc khoảng 15 phút thì vớt ra cho vào cối giã nhuyễn đưa vào khuôn rồi ép thành những sợi bún. Khuôn làm bún được làm bằng gỗ do các gia đình tự chế nên trông rất đơn giản. Những sợi bún tròn, mịn sẽ hình thành qua khuôn này, thả xuống nồi nước sôi, luộc khoảng 5 phút sẽ chín. Khi sợi bún nổi trên mặt nước thì vớt bún ra đem ngâm xuống chậu nước sạch cho đến khi sợi bún săn lại vớt ra rổ hoặc nia.
    Là một gia đình có truyền thống làm bún, ông Bế Văn Bợi, thôn Nà Bản chia sẻ, điều độc đáo là sợi bún của người Tày thường to hơn sợi bún ở nơi khác từ hai đến ba lần, ăn dai và ngon hơn. Thông thường, người Tày dùng thịt vịt để nấu canh chan bún. Thịt vịt băm nhỏ, rang lên rồi đổ nước nấu chín, cho thêm ít rau răm sẽ trở thành nước chan lý tưởng nhất của loại bún này. Ăn bát bún thấy vị hơi chua lại có mùi thơm ngầy ngậy, mát và ngon.
    Một công đoạn làm bún của người Tày ở Thượng Lâm 
    Ngày nay, nhiều hộ người Tày làm bún để bán kiếm thêm thu nhập. Hộ bà Chấn một ngày làm 20 kg bún để mang ra chợ bán. Trung bình 1 kg có giá 20 nghìn đồng. Những ngày lễ, Tết, ngày rằm lượng tiêu thụ tăng đột biến, một ngày gia đình bà làm 50 đến 60 kg bún. Bà cho biết, có hai loại bún, bún tươi và bún khô. Bún tươi là bún sau khi chế biến xong ăn ngay và có thời gian bảo quản trong ngày còn bún khô được phơi nắng và có khi để đến hàng tháng không bị ôi thiu.
    Đây cũng là một trong những nét ẩm thực đặc trưng vùng quê Thượng Lâm, tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách khi đến với vùng đất này.
    Theo baotuyenquang.com.vn

    ĐẶC SẢN RAU HÔI VÙNG CAO

    Phân bố nhiều ở các xã vùng núi cao của huyện Na Hang, Lâm Bình (Tuyên Quang)..., rau hôi (còn gọi rau gai) khiến nhiều người thích thú vì nguồn gốc hoang dã và mùi vị đặc trưng. Sở dĩ người ta đặt cho nó cái tên rau hôi cũng bởi mùi hôi nồng mà dù có đứng cách xa cả mấy mét vẫn dễ phát hiện ra
      Từ khoảng tháng 3 đến tháng 6 là thời điểm cây rau hôi cho nhiều lá non và ngon nhất, lúc này bà con vùng cao rủ nhau vào rừng để tìm hái thứ “lộc trời” mà thiên nhiên ban tặng.
      Nấu canh, xào (trứng, thịt bò...) hoặc làm nộm là cách mà người dân nơi đây thường dùng để chế biến rau hôi. Với phong cách nấu nướng không quá cầu kỳ, người dân vùng cao thường kết hợp rau cùng thịt trâu, thịt lợn hoặc mớ cá tươi mới bắt từ suối về. Cũng có khi chỉ cần ít mỡ hành phi thơm rồi cho nắm rau xanh mướt ấy vào xào nhanh tay là cũng khiến bữa ăn trở nên hấp dẫn lạ thường. Cái vị ngai ngái, ngầy ngậy cộng thêm chút hương nồng cứ vương vấn nơi cổ họng, đủ để khiến bất kỳ ai yêu thích các đặc sản vùng cao phải ứa nước miếng thòm thèm.
      Nhiều người thường ví rau hôi với quả sầu riêng. Mùi hôi nồng của chúng khiến những ai lần đầu thưởng thức đều thấy sợ và khó chịu nhưng khi đã ăn quen thì nó lại dễ gây nghiện, khiến ta nhớ mãi. Theo kinh nghiệm của người dân vùng cao, rau hôi sau khi được hái khỏi cây thì mùi hôi, độ giòn sẽ giảm dần theo thời gian. Vì thế, nếu muốn giữ trọn mùi vị đặc trưng của loại rau này thì nên chế biến ngay, có như vậy mới cảm nhận rõ vị ngọt bùi tự nhiên và mùi hôi nồng lan tỏa trong hơi thở.
      Sự thuần khiết và hoang dã của rau hôi không chỉ hấp dẫn bà con dân bản mà còn được rất nhiều người ở khu vực thành thị ưa chuộng. Những mớ rau hôi xanh mướt không chỉ được bày bán tại một số chợ ở thành phố Tuyên Quang, mà còn trở thành đặc sản của các nhà hàng hiện nay.
      Theo baotuyenquang.com.vn

      Thứ Năm, 27 tháng 6, 2019

      Món đặc sản từ thịt lợn sống của người Dao tưởng kinh dị mà ngon không tả

      Từ lâu, người Dao Tiền ở Tuyên Quang có rất nhiều món ăn nổi tiếng như mắm cá, mắm tép, thịt lợn gác bếp, thịt lợn nướng, lợn muối… Trong kho tàng món ăn phong phú ấy, không thể không kể đến thịt lợn muối chua - món ăn đặc sản của người dân tộc Dao Tiền.


