Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Bí ẩn đại long đao 500 tuổi của vua Mạc ở Hải Phòng

(VTC News) – Đại long đao nằm im lìm trong tủ kính, giữa đêm tối trầm mặc. Anh Khiêm đốt nến để tôi quan sát long đao trong ánh sáng leo lét. Ngay phía trên nơi đặt long đao là tượng Thái Tổ Mạc Đăng Dung ngồi uy nghiêm trên ghế rồng. 

Trong những ngày Tết, người dân khắp nơi, đặc biệt là con cháu họ Mạc từ khắp cả nước nườm nượp đổ về Khu tưởng niệm Vương triều Mạc ở xã Ngũ Đoan (Kiến Thụy, Hải Phòng) để chiêm bái Thái Tổ Minh Cao Hoàng đế Mạc Đăng Dung. Khu tưởng niệm khá hoành tráng, nằm giữa cánh đồng, nơi gần 500 năm trước là Dương Kinh, được coi là kinh đô thứ hai của nhà Mạc.

Quá khứ oai hùng của một triều đại đã nằm dưới lòng đất hơn 400 năm, kể từ khi bị chúa Trịnh Tùng tàn phá, giờ đã được tái hiện phần nào. 


Thái miếu trong Khu tưởng niệm Vương triều Mạc. 

Anh Ngô Minh Khiêm, Trưởng ban quản lý di tích Vương triều Mạc dẫn tôi đi tham quan một vòng công trình độ sộ bằng đá và gỗ mới tinh này. Đây là dự án chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Tuy nhiên, dự án mới triển khai xong giai đoạn một, với những hạng mục chính. Một hạng mục rất quan trọng là khu trưng bày đồ vật thời Mạc phải đến năm 2012 mới hoàn thành. 

Du khách tham quan khu tưởng niệm đều choáng ngợp trước Thái miếu, nơi đặt linh vị Hoàng đế Mạc Đăng Dung. Theo anh Thiết, toàn bộ Thái miếu được làm từ gỗ Lim nhập từ Nam Phi. Những súc gỗ lim khổng lồ được cưa gọt thành cột trụ lớn và chạm trổ tinh vi. Tuy nhiên, ít ai biết rằng, gian cuối của Thái miếu, hiện đang lưu giữ một bảo vật có một không hai, đó là thanh đại long đao của Mạc Đăng Dung. 

Ông Mạc Văn Thiết (trưởng họ Mạc ở xóm Kiều Thôn ) bên nhà thờ vua Mạc Đăng Dung. 

Anh Ngô Minh Khiêm tự hào khẳng định: “Hiện nay, cả châu Á chỉ còn 2 binh khí được lưu thờ là vật thái bảo, gồm thanh long đao của Tống Thái Tổ nhà Bắc Tống và thanh long đao của Mạc Thái Tổ, đang được lưu giữ ở đây”. 

Thanh long đao nằm im lìm trong tủ kính, giữa đêm tối trầm mặc. Anh Khiêm đốt nến để tôi quan sát long đao trong ánh sáng leo lét. Ngay phía trên nơi đặt long đao là tượng Thái Tổ Mạc Đăng Dung ngồi uy nghiêm trên ghế rồng. 

Theo ghi chép của nhà cố sử học Lê Xuân Quang (người Nam Trực, Nam Định, cả đời nghiên cứu sử làng một cách cực kỳ trang trọng), thì đại long đao này đúng là của Mạc Đăng Dung. Ông cũng là người đầu tiên tiến hành cân đo, đong đếm rất tỉ mẩn thanh long đao này. 

Đại long đao của Mạc Đăng Dung. 

Theo đó, thanh long đao của Mạc Thái tổ dài 2,55m, nặng 25,6kg (sau khi đã gõ hết han gỉ. Theo phán đoán, nếu chưa han gỉ, thanh long đao có thể nặng đến 30kg), trong đó, lưỡi đao dài 0,95m, cán dài 1,6m. Cán đao được làm bằng sắt rỗng, được chốt chặt với lưỡi đao bằng “cá”.

Qua ánh nến leo lét, có thể nhận thấy sự hoành tráng của đại long đao, thậm chí, có phần nhỉnh hơn đại long đao mà Quan Vân Trường tung hoành giữa vạn quân như chốn không người. Chỉ tiếc rằng, đại long đao được đúc bằng sắt, nên độ bền kém, bị thời gian gặm nhấm phần nào. Phần cán đao đã đổ màu đen gỉ. Lưỡi đao cũng màu xỉn và vỡ nham nhở. Tuy nhiên, nếu xét về độ tuổi và nguồn gốc của đại long đao, có thể thấy sự vô giá của nó.

Trong khói hương nghi ngút, anh Ngô Minh Khiêm tỉ mẩn kể lại từng chi tiết trong cuộc lưu lạc trầm luân mấy trăm năm của đại long đao, cùng với sự thăng trầm của nhà Mạc. 

"Cá" gắn lưỡi đao với cán đao. 

Mạc Đăng Dung (1483-1541) là người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kim Môn, trấn Hải Dương (nay là làng Cổ Trai, Ngũ Đoan, Kiến Thụy, Hải Phòng). Ông sinh ra ở vùng biển, làm nghề đánh cá, nhưng lại có trí dũng hơn người.

Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, đại long đao đã từng giúp Mạc Đăng Dung đoạt chức vô địch trong cuộc thi tuyển dũng sĩ tại Giảng Võ đường ở Thăng Long thời Lê Sơ. Ông đã trúng Đô lực sĩ xuất thân (Võ Trạng nguyên), được sung quân Túc vệ.

Với thanh đại long đao, Mạc Đăng Dung đã xông pha trận mạc và bách chiến bách thắng trong các cuộc dẹp loạn: Cù Khắc Xương, Trần Công Vụ, Lê Quảng Độ, rồi Trần Thăng (ở Thái Nguyên, Lạng Sơn), Nguyễn Hoằng Dụ (Thanh Hóa). Do lập nhiều công lớn, dẹp loạn các phe phái, bảo vệ triều đình, nên được phong tới chức Thái sư, tước An Hưng vương, đức trí bậc nhất triều đình.

Lưỡi đại long đao đã han gỉ, mẻ vỡ nham nhở. 

Triều Lê Sơ suy tàn, nên năm 1527, Hoàng đế Lê Cung Hoàng đã hạ chiếu nhường ngôi cho Thái sư Mạc Đăng Dung.

Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập ra triều Mạc, lấy niên hiệu Minh Đức. Trị vì đến năm 1529, ông nhường ngôi cho con cả Mạc Đăng Doanh. Ông về nơi sinh thành là làng Cổ Trai xây dựng Dương Kinh, là kinh đô thứ 2 của triều Mạc, đô thị ven biển đầu tiên của Việt Nam. Tại đây, có thương cảng sầm uất, quân đội hùng mạnh, thậm chí có cả trường Quốc gia học, tương đương với Quốc Tử Giám ở Thăng Long.

Khi Mạc Thái Tổ băng hà, đại long đao được đem về thờ ở lăng miếu làng Cổ Trai. Năm 1592, nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long, Mạc Đăng Thận (cháu 4 đời của Mạc Đăng Dung), là người coi giữ lăng miếu, đã giả làm nhà buôn, mang theo long đao của Tiên đế xuống thuyền rời Đồ Sơn.

Đoàn thuyền tiến về phía Nam, vào vùng cửa sông Hồng, đến cửa Lạn Môn thì dừng lại, tìm đến đất Kiên Lao (Nam Định) định cư. Nghe lời Quốc công Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông cùng gia quyến đổi sang họ Phạm để tránh bị nhà Trịnh truy sát diệt vong. Ông đổi họ Mạc thành họ Phạm, song vẫn giữ lại bộ thảo đầu của chữ “Mạc” để con cháu đời sau ghi nhớ tín hiệu nhận ra nhau.

Đại long đao lúc còn ở Nam Định. 

Trải 4 đời ở vùng Kiên Lao, dòng họ Phạm gốc Mạc có sự phân chi. Ông Phạm Công Úc được giao mang đại long đao về định cư ở vùng Ngọc Tỉnh và thờ ở từ đường chi họ Phạm gốc Mạc.

Trải bao biến cố thăng trầm, theo gia phả dòng họ, thời vua Lê Dụ Tông, hai người con trai Phạm Công Úc là Phạm Công Dục và Phạm Công Dắt lên kinh đô thi võ. Hai ông đã xin vua cha cho phép làm lễ rước thanh long đao của Mạc Thái Tổ, cầu xin anh linh Tiên đế và linh khí bảo đao phù trợ. Khoa thi ấy, cả hai ông đều đỗ võ quan, được triều đình tuyển dụng. 

Ông Phạm Công Dục theo vua Lê đi dẹp loạn, sau được thăng tới chức Đô thống phủ Tả Đô đốc Lê triều Kiệt trung tướng quân, tước Dục Trung hầu. Ông Phạm Công Dắt được phong chức Quản Hữu chấn cơ Tín nghĩa Đô úy, tước Phạm sứ hầu. Từ bấy, linh ứng bảo đao của Mạc Thái Tổ độ trì cho con cháu hậu duệ nhiều đời sau đỗ đạt.

Lễ cung nghinh long đao của vua Mạc từ Nam Định về Hải Phòng. 

Triều vua Minh Mệnh (1821), Phan Bá Vành khởi binh, chống lại triều đình, muốn dùng long đao của Mạc Thái Tổ làm linh khí trên chiến địa. Họ Phạm ở Ngọc Tỉnh đã kịp thời chôn giấu đại đao, không để mất long đao của Tiên đế. Nhiều năm trôi qua, dấu tích nơi chôn giấu không còn, long đao bị thất lạc.

Theo truyền thuyết, thời đó, gò đất phía đông nam từ đường họ Phạm làng Ngọc Tỉnh bỗng nhiên “phát hỏa”. Lửa tự nhiên bốc cháy, phút chốc lại tắt. Nhiều lần lửa bốc lên, cháy cả vào rơm rạ, quần áo của dân làng. Vì thế, dân trong vùng gọi gò đất này là “Gò Con Hỏa”.

Năm 1938, họ Phạm làng Ngọc Tỉnh tiến hành trùng tu từ đường, đào hồ bán nguyệt, đã tìm thấy đại long đao dưới lòng đất sau hơn 90 năm thất lạc. Lúc này, đại long đao đã bị gỉ sét ăn mòn như hiện trạng bây giờ. Họ Phạm đã rước về từ đường thờ phụng bảo quản trong lớp mỡ bò. Theo lời đồn, kể từ khi tìm lại được đại đao, Gò Con Hỏa không còn phát hỏa nữa.

Đúng ngày 22-9-2010, chi họ Phạm gốc Mạc ở làng Ngọc Tỉnh (Xuân Trường, Nam Định), cùng con cháu dòng tộc, nhân dân địa phương, đã nghinh rước báu vật của Thái Tổ Mạc Đăng Dung về Thái miếu, thuộc Khu tưởng niệm Vương triều Mạc, ở xã Ngũ Đoan.

Tìm về kinh đô bị chôn vùi 400 năm trước

(VTC News) - Các nhà nghiên cứu khẳng định đây là con rùa đá to nhất mà họ từng thấy. Con rùa nặng khoảng 6-7 tấn, cõng tấm bia và nằm ở khu mả của vua Mạc.


Trong quá trình tìm hiểu về đại long đao 500 tuổi của hoàng đế Mạc Đăng Dung, tôi thấy có nhiều điều thú vị còn ẩn chứa ở nơi từng là cung điện nguy nga một thời. Khu tưởng niệm Vương triều Mạc giữa cánh đồng xã Ngũ Đoan dù khá hoành tráng, song không thể nào sánh với quy mô một kinh thành, một đô thị ven biển ngày xưa.


Quảng trường trước chính điện của Khu tưởng niệm Vương Triều Mạc. 

Vương triều sụp đổ

Sau khi bị nhà Lê – Trịnh phá hủy, đốt cháy, Dương Kinh tiếp tục bị thời gian 400 năm mài mòn. Phần lớn những dấu tích đã lặn xuống lòng đất, nhưng vẫn còn một số di vật ẩn giấu đâu đó trong chùa chiền, đình miếu. Trong những ngày lang thang ở kinh thành lộng lẫy khi xưa, tôi được chiêm ngưỡng một số cổ vật cực kỳ giá trị liên quan đến Vương triều Mạc. 

Theo sử sách, sau khi lên ngôi được 2 năm, Mạc Đăng Dung đã nhường ngôi cho con cả là Mạc Đăng Doanh để làm Thái Thượng Hoàng, lui về quê xây dựng Dương Kinh với quy mô đồ sộ. Vậy nên, thời kỳ đó, ngoài kinh đô ở Thăng Long, còn có một “kinh đô” khác là Dương Kinh. 


Cánh đồng này từng là Dương Kinh đô hội bậc nhất thời Mạc. 

Tại Dương Kinh, có hệ thống cung điện, lầu các có quy mô đồ sộ như: các Dương Tự, điện Tường Quang, Phúc Huy, phủ Quốc Hưng, đồn binh, kho lương, và cả một trường Quốc học tương đương với Quốc Tử Giám tại Thăng Long. Cứ 3 năm một lần, Mạc Đăng Dung lại tổ chức thi tuyển tìm tiến sĩ, trạng nguyên, bổ sung nhân tài cho đất nước.