      Món đặc sản từ thịt lợn sống của người Dao tưởng kinh dị mà ngon không tả - 1
      Thịt chua như một sản vật quý, như một món quà quý mà bà con của dân tộc Dao đặc biệt dành để thiết đãi du khách.
      Thịt chua là món ăn dân dã, mang đậm màu sắc ẩm thực dân tộc nơi đây, vì thế, những nguyên liệu chế biến cũng sẵn có trong nhà. Đó là thịt lợn, muối tinh và cơm nguội.
      Món thịt muối chua có nhiều công thức chế biến khác nhau tùy khẩu vị của từng người. Nhưng ngon và nổi tiếng nhất phải kể đến món thịt lợn chua của người Dao Tiền ở huyện Chiêm Hóa.
      Mỗi dân tộc có một cách chế biến thịt chua khác nhau tùy thuộc vào khẩu vị của từng người. Tuy nhiên, với cách làm độc đáo của mình, những miếng thịt chua của người Dao Tiền khiến ai một lần ăn vào cũng phải nhớ mãi. Làm thịt chua không khó nhưng đòi hỏi phải có nhiều thời gian.
      Để có được món thịt chua hấp dẫn người Dao Tiền dùng thịt ba chỉ, phần thịt có cả nạc lẫn mỡ từ loại lợn lửng để chế biến. (Giống lợn này nuôi một năm chỉ đạt tới 15- 17 kg, thịt rất thơm ngon).
      Thịt đã chọn được cắt thành từng miếng. Mỗi miếng khoảng 0,5kg. Trên mỗi miếng dùng dao sắc khía thành từng phần dày 2 - 3cm, tránh làm đứt phần bì.
      Sau đó, đem thịt đã cắt ướp với thật nhiều muối, dùng tay chà xát thật mạnh cho muối ngấm sâu vào từng thớ thịt. Thính chính là yếu tố quyết định sự khác biệt và tạo nên vị chua - hương vị đặc trưng của thịt chua. Chính vì thế, việc cho cơm cần đến đôi bàn tay khéo léo và kinh nghiệm của người chế biến.
      Người ta đem gạo tẻ hay gạo nếp nấu chín thành cơm, sau đó xới ra để nguội và bóp đều vào thịt. Mỗi miếng thịt sau khi xát muối được trộn tiếp với một ít cơm nguội (để cơm thấm muối khi tan cho thịt bớt mặn) rồi đem xếp ngay ngắn vào chum, trên cùng chét thêm một lớp cơm nguội dày và dùng tay lèn thật chặt.
      Ngoài cơm nguội, người ta còn lấy các loại lá như lá cơm đỏ, trầu không, riềng. Tất cả đem rửa sạch, để ráo nước, giã nhỏ và trộn lẫn với thịt lợn. Sau khi thịt lợn được bóp đều với các loại gia vị, người ta tiến hành ủ chua thịt.
      Công đoạn này có thể mất từ 5 ngày đến nửa tháng hoặc có thể lâu hơn nữa, tùy thuộc vào thời tiết từng mùa và mục đích của người dùng. Mỗi chum thịt sau khi đã bịt chặt được úp ngược lên một chiếc bế đựng đầy tro bếp. Làm như vậy để trong quá trình thịt lên chua, mỡ và nước từ thịt sẽ chảy ngược xuống ngấm vào tro, như thế thịt sẽ không bị hỏng. Khi chủ nhà biết đến ngày thịt đủ độ ngấu thì mang ra thưởng thức.
      Món đặc sản từ thịt lợn sống của người Dao tưởng kinh dị mà ngon không tả - 2
      Thịt chua được sử dụng trong đám cưới của người Dao.
      Thịt chua được sử dụng trong đám cưới của người Dao. Trong đám cưới nhà trai phải mang sang nhà gái một lượng thịt khá lớn để làm sính lễ. Chỗ thịt ấy đã được tính trước để phân phát cho anh em, họ hàng của cô dâu, nhiều hay ít tùy thuộc vào mối quan hệ và vai vế đối với cô dâu, còn bố mẹ cô dâu sẽ nhận hai phần lớn nhất. Vậy nên, sau đám cưới, gia đình cô dâu phải đem ướp chua chỗ thịt ấy để bảo quản. Sau 2 – 3 năm, khi cô dâu chú rể đã thành vợ chồng, có đủ điều kiện tổ chức lễ cám ơn những người trước đây đã giúp gia đình nhà trai gánh lễ vật sang nhà gái thì bố mẹ cô dâu mới mở chỗ thịt chua ấy để tiếp đãi mọi người.
      Sau mỗi đám cưới, nhà bố mẹ cô dâu sẽ có được ít nhất hai chum thịt chua như vậy. Mỗi chum thịt sau khi đã bịt chặt được úp ngược lên một chiếc bế đựng đầy tro bếp. Làm như vậy để trong quá trình thịt lên chua, mỡ và nước từ thịt sẽ chảy ngược xuống ngấm vào tro, như thế thịt sẽ không bị hỏng.
      Thịt được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc. Ăn một miếng thôi cũng đủ cảm nhận được hương vị lạ và đặc biệt của món thịt này. Với những người có kinh nghiệm làm thịt chua, khi ăn họ có thể biết được thịt này đã được ướp bao nhiêu lâu.
      Món đặc sản từ thịt lợn sống của người Dao tưởng kinh dị mà ngon không tả - 3
      Thịt chua được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc.
      Thịt chua còn được dùng làm một món ăn cho mâm cỗ trong những ngày rằm, ngày Tết trong năm. Người Dao còn dùng thịt chua để tiếp đón khách quý bởi họ coi đó là món ăn đặc biệt trong ẩm thực truyền thống của dân tộc mình.
      Thịt lợn muối chua có đặc trưng là có vị chua, mềm mà không dai, không béo ngấy của thịt mỡ. Thay vào đó là vị đậm đà của thịt hòa cùng vị cay cay của riềng, vị thơm của lá cơm đỏ, trầu không, cơm nếp, đặc biệt là vị chua hòa lẫn vị mặn của muối đã tạo cho món ăn có hương vị thật độc đáo, khó quên. Thịt muối chua thường được ăn cùng rau sống. Ăn một lần thôi cũng khiến người ta nhớ mãi.
      Theo Đậu Đậu (Dân Việt)

      Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

      Bánh đúc Đà Vị miếng ngon nhớ lâu

      TQĐT - Món bánh đúc của đồng bào Tày ở chợ Đà Vị (Na Hang) từ lâu đã trở nên quen thuộc với người dân và du khách. Với những đặc trưng riêng có như mùi vị, độ giòn… bánh đúc nơi đây đã được nhiều người yêu thích và nhớ mãi.
      Ngày cuối tuần, chúng tôi bắt gặp một đoàn phượt thủ ở Hà Nội đi xe máy lang thang chụp ảnh ở các xã khu C của huyện. Buổi sáng sớm, họ tranh thủ lướt qua chợ Đà Vị, thưởng thức các món bánh ở chợ vùng cao. Đoàn ngạc nhiên khi cả một dãy dài của chợ, bà con tập trung bán món bánh đúc truyền thống của đồng bào Tày nơi đây. Anh Nguyễn Văn Chung đến từ Hà Nội cảm nhận, anh chưa thấy chợ nào bán bánh đúc nhiều như chợ Đà Vị. Bánh đúc ở đây giòn, thơm ngon, hương vị của thịt lợn băm, lạc, lá hẹ hòa quyện vào hương vị của lá chuối được dùng để gói bánh. Mỗi gia đình ở đây đều có bí quyết riêng làm cho món bánh đúc của mình hấp dẫn, nhưng vẫn giữ được nét chung của bánh đúc truyền thống.

      Người dân bán bánh đúc ở chợ Đà Vị (Na Hang).
      Bao nhiêu năm nay bà Lục Thị Liên, dân tộc Tày, thôn Xá Thị vẫn bán bánh đúc ở chợ Đà Vị. Bà Liên cho biết, chợ Đà Vị họp vào các ngày mùng 2, 7, 12, 17 và 27 âm lịch hàng tháng. Đến phiên chợ, người từ Yên Hoa, Hồng Thái, Sinh Long, Khau Tinh, Côn Lôn, Sơn Phú (Na Hang) và các xã lân cận của huyện Ba Bể (Bắc Kạn) sang giao lưu buôn bán. Từ khi hồ thủy điện được hình thành, Đà Vị trở thành chợ cá cung cấp cho thị trường. Vào phiên chợ, người vùng cao có thói quen đi ăn quà. Bánh đúc là món ăn mà người dân nơi đây rất ưa thích. Nhìn cả một dãy chợ với hơn chục hàng bán bánh đúc đã nói lên nhu cầu của người dân khá lớn.
      Dậy từ 4 giờ sáng nấu bánh đúc, bà Nguyễn Thị Lâm, thôn Xá Thị khẳng định, bánh đúc Đà Vị giòn nhưng không bao giờ có hàn the. Các bà, các chị vẫn nấu theo phương pháp truyền thống của các cụ để lại. Gạo để nấu bánh đúc là loại gạo bao thai ngon. Gạo được ngâm qua với nước vôi trong một đêm, sau đó đãi sạch, nghiền nhỏ hoặc nấu cả hạt. Khi nấu chín phải khuấy đều tay, hạt gạo bở tan ra thành bột. Đun nhỏ lửa, lúc nào bánh đặc lại thì thôi. Gia vị cho thêm vào bánh đúc gồm lạc, thịt lợn đen băm nhỏ, dầu ăn, lá hẹ, muối, nước mắm, mì chính. Khi nồi bánh hoàn chỉnh, người nấu dùng một cái mâm nhôm trải lá chuối tươi xuống dưới, sau đó giàn bánh ra mâm, rắc thịt, lá hẹ lên trên, rồi phủ lá chuối lên trên.
      Cầm gói bánh đúc đút vào túi, bà Chúc Thị Liên, dân tộc Dao, thôn Bản Lục, xã Đà Vị tâm sự, mỗi lần đi chợ Đà Vị về các cháu đều ngóng món bánh đúc của bà mua. Bà thường mua 15.000 đồng đã được khá nhiều bánh. Bánh đúc ở đây được các bà, các chị làm cẩn thận, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, không dùng hàn the, mà hương vị rất hấp dẫn. Bà thấy nhiều khách du lịch tìm vào đây ăn món bánh đúc và còn mua thêm mang đi dọc đường ăn.Thường các gia đình ở Đà Vị nấu từ 2 - 4 kg gạo cho một phiên chợ. Giá bán trung bình 2.000 đồng cho 1 miếng nhỏ, được gói lá chuối. Bánh đúc ngon không nát mà phải mềm, dẻo, giòn giòn, cầm không hề dính tay, mịn, bóng. Cái bùi của lạc rang, cùng với vị gạo thanh thanh và đậm đà, beo béo của tương hòa vào nhau vừa dung dị, vừa gợi nhiều cảm xúc về một vùng đất rất đỗi bình yên. Bánh đúc được sắt ra từng miếng nhỏ chấm với tương hay nước chấm gia vị của người Tày thì ngon tuyệt. Mỗi phiên chợ, các bà, các chị làm bánh đúc lãi từ 300 nghìn đồng trở lên và vui hơn khi được thực khách khen ngon.
      Món bánh đúc ở chợ Đà Vị đã trở thành nét văn hóa ẩm thực tiêu biểu ở địa phương, để mỗi du khách nếu đã thưởng thức một lần sẽ nhớ mãi và mong trở lại lần sau.      
       Bài, ảnh: Quang Hòa

      Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

      Hương vị bún Tày Chiêm Hóa

      TQĐT - Ẩm thực của người Tày khá phong phú như món bánh nẳng, bánh gai, bánh trứng kiến, xôi ngũ sắc và đặc biệt là món bún chan canh thịt vịt. Chỉ cần ăn một lần thực khách sẽ nhớ mãi...
      Thôn Đồng Hương, xã Phúc Thịnh (Chiêm Hóa) có gần 80 hộ dân sinh sống, trong đó chủ yếu là dân tộc Tày. Bà Hà Thị Xuyến năm nay hơn 80 tuổi cho biết, tiếng Tày gọi “bún” là  “Pún”. Trước đây, bún thường được làm trong các dịp lễ, Tết nhưng giờ đây món ăn này được sử dụng hàng ngày. 
      Công đoạn làm bún Tày kỳ công hơn các loại bún khác. Để làm nên những mẻ bún thơm ngon, việc quan trọng đầu tiên là bí quyết từ khâu chọn gạo. Gạo làm bún phải là gạo Khang Dân, loại gạo làm cho sợi bún khô, không làm cho sợi bún nát, dính bết như các loại gạo khác. Theo bà Xuyến thì thời gian để làm được món bún này mất khoảng một tuần. Trước tiên là ngâm gạo vào chum cho đến khi nào hạt gạo hoai mềm và có mùi chua (càng chua thì càng ngon). Ngâm gạo đủ ngày thì chắt nước đi cho ráo, ủ một tối rồi cho vào cối xay thành bột mịn. Sau đó nhào bột rồi nặn thành từng quả bột nặng chừng một cân, đem quả bột luộc qua nước sôi. Quả bột sau khi được luộc thì vớt ra cho vào cối giã nhuyễn đưa vào khuôn rồi ép thành những sợi bún. Khuôn làm bún được làm bằng gỗ do các gia đình tự chế nên trông rất đơn giản. Những sợi bún tròn, mịn sẽ hình thành qua khuôn này, thả xuống nồi nước sôi, luộc khoảng 5 phút sẽ chín. Khi sợi bún nổi trên mặt nước thì vớt bún ra đem ngâm xuống chậu nước sạch cho đến khi sợi bún săn lại. Người ta để bún ra nia thành những con bún (để dài thành hàng) khi ăn thì lấy kéo cắt ngắn ra. 
      Là một gia đình có truyền thống làm bún, chị Ma Thị Lượng, thôn Bó Củng, xã Kim Bình chia sẻ, điều độc đáo là sợi bún của người Tày thường to hơn sợi bún ở nơi khác từ hai đến ba lần, ăn dai và ngon hơn. Thông thường người Tày dùng thịt vịt để nấu canh chan bún. Thịt vịt thái miếng, rang lên rồi đổ nước nấu cho chín, cho thêm ít rau răm sẽ trở thành nước chan lý tưởng nhất của loại bún Tày. Ăn bát bún thấy vị hơi chua lại có mùi thơm ngầy ngậy, mát mịn và ngon.
      Ngày nay, nhiều hộ người Tày làm bún để bán kiếm thêm thu nhập. Hộ chị Lượng một ngày làm 20 kg bún để mang ra chợ bán. Trung bình 1 kg có giá 10 nghìn đồng. Chị cho biết, có hai loại bún, bún tươi và bún khô. Bún tươi là bún sau khi chế biến xong ăn ngay và có thời gian bảo quản trong ngày còn bún khô được phơi nắng và có khi để đến hàng tháng không bị ôi thiu. Tuy nhiên, muốn ăn bún khô, người làm khá kỳ công khi phải ngâm 2 - 3 tiếng cho mềm sợi bún mới bắt đầu chế biến được. 
      Đây cũng là một trong những nét ẩm thực đặc trưng vùng quê miền núi, tạo thêm sự thú vị đối với du khách.               
       
      Bài, ảnh: Giang Lam

      Hương vị hoa kè

      TQĐT - Hoa kè là món ăn đặc trưng của người dân tộc Tày huyện Hàm Yên, Chiêm Hóa, Nà Hang, Lâm Bình. Qua những công đoạn chế biến đơn giản, những món ăn từ hoa kè đã trở thành hương vị khó quên đối với những ai đã từng được thưởng thức. 

      Món hoa kè hấp thịt được nhiều người ưa thích. 
      Khi ăn hoa kè người ta cảm nhận được cái thanh mát, ngọt dịu sau vị đắng lúc ban đầu. Hoa kè hấp dẫn ở chỗ đó, thực khách khó có thể quên những bông hoa kè được nhồi thịt, nấu canh, xào mẻ, mỗi món một hương vị nhưng 
      không thể lẫn vào đâu cái vị ngọt thanh đầu lưỡi. Đối với món hoa kè hấp thịt, họ thường lấy thịt có lẫn mỡ băm nhỏ thêm chút hành tươi, mộc nhĩ, hạt tiêu xay, gia vị, tất cả được trộn đều với trứng. 
      Hoa kè có hình như một chiếc chuông nhỏ vì thế sau khi được bỏ nhụy, rửa sạch quá trình nhồi thịt diễn ra rất nhanh và đơn giản. Khi nhồi xong, hoa được hấp bằng chõ khoảng 15 phút. Những bông hoa nở xòe cùng nhân thịt mềm, ngậy như đánh thức khứu giác của người thưởng thức. Hoa kè hấp thịt được dùng nóng, chấm với chút mắm ngon, vị nhằng nhặng đắng nơi đầu lưỡi nhanh chóng qua đi, thay vào đó là vị ngọt là lạ của hoa kè, vị ngọt bùi của trứng, thịt, thêm chút cay nồng của tiêu xay làm ấm lòng những ngày sang đông. 
      Ngoài những món được chế biến từ hoa kè tươi, người ta còn đem phơi khô hoa kè để dùng dần. Những bông hoa kè sau khi ngắt bỏ nhụy được xé làm 3, làm 4 phơi khô. Hoa kè được phơi trong cái nắng, cái gió hanh hao của những ngày chớm đông được bà con dự trữ cho những hôm nhỡ bữa. Những ngày mưa phùn, trong cái lạnh cắt da cắt thịt của vùng cao, người ta đem xào hoa kè khô với tóp mỡ, ăn với cơm nóng thật chẳng còn gì bằng.
      Nhờ hương vị lạ, thanh mát mà hiện nay hoa kè đã được nhiều nhà hàng ở thành phố đặt mua để chế biến, phục vụ cho khách hàng. Những người có dịp lên vùng cao công tác vào những ngày đông cũng không quên mua những xâu hoa kè về làm quà cho người thân. Trong cái lạnh đầu đông, món ngon từ hoa kè sẽ mang lại cảm giác nhẹ nhàng và ấm cúng cho cả gia đình.               
      Bài, ảnh: Thu Trang

      Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

      "Săn" nhộng cọ béo núc, ngoe nguẩy-đặc sản đãi khách quý

      Cây cọ vốn gắn bó mật thiết bao đời nay với người dân huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Người dân thường trồng cọ xung quanh nhà, trên đồi. Ngoài che bóng mát, thì những thành phần của cây cọ đều được người dân sử dụng tối đa, trong đó có con nhộng cọ béo núc, ngoe nguẩy.
      Lá dùng để lợp mái nhà sàn, cành cọ làm chiếu mành, thân cọ già làm ván cho nhà sàn, búp non cây cọ có thể đan nón, lõi dùng để xào, nấu canh rất ngon. Khi cây cọ chặt đổ xuống, mục không thể làm gì nữa thì người Tày dùng để khai thác nhộng cọ, món ăn vừa độc đáo vừa lạ...
      "san" nhong co beo nuc, ngoe nguay-dac san dai khach quy hinh anh 1
      Bà Hoàng Thị Đắc (bên phải) thôn An Phong, xã Tân Thịnh (Chiêm Hóa) cùng con cháuđi tìm nhộng cọ trên đồi để về chế biến thành các món đặc sản.
      Anh Ma Văn Tuấn, thôn An Phong, xã Tân Thịnh (Chiêm Hóa) thường lên đồi cọ của gia đình để tìm nhộng cọ đãi khách. Món ăn này quý lắm nên nó được ví như đặc sản của người Tày. Cầm chiếc rìu bổ mạnh vào thân cây cọ đã mục, anh Tuấn tách thân cây cọ ra làm đôi. Nhìn bên ngoài thân cọ có vẻ còn hơi cứng, nhưng bên trong đã mục.
      Anh Tuấn lấy con dao đầu nhọn chọc vào những kẽ cọ và lôi ra những chú nhộng cọ béo mầm, béo núc đang ngoe nguẩy. Có những con nhộng chín vàng đã cuốn kén, để chuẩn bị một chu trình nở ra con sâu cọ, gần giống như con bọ dừa nhưng nhỏ hơn.
      Theo anh Tuấn, nhộng cọ khai thác tốt nhất là lúc bánh tẻ, chưa già. Một cây cọ dài tầm 7 m, anh Tuấn khai thác được hơn 1 kg nhộng cọ. Anh Tuấn bảo, người Tày sau khi ngả cây cọ xuống, người ta dùng rìu chặt nham nhở vào thân cọ để sâu cọ dễ chui vào làm tổ, đẻ ra nhộng cọ.
      Chị Hoàng Thị Huệ, vợ anh Tuấn chia sẻ, có 3 cách chế biến nhộng cọ ngon nhất là rang qua nấu với măng chua, rán vàng hay nướng vàng chấm gia vị. Nhiều thực khách mới đầu nhìn thấy nhộng cọ ngắn củn, ngoe nguẩy, béo vàng lại có răng nên có cảm giác sợ sợ, vì nhộng cọ to hơn con tằm, cứ ngoe nguẩy liên tục. Nhưng khi được chế biến, nhộng cọ có mùi thơm đặc trưng, khi ăn có cảm giác béo ngậy, ngọt.
      "san" nhong co beo nuc, ngoe nguay-dac san dai khach quy hinh anh 2
      Nhộng con béo núc ngoe nguẩy liên tục ở tổ trong thân cây cọ mục.
      Lê Văn Thắng ở phường An Dương, quận Tây Hồ (Hà Nội) sau khi được thưởng thức món nhộng cọ phấn khởi nói, đây thực sự là món ăn độc đáo, hấp dẫn. Ban đầu ông cũng thấy hơi e sợ, nhưng vì tò mò, muốn biết được hương vị và cảm giác của món ăn vùng cao nên ông đã ăn thử.
      Theo người dân huyện Chiêm Hóacho biết, món nhộng cọ không chỉ vừa ngậy, vừa thơm lại rất bổ dưỡng. Nếu lần sau có dịp lên Chiêm Hóa, chắc chắn ông Lê Văn Thắng sẽ tiếp tục thưởng thức món ăn này.
      Theo ông Ma Văn Dũng, xã Kim Bình (Chiêm Hóa), nhộng cọ là món ăn truyền thống của đồng bào Tày. Ngày nay, thi thoảng đồng bào Tày thôn Bó Củng vẫn chiêu đãi khách quý món nhộng cọ khi họđến thăm khu di tích. Một số du khách thấy ngon, lạ đã hỏi mua về làm quà.
      Tuy nhiên, số lượng nhộng cọ được khai thác không nhiều.Việc nuôi trồng nhộng cọ để khai thác phục vụ nhu cầu của du khách có lẽ sẽ là một cách làm hay để giới thiệu và quảng bá món ăn độc đáo, mới lạ này đến với đông đảo du khách.
      Theo Báo Tuyên Quang

      Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

      Đặc sản “hạt vàng đen” trên núi Na Hang

      (Dân trí) - Cùng với mắc khén, hạt dổi là thứ gia vị đặc trưng của núi rừng Tây Bắc. Những món ăn dân dã khi có chút hạt dổi thì bỗng mang hương vị hấp dẫn lạ thường. Chính bởi vậy nên nó được ví như thứ đặc sản “trời cho” của vùng cao.

      Nếu từng có dịp lên Tây Bắc và thưởng thức những món ăn của người Thái, chắc hẳn bạn sẽ chẳng thể nào quên một mùi vị vô cùng đặc trưng, vừa ngai ngái, cay cay mà lại thơm nồng hấp dẫn. Hỏi ra mới biết, đó là hương vị của hạt dổi – thứ gia vị làm nên sức quyến rũ cho ẩm thực vùng cao.
      Dổi là loại cây vừa cho bóng mát, che chắn gió bão, mưa dông, vừa cho hạt thơm để làm gia vị. Loài cây này được trồng nhiều ở Hòa Bình, Sơn La, Lào Cai… hoặc mọc tại các khu rừng cổ thụ và ở trên núi Na Hang (Tuyên Quang). Hiện nay, ở Na Hang chỉ còn một số nơi như xã Năng Khả, Thanh Tương là còn nhiều cây dổi.
      Thứ gia vị “trời cho” núi rừng Tây Bắc. (Ảnh: dacsantaybac)
      Thứ gia vị “trời cho” núi rừng Tây Bắc. (Ảnh: dacsantaybac)
      Hạt dổi rừng được ví là “vàng đen” vì giá rất đắt mà lại hiếm. Tuy dổi có nhiều loại, nhưng không phải cây nào cũng cho hạt thơm. Thông thường, cây phải trồng trên 7 năm mới cho hạt đủ “chuẩn”, không có mùi hắc mà có thể dùng chế biến món ăn. Nhưng thơm ngon nhất phải kể đến loại được thu hoạch từ những cây có tuổi đời trên 30 năm. Loại này rất hiếm khi được bày bán vì người dân chủ yếu sử dụng để đãi khách quý.
      Người dân chỉ thu hoạch khi hạt dổi đã chín đỏ và rụng khỏi cây. Đôi khi, họ phải căng bạt làm lều để chờ dổi rụng và lần tìm dưới đất để không sót hạt nào. Hạt dổi tươi có màu đỏ. Sau khi thu hoạch về, dổi được phơi nắng thì đen sậm lại và teo đi. Cứ 3 kg hạt tươi sẽ thu được 1 kg dổi khô. Chính vì quý hiếm như thế nên 1kg dổi có giá bán lên đến cả triệu đồng.
      Hạt dổi tươi mới rụng có màu đỏ. (Ảnh: rungvangtaybac)
      Hạt dổi tươi mới rụng có màu đỏ. (Ảnh: rungvangtaybac)
      Những ai đã từng ngửi hương thơm ngào ngạt của hạt dổi, được nếm những món ăn có ướp hạt dổi sẽ hiểu tại sao chúng được mệnh danh là “vàng đen”. Hạt dổi chỉ phơi khô thôi đã thấy thơm, nhưng đến khi đem nướng trên than hồng thì mới thực sự là ngây ngất. Mùi thơm ấy có thể lan tỏa khắp không gian, khiến lữ khách ngang qua cũng phải dừng chân đứng lại.
      Hạt dổi rừng từ xưa đến nay vẫn được dùng làm gia vị chấm hoặc ướp, được người dân tộc đồng bào Tây Bắc sử dụng khi chế biến các món ăn như: thịt lợn mán, thịt lợn rừng, thịt nướng, sườn nướng, gà nướng, tiết canh, các món dồi… Các món ăn nhờ thế mà thêm hấp dẫn thực khách.
      Hạt dổi có thể dùng làm gia vị hoặc ướp thịt, cá,…( Ảnh: hatdoirung.net)
      Hạt dổi có thể dùng làm gia vị hoặc ướp thịt, cá,…( Ảnh: hatdoirung.net)
      Ở một số nơi, người ta còn giã nhỏ hạt dổi rồi trộn với muối chanh, ớt thành một thứ nước chấm cay cay, chua chua, thơm ngậy, dùng để chấm thịt gà, thịt luộc mà không một thứ nước chấm nào có thể sánh được. Đơn giản như món xôi trắng chấm với muối rang hạt dổi cũng đủ để người ăn phải tấm tắc khen ngon. Ngoài ra hạt dổi còn được dùng để ngâm các món măng, ớt hay ngâm các loại quả muối…
      Nhưng món ăn đặc biệt của người Tây Bắc nhất thiết không thể thiếu hạt dổi là thịt gà nấu măng chua. Chỉ cần rắc thêm một chút hạt dổi vào lúc ướp gà và sau khi nấu là sẽ khiến món ăn mang hương vị rất đặc biệt. Nếu bát tiết canh được rắc thêm một ít hạt dổi thì cũng thêm đậm đà, tiết sẽ đông giòn hơn.
      Vào những ngày trái gió trở trời, xương cốt nhức mỏi, bóp một chút rượu ngâm hạt dổi có thể xoa dịu cơn đau. Theo kinh nghiệm của người dân vùng cao, hạt dổi cũng có tác dụng kích thích tiêu hoá rất tốt.
      Món ăn Tây Bắc đậm vị hơn khi có hạt dổi. (Ảnh: hatdoirung.net)
      Món ăn Tây Bắc đậm vị hơn khi có hạt dổi. (Ảnh: hatdoirung.net)
      Hạt dổi dễ bị mất mùi, thậm chí là mốc. Nếu mua về nhà, tốt nhất nên đựng trong lọ thủy tinh hoặc nhựa kín, bảo quản chỗ râm mát. Người Tây Bắc thường bỏ hạt dổi trong ống tre, nứa bỏ lên gác bếp và dùng đến đâu nướng đến đấy, vừa bảo quản được lâu vừa không bị mất đi mùi thơm đặc trưng.
      Hoàng Ngọc
      Tổng hợp

      Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

      Vịt bầu Minh Hương - đặc sản không nơi nào có được

      Vịt bầu Minh Hương vừa được Cục sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Đây là đặc sản riêng có của xã Minh Hương (Hàm Yên) - địa phương được “trời ban” cho dòng suối từ khu rừng đặc dụng Cham Chu chảy qua 25 thôn bản, đã tạo nên thứ đặc sản vịt bầu không nơi nào có được

      Gia đình anh Phạm Văn Thi, thôn 13 Minh Quang, xã Minh Hương thường xuyên duy trì đàn vịt bầu đặc sản tới vài trăm con. Anh bảo, cũng chẳng dễ đâu, các cụ bảo rồi “Muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt”. Nuôi vịt để ăn theo kiểu tự cung tự cấp thì dễ chứ nuôi theo số nhiều mang tính hàng hóa thì cũng có những rủi ro và bấp bênh lắm, mà nguyên do chính là loại thủy cầm này cũng hay bị dịch bệnh. Nếu không phòng ngừa dịch bệnh, chăm sóc đàn vịt chu đáo rất dễ thất bại.
      Quyết tâm làm giàu bằng nghề nuôi đàn vịt bầu đặc sản này, anh Thi đã tìm hiểu kiến thức qua các chương trình nhà nông về kỹ thuật chăn nuôi vịt. Với diện tích 5 sào đất của gia đình, anh đã xây dựng chuồng trại, phân chia ô chuồng riêng dành cho vịt đẻ và vịt thương phẩm. Tuân thủ các quy trình chăm sóc và phòng dịch, gia đình anh Thi thường xuyên có 300 con vịt đẻ, hơn 350 con vịt thương phẩm. Để thịt vịt thơm ngon và vịt đẻ trứng nhiều, không chỉ để vịt tự bơi lội, tìm kiếm thức ăn bên dòng suối Minh Hương, anh còn phải nuôi chúng bằng thóc, bằng chuối thái lẫn với cỏ voi. Đều đều ngày 2 lần, vịt phải có 2 bữa ăn no, còn với vịt bé thì phải chẵn 3 bữa.
       vit bau minh huong - dac san khong noi nao co duoc hinh anh 1
      Gia đình anh Phạm Văn Thi, thôn 13 Minh Quang, xã Minh Hương (Hàm Yên) thu lãigần 500 triệu đồng/năm từ nuôi Vịt bầu Minh Hương.   
      Theo anh Thi, đối với vịt đẻ anh chỉ nuôi trong khuôn viên, không thả suối vì dễ bị động làm dập trứng, người nuôi thường thu hoạch trứng từ sáng sớm vì vào thời điểm này, đa số vịt đã “rớt hột” và phải nhặt ngay. Còn vịt thương phẩm được thả ra suối từ 9 giờ sáng ngay gần nhà và theo thói quen cứ 16 giờ chiều cho ăn là chúng khác tự về, loại này nuôi đến tháng thứ 4 thì đầu mới xanh và bắt đầu ăn khỏe nên trên 5 tháng mới có thể xuất bán, trung bình mỗi con nặng từ 1,9 kg đến 2,2 kg/con, giá bán từ 90.000 đồng đến 110.000 đồng/kg.
      Để chủ động về con giống, gia đình anh đầu tư 4 lò ấp trứng với công suất 4 vạn trứng nên mỗi năm anh nuôi 5, 6 lứa vịt. Sau một tháng ấp trứng, sẽ tiến hành úm vịt rồi mới thả ra chăn. “Dù chăm sóc vịt đẻ hay vịt thương phẩm đều công phu như nhau, mất nhiều thời gian và công sức, nhiều khi lại gặp phải khó khăn về đầu ra trên thị trường”, anh Thi nói điều trăn trở với chúng tôi. Cùng thôn 13 Minh Quang, chị Sằm Thị Tân cũng nuôi vịt bầu và có thu nhập thường xuyên. Chị cho biết, nhờ nuôi vịt bầu mà gia đình chị có đồng ra đồng vào. Được mùa vụ thì có thể đổi đời nhưng nếu không may gặp phải vài con mắc bệnh, bỏ ăn là chị lại mất ăn mất ngủ cả ngày để lo chạy chữa, đề phòng lây lan cả đàn phải tiêu hủy.
       vit bau minh huong - dac san khong noi nao co duoc hinh anh 2
      Giấy chứng nhận nhãn hiệu “Vịt bầu Minh Hương”do Cục Sở hữu trí tuệ cấp.
      Những năm trước đây, người dân xã Minh Hương quanh năm chỉ chăn nuôi vịt nhỏ lẻ, chưa bao giờ nghĩ đến chuyện marketing, quảng cáo, tạo dựng thương hiệu, thị trường. Nay thời buổi kinh tế thị trường, người dân thôn 13 Minh Quang nói riêng, xã Minh Hương nói chung đã dần phát huy được những lợi thế sẵn có của vùng đất thiên nhiên ban tặng, biết ứng dụng kỹ thuật hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Bà con ý thức rằng, một khi chưa quảng bá tốt và tạo lập được thương hiệu thì vịt bầu Minh Hương vẫn chưa thể đứng vững trở thành hàng hóa được.
      2- Dẫn chúng tôi tham quan một số mô hình nuôi Vịt bầu Minh Hương đặc sản, ông Hoàng Văn Nhân, Chủ tịch UBND xã Minh Hương cho hay, đặc điểm của xã Minh Hương là xã có dòng suối từ khu rừng đặc dụng Cham Chu chảy qua 25 thôn bản với tổng chiều dài hơn 17 km. Dòng suối trong xanh, hiền hòa này là một ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng cho Minh Hương phát triển chăn nuôi, cùng với điều kiện thổ nhưỡng, cách thức chăn nuôi của bà con nơi đây đã tạo nên giống vịt bầu nức tiếng thơm ngon này. Vịt bầu Minh Hương có đặc điểm con cái lông vằn, chân ngắn, vịt bầu đực đầu xanh biếc, mình tròn. Thức ăn cho vịt ngoài thóc, chuối, sắn, ngô, còn là cua, ốc ở suối. Năm 2014 -2015, UBND xã Minh Hương đã xúc tiến xây dựng thương hiệu vịt bầu Minh Hương, giao cho Hợp tác xã nông nghiệp Bằng Tiến làm chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệu. Đến tháng 12 năm 2015 thì được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận nhãn hiệu Vịt bầu Minh Hương. Từ cơ sở này, Hợp tác xã nông nghiệp Bằng Tiến đã thành lập tổ thu mua tiêu thụ sản phẩm vịt bầu trên cơ sở các thành viên sở hữu nhãn hiệu tập thể tiêu thụ số lượng tương đối lớn sản phẩm vịt thịt thương phẩm cho người tiêu dùng trên địa bàn trong và ngoài tỉnh.
      Thuận lợi cho Hợp tác xã nông nghiệp Bằng Tiến là Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn (TNSP), Ban hỗ trợ kinh doanh nông nghiệp huyện đã vào cuộc, thành lập 3 tổ hợp tác với trên 20 thành viên tham gia, tổ chức các hoạt động chung như cùng mua thức ăn, con giống, hỗ trợ xây dựng chuồng trại. Tổ hợp tác thôn 4 Minh Tiến và thôn 6 Minh Tiến là một trong những tổ hoạt động hiệu quả, thực sự đem lại những lợi ích cho bà con nông dân nơi đây. Bà Hoàng Thị Thành, dân tộc Dao, thôn 4 Minh Tiến bảo, 10 hộ nuôi vịt tham gia tổ hợp tác được dự án hỗ trợ 115 triệu đồng cùng với số tiền các hộ đóng góp là 29 triệu để xây dựng chuồng trại. Khác với trước đây, chuồng chỉ đơn giản đóng bằng tre, lợp mái lá, không đảm bảo vệ sinh thì nay chuồng trại có nền bê tông, tường gạch xây, mái lợp Fibro xi măng, sạch sẽ lắm. Thấy được lợi ích khi tham gia tổ hợp tác, các hộ gia đình đã mạnh dạn phát triển đàn vịt nuôi, từ những mô hình nhỏ lẻ chỉ từ 30 - 50 con vịt đến nay số lượng đàn vịt của các thành viên trong tổ tăng lên nhiều, hộ nào ít thì nuôi trên 100 con, hộ nào nhiều nuôi đến 450 con.
       vit bau minh huong - dac san khong noi nao co duoc hinh anh 3
      Hộ nuôi vịt thường chăn thả vịt trên dòng suối bắt nguồn từ khu rừng đặc dụng Cham Chu.
      Chủ tịch UBND xã Minh Hương Hoàng Văn Nhân nhẩm tính, nếu năm 2011 số lượng vịt bầu Minh Hương xuất bán chỉ hơn 13.000 con, thì năm 2016 này dự kiến số lượng xuất bán là hơn 40.000 con, tương đương trên 80 tấn vịt thương phẩm. Một tín hiệu rất đáng mừng là tại Lễ công bố nhãn hiệu Vịt bầu Minh Hương được tổ chức tại UBND xã Minh Hương vào đầu tháng 8 vừa qua, nhiều doanh nghiệp, chủ các nhà hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống trong tỉnh, ngoài tỉnh đến đặt hàng. Anh Nguyễn Đa Phúc, chủ Nhà hàng Cội nguồn, thành phố Việt trì (Phú Thọ) cho hay, Nhà hàng Cội nguồn đã có 6 năm liên tục thu mua loại Vịt bầu Minh Hương đặc sản. Không chỉ phục vụ nhu cầu thực khách tại nhà hàng, đơn vị còn phân phối đến một số bạn hàng khác tại các tỉnh, thành như: Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, khoảng thời gian tiêu thụ mạnh nhất là từ tháng 3 đến tháng 9 trong năm.
      Để thương hiệu vịt bầu Minh Hương mãi giữ vững và phát triển hơn nữa, Phó Chủ tịch UBND huyện Đỗ Đức Chiến khẳng định, trong thời gian tới, UBND huyện sẽ tiếp tục tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như: Chọn lọc, sử dụng đúng con giống vịt bầu Minh Hương để sản xuất, cung cấp giống cho các hộ gia đình chăn nuôi. Xây dựng, hướng dẫn, quản lý chặt chẽ quy trình chăn nuôi vịt của từng hộ gia đình, sử dụng thức ăn có chất lượng tốt nhất vào chăn nuôi vịt, đảm bảo sản phẩm vịt bầu Minh Hương an toàn vệ sinh thực phẩm để cung cấp ra thị trường. Đồng thời, huyện xây dựng lịch trình chăn nuôi gắn với tiêu thụ khép kín từ khâu đưa vịt vào chăn nuôi, thời gian xuất bán, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng thịt, được kiểm tra chặt chẽ trước khi xuất bán, giao nhận sản phẩm theo đúng hợp đồng ký kết, lấy yếu tố chất lượng để duy trì thương hiệu “Vịt bầu Minh Hương”. Huyện mời gọi các tổ chức kinh tế đầu tư vào chuỗi phát triển sản xuất, chăn nuôi, tiêu thụ vịt bầu tại địa bàn xã Minh Hương, tạo điều kiện hỗ trợ liên kết bền vững trong phát triển chăn nuôi, tiêu thụ sản phẩm.
      Việc Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu “Vịt bầu Minh Hương” sẽ góp phần nâng cao giá trị cho sản phẩm, là động lực để bà con nhân dân nơi đây phát triển sản xuất, đưa thương hiệu vịt bầu Minh Hương ngày một tỏa rộng, lan xa.
      Theo Thu Hằng (Báo Tuyên Quang)

      Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

      Rượu ngô men lá bí quyết món ăn người Tày ở Tuyên Quang

      Cùng tìm hiểu cách làm rượu ngô men lá, bí quyết tạo nên hương vị đặc biệt trong món ăn của người Tày ở Na Hang, Tuyên Quang.

      Theo VTV

      Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

      Độc đáo món xôi xứ Tuyên ở Tuyên Quang

      Nguồn: tuyenquang.gov.vn

      Được đồ từ những hạt gạo nếp dẻo thơm, nhưng khi kết hợp với những nguyên liệu khác nhau cùng chiếc chõ gỗ được đục đẽo dày công, món xôi xứ Tuyên trở nên đa sắc màu, đa vị, hấp dẫn hơn bao giờ hết.

      Xôi trộn ong non
      Thoạt nghe tên đã thấy món xôi này kỳ công, hấp dẫn như thế nào. Trước đây, mỗi độ thu về, đồng bào xứ Tuyên bước vào mùa thu hoạch lúa. Khi ấy, mỗi  năm chỉ cấy một vụ, nên lúa nếp không sẵn như bây giờ. Bà con chọn ruộng chín sớm gặt về giã gạo làm cơm mới. Trong lễ cúng cơm mới của người Tày thường không thể thiếu xôi trộn ong non. Để có món xôi này, trước đó từ một đến hai tháng, bà con đã phải dày công tìm kiếm tổ ong. Đến gần ngày làm lễ, bà con đi chặt tổ ong về, bổ tổ, gỡ lấy những con non có chân nhưng thân còn trắng. Ong non được chiên vàng cùng với mỡ gà. Khi xôi vừa chín tới, bà con cho ong non đã chiên vào trộn đều. Món xôi trộn ong non được đặt vào mâm cúng để tạ ơn trời đất, thần linh phù hộ cho mùa màng bội thu, tươi tốt, cuộc sống đủ đầy. Cúng xong, mâm cỗ được hạ xuống cả nhà cùng thưởng thức. Món xôi trộn ong non thơm béo mà không ngấy, giàu dưỡng chất, chỉ cần ăn một nắm nhỏ cũng đủ xua tan nỗi mệt nhọc của những tháng ngày một nắng, hai sương.
      Xôi ngũ sắc 

      Đây là món xôi phổ biến và nổi tiếng của rất nhiều dân tộc của xứ Tuyên. Để làm được món xôi có nhiều màu sắc, bà con thường chọn gạo nếp cái hoa vàng hay gạo nếp nương mới gặt về (đây là hai loại gạo thơm ngon, mẩy hạt và có độ dẻo nhất). Gạo nếp được vo sạch, ngâm trong nước âm ấm từ 6-8 giờ để đạt độ nở vừa phải. Gạo ngâm xong đãi sạch, rồi được chia thành 5 phần, mỗi phần tương ứng với một màu. Màu đỏ và màu tím được tạo từ cây khẩu đăm (cơm đen), khẩu đeng (cơm đỏ). Hai loại cây này rửa sạch, giã nhỏ, đun sôi rồi lọc lấy nước để ngâm gạo. Sau 4-5 tiếng vớt gạo ra cho ráo nước. Để có xôi màu vàng  bà con dùng nghệ giã nát hoặc mài trên cành cây cọ cho nhỏ mịn rồi trộn với gạo nếp mà đã ngâm kỹ. Xôi màu xanh, được tạo từ lá gừng tươi giã nát lọc lấy nước cốt. Cuối cùng là màu trắng là màu của gạo nếp cái hoa vàng. Khi đã tạo màu xong, gạo đã được xếp cẩn thận vào chõ xôi. Khi xếp phải thật khéo, nếu không các màu bị lẫn vào nhau nhìn sẽ lem nhem, không đẹp mắt. Không chỉ là một món ăn ngon, màu sắc đẹp mà người xưa làm ra món ăn này còn tượng trưng cho ngũ hành trong vũ trụ. Người dân tộc Tày tin rằng ai ăn món xôi ngũ sắc vào trong các ngày lễ tết, ngày hội sẽ gặp nhiều điều may mắn, tốt lành.