Khác với cung điện Tức Mặc (Nam Định) thời Trần, hay Lam Kinh (Thanh Hóa) thời Lê Sơ, chỉ là nơi nghỉ ngơi, thờ tự của vua chúa, Dương Kinh là trung tâm kinh tế, chính trị và là “kinh đô cảng” vô cùng sầm uất. Với vị thế gần biển, sông Văn Úc, với nhiều ngả nối liền phố Hiến, Thăng Long, Hội An, nên Dương Kinh nhanh chóng trở thành khu đô hội bậc nhất.

Điều này đã được chép lại trong sử sách và đã được chứng thực bằng hàng loạt cuộc khai quật khảo cổ kéo dài nhiều năm. Năm 2004, Viện Khảo Cổ học đã khai quật một số địa điểm ở thôn Cổ Trai (Ngũ Đoan, Kiến Thụy, Hải Phòng), nơi được coi là Dương Kinh thời xưa và đã có nhiều phát hiện thú vị. 



Các cuộc khai quật đã khẳng định tại xã Ngũ Đoan từng có một đô thị rực rỡ. 

Các nhà khảo cổ đã khiến các thành lũy, hào nước gần 500 tuổi xuất lộ, thu được nhiều gốm sứ màu lam, đồ sành, đồ đá, đất nung với những nét hoa văn mang phong cách nghệ thuật điển hình của thế kỷ XVI. Thời kỳ nhà Mạc trị vì, gốm Chu Đậu phát triển rực rỡ nhất, nên việc phát hiện nhiều gốm ở di chỉ là điều dễ hiểu.

Cuối năm 2008, các nhà khảo cổ của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiếp tục tiến hành khai quật 450m2 đất ở thôn Cổ Trai và đã lần đầu tiên tìm thấy dấu tích nền móng và gia cố trụ của cung điện Dương Kinh. Hàng loạt thanh đá khổng lồ được phát hiện dưới lòng đất, là vật liệu xây dựng các công trình lớn. Những hiện vật như gạch vồ, đồ gốm trang trí phượng, rồng, sóng nước, hoa cúc… được phát hiện rất nhiều. Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn thu được cả tạ tiền cổ được chôn trong những chiếc hũ sành ở di chỉ Gò Gạo - vốn là một kho quân lương thuộc kinh đô cũ của nhà Mạc.


Đại hồng chung nặng hơn 1,5 tấn trong Khu tưởng niệm Vương triều Mạc. 

Từ những vết tích được khai quật, có thể chắc chắn rằng, trung tâm Dương Kinh khi xưa gồm một quần thể kiến trúc rộng lớn, trải dài trên một diện tích rộng hàng vạn mét vuông. Các kiến trúc đều rất to lớn và trang trí đẹp. 

Vậy là, ngoài những bức tường thành kỳ vĩ của nhà Mạc vẫn còn tồn tại ở Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, các nhà khoa học đã chính thức khẳng định sự tồn tại của một kinh đô hoành tráng thế kỷ 16. Giờ đây, tất cả đã bị bao phủ bởi làng mạc và đồng lúa trải mênh mông.

Bia đá, rùa đá khổng lồ

Những ngày lang thang ở vùng đất từng là kinh đô nhà mạc xưa, tôi gặp không ít chuyện thú vị. Cụ Mạc Văn Thiết là người trông coi từ đường họ Mạc ở xóm Kiều Thôn, nằm ngay cạnh làng Cổ Trai, quê hương của Mạc Đăng Dung. Cụ Thiết mở cho tôi xem gia phả để khẳng định cụ là cháu 17 đời của hoàng đế Mạc Đăng Dung.


Cụ Mạc Văn Thiết là cháu 17 đời của Mạc Đăng Dung. 

Nhưng điều khiến tôi đặc biệt chú ý là những cổ vật bằng đá xanh, đá trắng khổng lồ có niên đại thời Mạc chất đầy mảnh vườn trước cửa từ đường. Toàn bộ số cổ vật này đều liên quan đến Vương triều Mạc ở Dương Kinh xưa.

Tôi khá bất ngờ khi tận mắt con rùa đá xanh rất lớn. Theo ông Thiết, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định đây là con rùa đá to nhất mà họ từng thấy. Con rùa này nặng khoảng 6-7 tấn, vốn cõng tấm bia và nằm ở khu mả của vua Mạc. Khi chúa Trịnh Tùng truy sát, không rõ khu mộ được chuyển đi hay san phẳng để ngụy trang. Riêng con rùa và bia đá nặng quá, lớn quá, không thể khiêng đi được thì cứ để vậy.


Chiếc thống đá là "bồn tắm" của vua chúa, mỹ nữ thời Mạc. 

Trải bao mưa nắng mấy trăm năm, mồ mả không còn, kinh thành chìm dưới lòng đất, song con rùa và tấm bia đá vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt. Tiếc rằng, không rõ do con người phá hoại, hay trúng bom, mà tấm bia đá trên lưng rùa bị vỡ làm 2 mảnh. Hiện tấm bia vẫn được lưu giữ ở từ đường họ Mạc xóm Kiều Thôn.

Chiếc thống đá cũng là di vật khá đặc biệt của nhà Mạc còn tồn tại đến ngày hôm nay. Đây là vật dụng có chức năng như chiếc bồn tắm thời hiện đại để bậc vương tôn, mỹ nữ ngồi tắm… Tương truyền, khi bịt lỗ thoát nước ở dưới đáy, thả xuống nước, chiếc thống đá này nổi được. Ông Thiết đã thử ngồi vào thống đá, thấy không rộng rãi lắm, song vẫn tắm được bình thường.

Trong số cổ vật vứt ngổn ngang trong vườn trước từ đường họ Mạc, tôi đặc biệt chú ý tấm bia đá rất lớn, còn cực kỳ nguyên vẹn. Theo lời ông Thiết, tấm bia này được phát hiện vào năm 2000, khi nhân dân trong xã đào mương. Nó nằm dưới lòng đất chừng 1m, ở khu vực Gò Gạo, vốn là nơi đặt kho quân lương của nhà Mạc.
 


Rùa đá xanh khổng lồ, nặng khoảng 6-7 tấn. 

Ngày đó, đích thân ông Đào An, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng đã duyệt kinh phí, huy động dân quân, người dân kéo bia đá lên. Cả trăm lực điền kéo đủ kiểu, mà bia đá không hề nhúc nhích. Không có cách nào kéo được tấm bia, họ đành lấp đất lại.

Năm 2002, từ đường họ Mạc ở xóm Kiều Thôn được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia, ông Chủ tịch huyện Kiến Thụy Phạm Văn Đới lại cấp tiền để trục bia đá lên. Lần này có cả máy tời, máy cẩu. 

Vì bia đá nằm giữa cánh đồng, không có đường ra, nên chỉ có thể sử dụng được máy tời. Thế nhưng, có một chuyện lạ đã xảy ra: Cáp bằng thép, to bằng ngón chân cái mà liên tục đứt. 


Tấm bia đá khổng lồ mới đào được ở Gò Gạo, nơi từng là kho quân lương thời Mạc. 

Một vị thầy cúng được mời về, cúng khấn khá lâu trong từ đường, song cáp vẫn đứt, bia đá không suy suyển. Đến cuối ngày, đích thân ông Đới vào ngôi miếu Bà Chúa Thao gần nơi xuất lộ bia đá khấn vái. Không ngờ, sau khi ông Đới khấn xong, máy tờ kéo bia đá lên thẳng. Bia đá được kéo ra đường lớn, rồi máy cẩu trục lên xe tải chở về.

Sau khi đem bia đá về, rất nhiều nhà khoa học ở Viện Hán Nôm đã về in dập bản. Cho đến giờ, ông Thiết vẫn chưa nhận được bản dịch. Tuy nhiên, qua một số chữ còn rõ nét, các nhà khoa học đã khẳng định với ông Thiết rằng, tấm bia này ghi chuyện quân lương. Như vậy, nội dung bia phù hợp với việc đào được tấm bia ở nơi từng là kho dự trữ quân lương của nhà Mạc.


Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã lựa chọn một phương thức đấu tranh tổng hợp rất thông minh, vừa làm cho địch đủ ngại ngần, lo sợ, vừa đủ cho Thiên triều hống hách đỡ mất mặt. Ông lại đặt quyền lợi tối cao của đất nước lên trên sỹ diện cá nhân. Nhờ vậy mà đẩy lùi được 22 vạn quân Minh, mà không tốn một mũi tên, không mất một giọt máu.

Có thể nói, Mạc Đăng Dung là một vị vua yêu nước lớn trong những vị vua yêu nước. Nhà Mạc đã đấu tranh vô cùng thông minh, năng động, hiếm có trong lịch sử nước nhà.

GS TSKH Phan Đăng Nhật

Kho cổ vật quý 500 tuổi trong ngôi chùa giữa cánh đồng

(VTC News) - Trong số những di vật thời Mạc lưu giữ trong chùa, có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến chiếc khánh đá, bởi nó liên quan đến một vụ trộm kỳ lạ.
Tin liên quan


Cách từ đường họ Mạc xóm Kiều Thôn vài trăm mét, là ngôi chùa Phúc Linh của làng Nhân Trai, thuộc xã Đại Hà (Kiến Thụy, Hải Phòng). Ngôi chùa nhỏ, nằm giữa cánh đồng này còn lưu giữ vô số cổ vật liên quan đến Vương triều Mạc. 

Ngôi chùa khá khiêm tốn trên một gò đất, cổ kính, cũ kỹ, song lại có cái cổng khổng lồ, cao bằng ngôi nhà 2 tầng, trông rất không phù hợp. Người trông giữ ngôi chùa cổ từ thời Trần này là cụ Bùi Hữu Tấc.

Rồng đá trông như đám mây là đặc trưng thời Mạc. 

Ngay từ cổng chùa đã thấy những hiện vật liên quan đến triều Mạc. Cổng chùa đặt 4 linh vật là rồng đá, chạm trổ rất tinh tế, trong đó có 2 con rồng thời Trần và 2 con rồng thời Mạc. Rồng thời Mạc rất đặc trưng, cách điệu như một đám mây, nên gọi là “vân hóa rồng”. 

Trong khuôn viên chùa, có hai rùa đá cõng bia có tuổi 500 năm. Hai rồng đá thời Mạc vốn nằm chỏng chơ ngoài vườn vừa được khiêng vào sân chùa đặt chồng lên nhau. 

Trong một tháp mộ vẫn còn pho tượng gỗ (đoán là từ thời Mạc) bị thủng lỗ chỗ ở bụng. Theo ông Tấc, những vết thủng ở pho tượng là do một quan Pháp bắn. Ông Tây này say rượu mò vào chùa, thấy tượng ngồi trong tháp mộ cứ trợn mắt nhìn, tức mình, ông ta xả nguyên một băng đạn.

Pho tượng trong tháp mộ bị quan Pháp bắn thủng bụng, cổ. 

Nhiều bức tường của ngôi chùa này được xây bằng gạch vồ, to bản, là gạch đặc trưng của thời Mạc. Hàng ngói lợp ở mái sau của ngôi chùa cũng có độ dày đặc biệt, chưa từng thấy xuất hiện ở nơi khác. Đây cũng được coi là loại ngói đặc trưng của nhà Mạc.

Đáng chú ý nhất là những pho tượng tròn – tượng đặc trưng thời Mạc, có rất nhiều ở trong chùa Phúc Linh. Những pho tượng gỗ được sơn thếp cẩn thận, trong đó, có một pho được cho là hiện thân của Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, vợ hoàng đế Mạc Đăng Dung. Những pho tượng này được làm bằng chất liệu gỗ lim nên rất bền. Mặc dù những pho tượng đã “ngồi” đó hơn 400 năm, song vẫn chưa hề bị mối mọt xâm hại.

Tượng Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn (vợ Hoàng đế Mạc Đăng Dung). 

Ngay cạnh chính điện là những pho tượng đá xanh đặc biệt nhất. Những pho tượng này đã bị người đời sau quét sơn xanh đỏ lòe loẹt. Hai hàng tả hữu là quan lại, người hầu đứng uy nghiêm. Pho tượng ngồi trên ngai trạm trổ rồng là vua Mạc Đăng Dung. 

Theo ông Tấc, những pho tượng đá xanh đã có mặt ở đây từ thời Mạc. Tượng vua Mạc vốn ngồi trên một bệ tượng bằng khối đá khổng lồ, nặng cả chục tấn. Tuy nhiên, do quá trình bồi lấp, người đời sau lại không đủ điều kiện kỹ thuật nâng khối đá lên, nên khối đá đã chìm sâu dưới lòng đất. Người đời sau cứ xây gạch chồng lên khối đá để nâng tượng, nên bệ tượng bằng đá và bức tượng vốn dính liền mỗi ngày càng thêm rời xa nhau.

Tượng tròn tạc bằng đá xanh - tượng đặc trưng thời Mạc. Những pho tượng này được cho là tạc vua Mạc Đăng Dung và các vị quan. 
Vua Mạc Đăng Dung ngồi trên ghế tạc hình rồng. 

Qua quan sát, có thể nhận thấy những pho tượng này được chạm khắc từ đá xanh, loại đá phổ biến ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Những pho tượng đều rất đẹp, còn nguyên vẹn và trông giản dị như người thật. Ông Bùi Hữu Tấc bảo: “Mấy bố GS bụng to như cái trống tìm về chùa mấy lần để nghiên cứu và đều khẳng định những pho tượng này có niên đại từ thời Mạc, mang đặc trưng điêu khắc của thế kỷ 16”.

Trong số những di vật thời Mạc lưu giữ trong chùa, có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến chiếc khánh đá, bởi nó liên quan đến một vụ trộm kỳ lạ.