      Xôi ngô

      Cách làm món xôi ngô đơn giản hơn hai món xôi kể trên. Người xưa kể lại xôi ngô bắt đầu từ cách ăn độn của một thời không đủ cơm ăn, phải độn cùng các loại củ, quả. Gạo nếp khi ấy còn hiếm, bởi mỗi năm chỉ cấy được một vụ, năng suất lại thấp. Đến mùa ngô nếp, người ta nghĩ ra cách lấy hai loại hạt cùng dẻo, ngon đồ với nhau, vậy là tạo được món xôi ngon ngậy, mà lại tốn ít gạo. Công đoạn đầu tiên là ngâm gạo nếp qua đêm cho mềm. Sau đó ra nương bẻ ngô nếp bánh tẻ, tách lấy hạt, rửa sạch. Chỉ cần trộn đều ngô với gạo theo tỷ lệ 50/50 hoặc nhiều gạo, ít ngô (nếu ngô nhiều hơn món xôi sẽ rời rạc, không ngon). Sau đó, cho nguyên liệu vào chõ để đồ. Món xôi ngô chín sẽ có vị ngọt của ngô hoà quyện với độ dẻo của gạo nếp. Có thể ăn món xôi ngô cùng với ruốc thịt gà hoặc thịt lợn, hay đơn giản chỉ nắm xôi bằng lá chuối ăn không cũng cảm thấy ngon không kém các loại xôi khác.

      Ngoài những món xôi đặc sắc trên, đồng bào các dân tộc xứ Tuyên còn làm xôi lạc, xôi đỗ, xôi lá dứa, xôi sắn, xôi cơm dừa, xôi khoai sọ, xôi gấc... Sẽ thật khiếm khuyết khi không nhắc đến những chiếc chõ xôi độc đáo, góp phần tạo nên sự thơm, dẻo của những món xôi. Nếu như các món xôi nói lên sự tinh tế của người phụ nữ thì những chiếc chõ xôi được làm nên bởi bàn tay khéo léo của nam giới. Chõ xôi thường được làm bằng thân cây cọ hoặc gỗ thơm, được gọt đẽo và để thủng hai đầu, đầu trên có nắp đậy, đầu dưới lót bằng phên nứa. Để lót gạo đồ xôi, bà con thường dùng xơ những quả mướp to bỏ hạt, rửa sạch sẽ, đặt lên trên phên nứa dưới chõ để ngăn cho xôi rơi xuống dưới mà vẫn có lượng hơi phù hợp bốc lên làm chín xôi. Khi xôi, phía trên chõ được đậy bằng lá chuối rồi mới úp vung lên để giữ hơi và tạo mùi thơm.

      Những món xôi, dù đơn giản hay cầu kỳ đều thể hiện nét văn hoá ẩm thực đa dạng và tinh tế của đồng bào các dân tộc thiểu số Tuyên Quang./.
       

      Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

      Khó quên hương vị bánh nứa tép Tuyên Quang

      Café sáng với VTV3-

      VTV.vn - Nếu có dịp đến Tuyên Quang, thực khách không nên bỏ qua bánh nứa tép - món ăn dân dã nhưng rất thơm ngon.

      Bánh nứa tép Tuyên Quang không có nhiều khác biệt so với cơm lam ở các miền vùng cao khác nhưng rất phổ biến và cũng là một nét ẩm thực khó quên của mảnh đất này. 
      Ai đã từng thưởng thức bánh nứa tép nơi đây sẽ không bao giờ quên được hương vị dẻo thơm của món ăn này. Hương thơm, vị bùi của cơm dẻo, vị ngọt của nước ống tre, vị thanh thanh lá chuối, mùi của khói bếp lửa thật quyến rũ. Bánh nứa tép nên ăn ngay để cảm nhận rõ nhất vị mềm, dẻo, thơm của cơm

      Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

      Đặc sản làm say lòng người ở Tuyên Quang

      Thích tắt quảng cáo hãy nhấn nút 
      Tuyên Quang là vùng đất nổi tiếng với cảnh núi non hùng vĩ, với dòng sông Lô thơ mộng. Không những thế, khi đến đây, du khách còn được thưởng thức các món ăn đặc sản mang hương vị rất riêng, rất độc đáo mà không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác.

       Gỏi cá bỗng có hương vị hấp dẫn
      Gỏi cá bỗng có hương vị hấp dẫn
      Gỏi cá bỗng Sông Lô
      Cá bỗng để chế biến món gỏi phải là cá nuôi từ 1,5 - 2 năm, trọng lượng trên 2kg, thịt chắc. Sau khi lọc thịt cá, người chế biến ngâm thịt với nước được chắt từ quả tai chua. Đặc biệt, món gỏi cá bỗng được chế biến theo cách của đồng bào địa phương rất ngon mà không cần tới thính gạo như nhiều nơi khác.
      Phần xương cá được băm nhỏ, rang vàng, tán mịn rồi trộn đều với lạc rang giã rối, ăn cùng những lát cá thái mỏng. Để có được một bát nước chấm gỏi cá hấp dẫn, ngoài những gia vị quen thuộc như muối rang, hành củ nướng chín, tỏi, ớt, tiêu, chanh thì hạt dổi hay hạt xẻn là một trong những gia vị không thể thiếu khi thưởng thức món đặc sản này.
      Gắp một lát cá bỗng trắng phau, lăn qua chút bột mịn vàng làm từ xương cá, thêm vài hạt lạc rang đem gói cùng rau rừng, chấm với nước gia vị có đủ vị chua, cay, ngọt, bùi, bạn sẽ cảm nhận được sự hòa quyện của thịt cá, vị bùi thơm từ xương băm, vị dai giòn từ bẹ chuối non, thêm vào đó là vị chua, cay của chanh, ớt và rau rừng thấm sâu nơi đầu lưỡi rất khó quên.
      Thịt lợn đen và thịt lợn muối chua
      Lợn đen được bà con người dân tộc tại các xã trên địa bàn huyện Na Hang, chăn thả tự nhiên, không sử dụng tăng trọng, lợn có trọng lượng từ 40 – 55kg. Thịt lợn đen nổi tiếng với vị thịt thơm, săn chắc, khi nấu không có nước, bì giòn… Từ lợn đen, người Tuyên Quang đã chế biến thành những món ăn độc đáo như: thịt lợn nướng riềng mẻ, thịt lợn nướng ngũ vị hương, thịt lợn xào lăn…

      Lợn đen được chăn thả tự nhiên
      Nhiều du khách đến Tuyên Quang đã bị hấp dẫn bởi món thịt lợn muối chua dân dã, mang đậm màu sắc ẩm thực của đồng bào dân tộc nơi đây. Được chế biến khá đơn giản từ lợn đen với những gia vị như lá giềng, lá quế, cơm rượu nếp, muối… Các loại gia vị trên phơi khô, giã nhỏ, cùng với rượu nếp cái ướp chung với thịt lợn đen sau đó cho vào hũ lớn, cứ mỗi lớp thịt lại rải một lớp gạo rang rồi bọc kín, để trên gác bếp, khoảng 1 – 2 tuần là dùng được.

      Thịt lợn muối chua
      Thịt được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc. Ăn một miếng thôi cũng đủ cảm nhận được hương vị lạ và đặc biệt của món thịt này.
      Mắm cá ruộng
      Món mắm cá ruộng vừa là món ăn truyền thống, vừa là một vị thuốc độc đáo của đồng bào dân tộc Tày Chiêm Hóa từ bao đời nay. Để làm ra một hũ mắm cá đòi hỏi khá công phu, phải mất 3 tháng nuôi cá ở ruộng và 10 tháng ủ men làm mắm, hương vị đặc trưng của thứ đặc sản này khiến cho ai đã từng một lần thưởng thức sẽ khó quên.

      Mắm cá ruộng có rất nhiều cách thưởng thức. Ngoài dùng để chấm các loại thịt luộc, rau luộc, rau sống, người dân địa phương còn dùng để xào với trám om đã bỏ hột. Đặc biệt, mắm cá ruộng còn là vị thuốc giải rượu, giải độc rất tốt.
      Để làm được mắm ngon, đồng bào dân tộc phải chọn loại cá chép nuôi ở ruộng. Gạo nếp được xôi lên, để nguội, trộn đều với men rượu, ủ kín. Khi xôi nếp đã lên men thơm thì trộn đều với cá, riềng, lá trầu không, lá cơm đỏ, muối cho vào hũ, cho thêm nước rồi đậy kín vài tháng. Mắm cá ruộng ngon phải có màu đỏ tía, dậy mùi thơm của cơm nếp, men rượu, riềng, lá trầu, lá cơm đỏ.
      Bánh gai Chiêm Hóa
      Đến huyện Chiêm Hóa, du khách sẽ không thể không nếm thử món bánh gai. Bánh gai được làm từ lá gai, gạo nếp, đỗ xanh, dừa tơi, mứt bí, hạt sen, dầu chuối, mỡ lợn.