Cách đây 20 năm, sau khi các nhà khoa học đạp xe về nghiên cứu và khẳng định trong chùa lưu giữ toàn cổ vật quý thời Mạc, thì bắt đầu xuất hiện trộm đến nhòm ngó. Tuy nhiên, chúng chỉ ăn cắp được những thứ lặt vặt, còn những cổ vật bằng đá, toàn nặng cả tấn, thì không thể bê nổi. Những pho tượng gỗ quý, đặc biệt là tượng Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, dễ bị mất trộm, được cất giữ trong nhà kho, khóa kỹ.

Loại ngói dày rất đặc biệt. 

Trong số cổ vật thời Mạc, có chiếc khánh đá là nhẹ nhất, nên đã bị trộm nẫng. Nhìn chiếc khánh đá ước chừng nó nặng 70-80kg. Chiếc khánh đá còn rất mới, chữ nho rất nét, ghi niên đại chạm khắc thời Mạc.

Cuối năm 1992, ông Tấc bị đánh thức lúc nửa đêm về sáng bởi tiếng lạch cạch. Ông thức dậy, thấy cửa chùa mở toang. Kiểm kê đồ vật, thấy chiếc khánh đá đặt cạnh chính điện bị mất. Ông gõ chuông ầm ĩ, song trời rét mướt, chẳng thấy ai dậy.

Ông Tấc cầm đèn pin và chiếc gậy chạy dọc cánh đồng, thì phát hiện 4 tên trộm đang loay hoay khiêng chiếc khánh đá. Khi ông đến gần, 4 thằng nhìn ông chằm chằm, chả lộ chút vẻ sợ hãi nào. Ông cũng chả dám tiến đến chỗ chúng, vì có thể mất mạng như chơi. Ông cứ đứng từ xa rồi hết khuyên răn đến chửi rủa lũ phá đình, phá chùa, rằng “lũ ăn trộm của Thánh thì trước sau cũng bị Thánh vật”.

Chiếc khánh đá suýt bị mất trộm. 

Nhưng điều lạ xảy ra: 4 thằng loay hoay mãi mà không nhấc nổi chiếc khánh đá. Chiếc khánh đá cứ nằm trơ trơ trên bờ ruộng. Loay hoay một lúc không bê lên được, một thằng bảo: “Khéo Thánh vật thật”, thế là chúng để lại chiếc khánh đá bỏ đi.

Ông Tấc bốc những cục đất ải lấp chiếc khánh đá lại để ngụy trang rồi về chùa ngủ. Sớm hôm sau, ông huy động thanh niên ra đồng khiêng về. Lạ thay, chỉ cần 2 người khiêng chiếc khánh đá chạy phăm phăm. Để chống trộm, ông Tấc đã dùng dây xích to tướng treo chiếc khánh đá lên, rồi khóa xích lại.

Rùa đá cõng bia trong chùa Phúc Linh. 

Những ngày lang thang ở các đền chùa, đình miếu quanh xã Ngũ Đoan và các xã lân cận của vùng từng là Vương triều Dương Kinh khi xưa, tôi được tận mắt rất nhiều di vật từ thời Mạc có độ tuổi 400 đến 500 năm. Đây là những di vật cực kỳ quý giá, tuy nhiên, những di vật này đang bị đối xử không công bằng. Phần lớn các di vật nằm dầm mưa dãi nắng ngoài vườn, ngoài sân hoặc không được cất giữ cẩn thận, có thể bị bọn trộm khiêng đi bất cứ lúc nào. 

Hy vọng, khu trưng bày cổ vật thời Mạc nhanh chóng được xây dựng ở Dự án Khu tưởng niệm Vương triều Mạc tại xã Ngũ Đoan, để đưa những cổ vật này về trưng bày, vừa để tôn vinh thời thịnh trị của 5 đời vua Mạc vừa để nhân dân được chiêm ngưỡng những cổ vật quý. 
 

Do thời gian làm vua rất ngắn, không để lại nhiều dấu ấn gì ngoài một số việc như: cho đúc tiền Thông Bảo, truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế, xây cung điện ở Cổ Trai, lấy Hải Dương làmDương Kinh, tổ chức thi tuyển chọn người có tài (thi Hội năm 1529), sửa định binh chế, điền chế, lộc chế và đặt các vệ phủ, các vệ sở trong ngoài, các ty sở thuộc, hiệu ty, tên quan và số lại viên, số người, số lính của các nha môn… Tuy nhiên, vẫn phỏng theo quan chế triều trước với bổ sung không đáng kể nên người ta biết đến ông phần nhiều như là một người tiếm ngôi, mặc dù trong giai đoạn từ đời Lê Uy Mục đến đời Lê Cung Hoàng thì nhà Hậu Lê đã cực kỳ suy tàn, khởi nghĩa và nổi loạn nổi lên ở nhiều nơi, triều chính thối nát dẫn đến việc các ông vua này phải dựa vào thế lực ngày càng tăng của Mạc Đăng Dung nhằm duy trì quyền lực đã gần như không còn của mình và cuối cùng là việc phải nhường ngôi cho ông.


Dương Phạm

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân

Tin rằng đầu năm làm những điều tốt đẹp thì cả năm sẽ may mắn, sung túc, nên Tết đến người Việt dạy con cháu phải sống vui vẻ, hòa thuận, tránh làm những việc "gở” sẽ mang đến xui xẻo như: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau...

Trao đổi với VnExpress.net, Tiến sĩ Nguyễn Đệ, Giảng viên khoa Văn hóa học, Đại học Văn hóa TP HCM cho biết, trong đời sống người dân Việt, Tết Nguyên Đán được xem là thời điểm rất quan trọng. Nếu như ngày Mùng Một Tết bắt đầu một mùa xuân mới của đất trời, thì đối với con người nó có ý nghĩa bắt đầu của một chu trình sống, làm việc cũng như một chu trình tình cảm mới.
Không biết tự bao giờ những tập tục ngày đầu xuân này đã chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa cũng như tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Ngày nay, con người hiện đại vẫn truyền tai nhau giữ nét truyền thống này như một phương thức tâm linh để tự bảo vệ trước những điều bất trắc, điềm “gở”, đồng thời chủ động đón điều lành đến nhà.
Đề cập riêng về hệ quả của việc tuân thủ hay không những điều kiêng kỵ này, Tiến sĩ Đệ cho rằng, nó tùy thuộc vào quan niệm và tín ngưỡng riêng của từng người, từng gia đình. Bởi trên thực tế chưa có trường hợp cụ thể nào chứng minh được tính đúng sai của nó. Song ông nhìn nhận, việc hiểu biết các tập tục này sẽ giúp người ta biết cách cư xử sao cho tế nhị, tránh gây hiểu lầm, khó xử trong các mối quan hệ.
Người Việt kiêng quét nhà 3 ngày Tết vì sợ cả năm làm ăn thất bát. Ảnh: Thi Trân
Người Việt kiêng quét nhà 3 ngày Tết vì sợ cả năm làm ăn thất bát. Ảnh: Thi Trân
Xuân Tân Mão 2011 đang đến gần, ông Đệ cũng chia sẻ 14 điều kiêng kỵ phổ biến trong ngày Tết ở nước ta như sau:

Kiêng quét nhà:

Dân gian cho rằng nếu quét nhà vào 3 ngày đầu năm thì cả năm đó gia đình sẽ nghèo túng, khánh kiệt. Hoặc có thể quét nhà nhưng tập để rác ở một góc nhà chứ không hốt đi.
Tập tục này xuất phát từ truyền thuyết, ngày xưa ở Trung Hoa có một lái buôn thật thà tên là Âu Minh. Khi ông đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy Thần thương ban cho một người hầu tên là Như Nguyệt. Từ ngày thương gia này đem Như Nguyệt về nuôi, trong nhà làm ăn phát đạt, chỉ vài năm là giàu to.
Một hôm Như Nguyệt phạm lỗi, Âu Minh không kiềm được cơn giận đã ra tay đánh cậu bé. Như Nguyệt hoảng sợ trốn vào đống rác và sau đó biến mất tăm. Từ ngày đó, Âu Minh làm ăn sa sút, buôn bán không được nên nghèo kiết xác. Dân làng bàn tán xôn xao cho rằng Như Nguyệt là một vị thần đã mang lại sự giàu có, hưng thịnh mà nhà Âu không biết quý trọng. Từ đó, dân gian đã lập bàn thờ Như Nguyệt và đặt tên là Thần Tài với hy vọng vị thần này sẽ độ trì cho gia đình được nhiều tài lộc.

Cũng xuất phát từ truyền thuyết này mà ngày Tết, nhân dân có tục kiêng hốt rác trong ba ngày đầu năm vì sợ hốt mất Thần Tài ẩn trong đống rác đổ đi thì cả năm đó làm ăn sẽ thất bát. Vì thế từ trước đó cho đến đêm giao thừa, dù bận rộn đến đâu mọi người cũng phải dọn dẹp nhà cửa, sân vườn, đồng thời ý tứ ức giữ gìn nhà cửa không vứt rác bừa bãi.
Riêng ở Nam bộ người ta còn cho rằng sau khi quét dọn phải cất hết chổi, bởi nếu trong ngày Tết bị mất chổi là điềm gở, cả năm đó nhà sẽ bị trộm vào vét sạch của cải.

Kỵ mai táng:

Tết Nguyên Đán được gọi là “Tết Cả”, là ngày vui nhất của một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng mở đầu cho một vận hội mới của đất trời, của con người và cả dân tộc. Vì thế dù gia đình có tang cũng phải tạm gác chuyện buồn để hòa chung với niềm vui toàn dân tộc. Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết, tức là nhà có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, còn ngược lại bà con xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh đó.
Trường hợp gia đình có người chết vào ngày 30 tháng Chạp mà gia đình có thể định liệu được thì nên chôn cất cho kịp trong ngày đó. Đa số các gia đình kiêng để sang ngày mùng Một đầu năm. Còn nếu qua đời đúng Mùng Một Tết thì chưa phát tang vội nhưng phải chuẩn bị mọi thứ để sáng Mùng Hai làm lễ phát tang.

Kỵ cho nước, cho lửa:

Người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình. Vì quan niệm lửa là đỏ, là may mắn, cho người khác cái may trong ngày Mùng Một Tết thì cả năm đó trong nhà sẽ gặp nhiều điều xui rủi như làm ăn thua lỗ, trong nhà lủng củng, ra đường hay gặp tai vạ.
Ngoài ra, cũng kiêng cho nước đầu năm vì nước được ví như nguồn tài lộc, nguồn công năng cho gia đình. Nếu cho nước thì sẽ bị mất “lộc”.
Bởi quan niệm này nên ngay từ những ngày cuối năm, dân gian luôn chủ động đưa nước đầy ắp lu vại, lửa hồng trong bếp để tránh phải đi xin mấy ngày đầu năm.

Kỵ vay mượn, trả nợ ngày đầu năm và đầu tháng:

Người xưa dạy, không nên vay hoặc cho tiền bạc, đồ đạc vào những ngày đầu năm mới vì sẽ khiến gia đình rơi vào cảnh túng thiếu cả năm. Điều kiêng kỵ này xuất phát từ quan niệm ngày đầu xuân con người mở cửa để đón lộc vào nhà, còn nếu cho mượn hoặc trả giống như “dâng” tài lộc vào tay khác.

Kiêng ăn thịt chó, cá mè, vịt, trái chuối…

Là những loài mà tên gọi của nó gắn liền với những điều không may lành như “trượt vỏ chuối”…

Không làm vỡ đồ đạc:

Vỡ bát đĩa, ấm chén hoặc cãi nhau, chửi tục, khóc lóc, buồn tủi, nói điều xui rủi…sẽ khiến gia đình bất hòa, chia rẽ.

Kiêng mặc quần áo màu đen (hoặc trắng):

Theo quan niệm của người xưa, màu đen và trắng là màu của tang lễ, chết chóc. Thay vào đó nên mặc đồ màu hồng, đỏ, vàng, xanh... tạo nên sự phấn khởi và vui vẻ để đón chào năm mới.

Kiêng đi chúc Tết vào sáng Mùng Một Tết:

Xuất phát từ phong tục xông nhà xông, xông đất đầu năm, người đầu tiên bước vào nhà ai trong ngày Mùng Một Tết chính là người quyết định đem lại sự may mắn hoặc xui xẻo cho gia đình ấy trong cả năm. Vì thế người ta nên tránh đi chúc Tết vào sáng Mùng Một nếu không được gia chủ mời vì sợ sẽ mang đến điều không tốt đẹp gia đình đó.

Kiêng giặt giũ vào Mùng Một và Hai Tết:

Vì ngày sinh của thần Thủy là ngày 1, 2 tháng Giêng Âm lịch, do đó nên tránh giặt quần áo trong hai ngày này để phòng xui xẻo.

Không treo tranh ảnh có nội dung tiêu cực:

Không treo tranh khóc lóc, đánh ghen, tai nạn. Ngược lại nên dùng những bức tranh thể hiện sự may mắn, sung túc như đàn lợn, gà, em bé, vàng bạc…

Kiêng Mở tủ:

Một số gia đình kiêng mở tủ vào ngày Mùng Một Tết do tin rằng mở tủ lấy tài sản tức là “tống tiễn” tài lộc ra khỏi nhà. Do vậy, người lớn thường nhắc trẻ con cần lấy sẵn đồ đạc, quần áo diện ngày đầu năm ra ngoài trước lúc giao thừa.