      Bánh gai Chiêm Hóa
      Muốn có chiếc bánh thơm ngon, phải chọn gạo nếp cái hoa vàng, đãi sạch rồi ngâm với nước lạnh qua đêm, sau đó để ráo nước và xay thành bột. Lá gai phơi khô tước bỏ hết gân, thái nhỏ, đem luộc rồi vắt kiệt nước, xay nhuyễn, trộn với bột và mật mía làm vỏ bánh. Hương vị của lá gai quyện vào mùi thơm của gạo nếp với lá chuối khô, tạo nên hương vị rất đặc trưng.
      Rượu ngô Na Hang
      Thưởng thức rượu ngô Na Hang, bạn có thể cảm nhận được hương thơm vị mát lan tỏa khắp cơ thể. Tuy khá nặng, nhưng rượu ngô khi uống say cũng không gây đau đầu.
      Để chưng cất được loại rượu có một không hai này, ngoài nguyên liệu chính là ngô thì chất gây men không thể thiếu là lá rừng. Men lá được pha chế từ hơn 20 loại thảo dược quý có tác dụng chữa lành vết thương, phong thấp, thấp khớp…

      Chỉ cần nhấp nhẹ chén rượu là ta có thể cảm nhận được ngay được tất cả các mùi vị tạo nên nó. Từ cái vị thơm thơm, cay cay của riềng, của lá sả và ớt đến cái vị thanh mát của nhân trần hay vị hăng hăng của vát vẹo, vị ngọt đậm đà của ngô, vị đăng đắng của lá chí ốt,... Uống rượu ngô Na Hang, du khách có thể cảm nhận được sự vất vả, nhọc nhằn và tấm chân tình của những con người nơi đây đã gửi gắm trong từng giọt rượu.
      Ngô nếp Soi Lâm
      Ngô nếp Soi Lâm bắp nhỏ, bẹ mỏng, lõi nhỏ đặc, ngô luộc lên hạt trong và bóng, ăn rất dẻo mang vị ngọt thanh không khác gì thứ ngô nếp nương của đồng bào vùng cao. Ngô nếp Soi Lâm là ngô nếp ta, ngô giống do bà con tự bảo quản.

      Ngô nếp Soi Lâm có các hạt vàng đều
      Tương truyền rằng, ngô nếp được trồng ở Soi Lâm từng được chọn làm quà tiến vua. Cho tới bây giờ, ngô nếp Soi Lâm vẫn là món ngon nức tiếng, được lòng thực khách.
      đăng bởi: dantri.com.vn


      Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1617107#ixzz4OBfPLoPm
      doc tin tuc xaluan.com


      10 đặc sản làm say lòng người của Tuyên Quang

      Cam sành Hàm Yên, thịt lợn đen, mắm cá Chiêm Hóa, rượu ngô Na Hang... là những món ngon đã có tiếng từ lâu của vùng đất Tuyên Quang.
      Cam sành Hàm Yên


      Cam sành đã được trồng từ rất lâu đời trên đất Hàm Yên và đã trở thành thương hiệu nổi tiếng của huyện. Cam được trồng trên núi cao, khí hậu mát mẻ, cho vị ngọt mát và giá trị dinh dưỡng cao.

      Bánh nếp nhân trứng kiến


      Đến với những ngôi nhà sàn người Tày thuộc Tuyên Quang bạn sẽ có cơ hội thưởng thức những món ngon dân dã và độc đáo trong đó có món bánh nếp nhân trứng kiến. Người ăn nên nếm từng miếng nhỏ để cảm nhận mùi vị thơm ngon của nếp, vị ngậy béo của nhân trứng kiến quyện lẫn hành và thì là. Tuy nhiên cũng có người vì nhạy cảm, thì có thể bị dị ứng khi ăn món bánh này.

      Thịt lợn đen


      Lợn đen được bà con người dân tộc tại các xã trên địa bàn huyện Na Hang, chăn thả tự nhiên, không sử dụng tăng trọng, lợn có trọng lượng từ 40 đến 55 kg.

      Thịt lợn đen nổi tiếng với vị thịt thơm, săn chắc, khi nấu không có nước, bì giòn. Từ lợn đen, người Na Hang đã chế biến thành những món ăn độc đáo như: thịt lợn nướng riềng mẻ, thịt lợn nướng ngũ vị hương, thịt lợn xào lăn…

      Ngô nếp Soi Lâm


      Ngô nếp Soi Lâm bắp nhỏ, bẹ mỏng, lõi nhỏ đặc, ngô luộc lên hạt trong và bóng, ăn rất dẻo mang vị ngọt thanh không khác gì thứ ngô nếp nương của đồng bào vùng cao. Ngô nếp Soi Lâm là ngô nếp ta, ngô giống do bà con tự bảo quản. Tương truyền rằng, ngô nếp được trồng ở Soi Lâm từng được chọn làm quà tiến vua. Bây giờ ngô nếp Soi Lâm vẫn nức lòng thực khách.

      Gỏi cá bỗng sông Lô


      Cá bỗng để chế biến món gỏi phải là cá nuôi được 1,5-2 năm, trọng lượng đạt 2,5-3 kg, thịt chắc. Gỏi cá Tuyên Quang không dùng thính gạo mà dùng chính xương cá băm nhỏ rang vàng, cán mịn rồi trộn đều với lạc rang giã rối, ăn cùng những lát cá thái mỏng kèm theo gia vị, rau thơm và các loại lá rừng nước sốt gia vị sánh ngọt hấp dẫn, thích thú vô cùng.

      Mắm cá ruộng Chiêm Hoá


      Đây vừa là món ăn truyền thống, cũng vừa là một vị thuốc độc đáo của đồng bào dân tộc Tày từ bao đời nay. Để làm ra một hũ mắm cá đòi hỏi khá công phu, phải mất 3 tháng nuôi cá ở ruộng và 10 tháng ủ men làm mắm, hương vị đặc trưng của thứ đặc sản này khiến cho ai đã từng một lần thưởng thức sẽ khó quên.

      Bánh gai Chiêm Hoá


      Ngoài mắm cá, bánh gai Chiêm Hoá cũng đóng góp hương vị đặc sắc vào văn hoá ẩm thực đất Tuyên Quang. Bánh gai được làm từ lá gai, gạo nếp, đỗ xanh, dừa tơi, mứt bí, hạt sen, dầu chuối, mỡ lợn. Muốn có chiếc bánh thơm ngon, phải chọn gạo nếp cái hoa vàng, đãi sạch rồi ngâm với nước lạnh qua đêm, sau đó để ráo nước và xay thành bột. Lá gai phơi khô tước bỏ hết gân, thái nhỏ, đem luộc rồi vắt kiệt nước, xay nhuyễn, trộn với bột và mật mía làm vỏ bánh. Hương vị của lá gai quyện vào mùi thơm của gạo nếp với lá chuối khô, tạo nên hương vị rất đặc trưng.

      Măng


      Măng là món quà hương rừng tinh tuý của mảnh đất miền núi. Từ măng nứa, măng tre, măng mai... có thể chế biến thành nhiều món như măng xào, măng cuốn, măng nhồi thịt, măng đắng luộc chấm mẻ... Món nào cũng có hương vị riêng, đậm đà, khó quên. Măng còn để ngâm chua, xào cùng thịt trâu, một món ăn rất đặc biệt của đồng bào dân tộc vùng núi cao.

      Rượu ngô Na Hang


      Rượu ngô Na Hang không chỉ dễ "say như điếu" bởi chất ngô ngọt lử mà còn bởi công thức gây men đặc biệt từ lá rừng. Men lá được pha chế từ hơn 20 loại thảo dược quý có tác dụng chữa lành vết thương, phong thấp, thấp khớp... Chỉ cần một nhấp rượu ngô Na Hang, bạn có thể cảm nhận được hương thơm vị mát lan tỏa khắp cơ thể.

      Bánh khảo


      Là món bánh truyền thống của đồng bào Tày trong dịp Tết Nguyên đán. Bánh khảo làm rất công phu, nên trước Tết khoảng nửa tháng, chị em trong các gia đình người Tày lại cùng nhau làm bánh.
      Theo: ngoisao.net