Kiêng chụp hình hoặc chúc Tết người đang nằm ngủ:

Bởi đây là tư thế của người chết, người bệnh, nên chụp hình hoặc chúc Tết lúc này không khác gì “rủa” họ bệnh tật, chết chóc cả năm. Ngoại trừ trường hợp nằm để tạo dáng chụp ảnh…

Kiêng xuất hành ngày Mùng Năm:

Người Việt thường tin rằng Mùng 5 là ngày nguyệt kỵ không thích hợp cho xuất hành. Chẳng vậy mà ca dao Việt Nam có câu: "Mồng năm, mười bốn, hăm ba. Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn".

Kiêng xõa tóc:

Ở vùng quê Việt Nam và một số gia đình gốc Hoa, người ta kỵ việc xõa tóc của các thiếu nữ. Họ cho rằng tóc xõa rũ rượi gợi lên liên tưởng đến những hình ảnh ma quái, cõi âm. Vì vậy, tốt nhất, vào những ngày này, phụ nữ nên chọn các kiểu tóc buộc, tết, kẹp gọn gàng khi ra đường. Tuy nhiên theo ghi nhận của Tiến sĩ Nguyễn Đệ, tập tục này không phổ biến lắm.
Thi Ngoa

Đồng bào Ê Đê tưng bừng mừng hội xuân

Trong những ngày đầu xuân này, đồng bào dân tộc Ê Đê (tỉnh Đắc Lắc) tạm gác hết việc đồng áng để cùng nhau vui chơi, ăn uống, múa hát mừng lễ "Mời Yàng về ăn cơm mới", kéo dài từ mồng Một tháng Giêng đến hết tháng 3 Âm lịch.

Theo tục lệ của người Ê Đê, mùa lễ hội lớn nhất hàng năm sẽ diễn ra sau khi mùa màng được thu hoạch xong và hoa màu được chất vào kho. Tuy nhiên vài năm trở lại đây, để hòa vào bầu không khí mừng Tết Nguyên Đán truyền thống của toàn dân tộc, các buôn làng Ê Đê cũng tổ chức lễ hội vui xuân diễn ra cùng lúc với Tết Âm lịch của người Việt.
Khi mọi thứ đã được chuẩn bị xong, cẩn thận và đầy đủ, đồng bào sẽ mời thầy cúng được tín nhiệm nhất trong làng để tiến hành nghi lễ. Sau khi mọi người diện quần áo chỉnh tề, tiếng chiêng với nhịp điệu vừa trầm hùng, vừa náo nức nổi lên, thầy cúng thay mặt dân làng đọc lời khấn nguyện để tỏ lòng biết ơn, thành kính các vị thần.
Thầy cúng đang làm các nghi lễ để mời Yàng về nhà gia chủ. Ảnh: Tuấn Kiên.
Lời khấn xin thần vang vọng khắp núi rừng, hòa vào tiếng nước chảy của từng con suối nhỏ: “Ơ Yàng ở phía Đông, Yàng ở phía Tây, Yàng trên mây, Yàng dưới nước, các Yàng đất, Yàng rừng… Yàng đã ban cho chúng tôi mưa thuận gió hòa, cho lúa bắp sinh sôi. Nay tôi suốt lúa một gùi, tôi bẻ bắp một giỏ. Tôi cột ché rượu này mời các Yàng về ăn cơm mới. Rượu này thần uống. Cơm này thần ăn. Mùa sau lại cho chúng tôi chân tay mạnh khỏe, lúa bắp tràn đến nóc đầy khắp nhà. Lời tôi ước xin các Yàng hãy nhận. Lời tôi cầu xin các Yàng hãy nghe. Ơ Yàng!”.
Khi các chóe rượu cần (đã chuẩn bị trước đó cả tháng) được buộc vào vách nhà; Lợn, gà đã mổ thịt xong được bày biện ra đĩa thì thầy cúng hớp một hớp rượu cần hoà vào một bát tiết lợn, rồi trân trọng mời nữ chủ nhân cao tuổi nhất trong gia đình dùng. Sau đó, thầy đi vẩy rượu chúc phúc nơi bếp lửa, cầu thang, kho lúa, dàn chiêng...
Nghi lễ tạ ơn thần linh kết thúc cũng là lúc tiệc vui bắt đầu. Nữ chủ nhân trong gia đình sẽ được thầy cúng mời uống rượu cần đầu tiên, tiếp đó mới đến những người trong họ rồi người trong buôn. Mọi người ăn uống vui chơi, múa hát tự nhiên, thoải mái thâu đêm cho đến khi nào không muốn nữa mới về.
Chị H’Thủy (buôn Súp, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk) tham gia lễ hội này bộc bạch: “Lễ hội này rất quan trọng đối với đồng bào Ê Đê chúng tôi. Những người dự lễ sẽ được mời nối tay trên cần rượu, nghe chiêng, nghe hát Aday (một loại dân ca trữ tình). Trước khi ra về, mỗi người khách còn được chủ nhà biếu một gói thức ăn nhỏ, như sự chia đều may mắn cho mỗi gia đình”.
Cả buôn làng cùng nghe các già làng kể các câu chuyện sử thi về dân tộc mình. Ảnh: Tuấn Kiên
Khi đồng hồ điểm 0 giờ thì các già làng đáng kính trong buôn (thường là người từng trải và tài giỏi) sẽ được mời để kể Khan (khúc tráng ca truyền thống của người Ê Đê). Huyền thoại về những chiến công của các dũng sĩ Đăm San, Đăm Di luôn là niềm hứng khởi và tự hào lôi cuốn sự chăm chú của người dân nơi đây. Cứ thế, ngày hội thỏa thuê trong rượu cần chảy tràn theo tiếng cồng chiêng và những câu hát, điệu múa nhịp nhàng thâu đêm suốt sáng.
Già làng Y Ban Mlô (buôn Trấp, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắc Lắc) cho biết, quy mô của lễ hội đầu xuân này được tổ chức to hay nhỏ, thời gian dài hay ngắn là tùy thuộc vào năng suất vụ mùa vừa qua của mỗi gia đình. Lễ hội chia làm hai phần: Phần một (mồng Một đến mồng Năm tháng Giêng) là "Lễ cúng Yàng"; Phần 2 là "Lễ ăn cơm mới".
Mùa lễ hội đầu xuân không những chỉ là dịp để người Ê Đê tận hưởng thành quả sau một năm lao động vất vả mà còn là dịp để người dân tạ ơn Thần Lúa, Thần Rẫy (các vị thần được coi trọng của dân tộc Ê Đê) đã ban cho mùa màng bội thu. Đến đây, ai cũng có thể vào dự lễ ăn cơm mới. Ai có hảo tâm, tùy hoàn cảnh thì tham gia đóng góp, dù ít hay nhiều, gia chủ cũng trân trọng đón nhận. Điều này làm nên tinh thần cộng đồng gắn bó keo sơn giữa cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Đắc Lắc nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
Để tổ chức lễ mời các Yàng về ăn cơm mới, trưởng buôn hoặc những người già nhất trong làng sẽ phải đứng ra làm chủ trì lễ hội. Theo phân công, những người đàn ông trụ cột trong nhà sẽ lo việc chuẩn bị rượu thịt, mổ bò, mổ heo… Phụ nữ thì lo việc nấu nướng, con cháu thì chặt củi, giã gạo, đi hái lá rừng, còn người già thì lo chuẩn bị áo, váy, khố đẹp nhất trong buôn để dùng cho ngày lễ.
Lễ hội "Mời Yàng về ăn cơm mới" sẽ kéo dài đến hết tháng 3 Âm lịch. Ảnh: Tuấn Kiên.
Anh Y Thái Êban (buôn Trấp, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk) tâm sự: “Đây cũng là dịp để nam nữ thanh niên khoe tài hát đối đáp, làm quen với nhau… Cuộc vui cứ thế kéo dài. Từ nhà này sang nhà khác. Từ buôn nọ đến buôn kia. Cho mãi tận tháng 3, tháng 4 lúc cúng Yàng chuẩn bị cho việc dọn rẫy mùa sau mới chấm dứt". Cũng chính vì lý do này mà mùa lễ của người Ê Đê còn được gọi là “mùa ăn năm uống tháng”
Nhìn nhận lễ hội đầu xuân này một nét văn hóa đặc trưng của người dân tộc Ê Đê, ông Trần Văn Tuấn, Cán bộ Văn hóa buôn Trấp, huyện Cư Mgar còn cho biết thêm: “Lễ mừng cơm mới thực ra không có ngày tháng quy định chính thức. Gia đình nào thu hoạch mùa màng xong sớm, cúng trước, nhà nào thu hoạch xong sau, cúng sau. Thường thì khi chọn được ngày tốt, đẹp trời, thì gia đình gia chủ sẽ thông báo với bà con thân thuộc và bạn bè buôn gần, buôn xa”.
Thanh Thắng - Tuấn Kiên

Người thợ cuối cùng của nghề độc nhất vô nhị

Không chỉ nổi tiếng bởi đạt được nhiều thành công trong nghề, ông còn là người duy nhất nắm giữ ngón tuyệt chiêu ở Việt Nam không còn ai làm được, nghề “đậu” của kim hoàn.
Ở tuổi 79, nghệ nhân dân gian Trần Hữu Nhơn vẫn cần mẫn với những tác phẩm kim hoàn mà theo ông “làm để cho con cháu đời sau!”.

Trong căn nhà nhỏ tọa lạc giữa khu vườn rộng trên đường Đào Duy Anh (thành phố Huế), lão nghệ nhân gây ấn tượng với khách bằng sự tinh nhanh và đôi bàn tay như múa lượn trên từng họa tiết của bức tranh “Chùa Một Cột” bằng chất liệu bạc.
Lão nghệ nhân dân gian Trần Hữu Nhơn đang tỉ mỉ hoàn thành công đoạn cuối của tác phẩm “Chùa một cột” bằng nghề “đậu”. Ảnh: Văn Nguyễn.
Ông bảo cả đời chỉ làm đúng một nghề kim hoàn. “Tác phẩm 'Chùa Một Cột' hoàn thành là cả tâm nguyện của tôi bao năm ấp ủ. Nó tạo cho tôi cảm hứng mạnh mẽ, bởi khi làm nó tôi hướng cả tấm lòng về thủ đô mến yêu, tự hào về dân tộc Việt Nam trường tồn, thịnh vượng”, ông Nhơn nói.
Lão nghệ nhân cho biết, thợ kim hoàn chia làm ba nghề gồm: trơn, chạm và đậu. Trơn là kiểu tạo hình có tính cơ bản mà người thợ nào cũng trải qua và làm được. Chạm là dùng vật nhọn để khắc vẽ lên sản phẩm. Đậu là kỹ thuật kéo sợi kim loại ra từng sợi mảnh như tơ để tạo nên một tác phẩm kim hoàn. Đậu phải làm thủ công chứ không thể bằng máy. Ông Nhơn đã chọn nghề đậu để đeo đuổi.
Ông Nhơn đến với nghề kim hoàn như một sự sắp đặt. Mồ côi cha từ khi lên 4, mẹ đã gửi ông sang nhà ngoại ở làng Minh Hương xã Hương Vinh (Hương Trà, Thừa Thiên - Huế). Được cậu ruột là Hoàng Tấn Ích, một chủ xưởng bạc, truyền dạy nghề, ông bắt đầu làm nghề từ đó.
Để mở mang kiến thức, nâng cao tay nghề, ông Nhơn lên phố xin làm ở tiệm vàng Vĩnh Mậu, một trong ba tiệm vàng nổi tiếng, tập trung thợ giỏi nhất ở Huế lúc bấy giờ. Với sự khéo léo, thông minh, cộng thêm đức tính cần cù, ông được nâng lên hàng thợ cả. Khi tay nghề đã cứng, ông ra riêng và mở hàng kinh doanh vàng bạc mang tên Vĩnh Long.
Đôi bàn tay của ông lão tuổi 79 vẫn điêu luyện trong từng đường nét. Ảnh: Văn Nguyễn.
Với ngón nghề “đậu” độc nhất vô nhị, ông được rất nhiều người biết đến, thuê làm những thứ hàng có độ tinh xảo cao. Ban đêm ông còn mở lớp truyền nghề cho thế hệ trẻ tại nhà. "Hồi đó đâu có máy móc như bây giờ, tất cả công đoạn phải làm bằng tay. Hơi cũng phải dùng miệng thổi qua ngọn lửa đèn dầu vào cho vàng bạc nóng chảy rồi thực hiện kéo sợi hoặc hàn, dát”, ông cho biết.
Hơn 60 năm làm nghề, ông Nhơn đã có hàng trăm tác phẩm tinh xảo được công chúng đón nhận và đánh giá cao. Với riêng ông, tượng Phật bà Quan Âm là tác phẩm tâm đắc nhất. Tác phẩm này đã giành giải nhì trong Hội thi sản phẩm thủ công Việt Nam, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức vào năm 2008.
“Tác phẩm này được tôi dày công thực hiện trong nhiều tháng trời bằng nghề đậu, với công cụ thủ công. Có rất nhiều người đến xem bức tranh này và ngỏ ý mua với giá hàng chục nghìn đôla nhưng tôi từ chối. Bởi nó là đứa con tinh thần đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui và sự may mắn mà không tiền bạc nào có thể mua được”, ông Nhơn nói.
Trong căn phòng khách ấm cúng của ông có đầy đủ bộ sưu tập giấy chứng nhận danh hiệu, nào là bằng chứng nhận danh hiệu nghệ nhân dân gian của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam; bằng chứng nhận sản phẩm thủ công tiêu biểu quốc gia, danh hiệu nghệ nhân Thừa Thiên - Huế… Ông cũng được các nghệ nhân kim hoàn bầu làm tộc trưởng tộc kim hoàn Huế.
Tác phẩm tượng Phật bà Quan Âm của nghệ nhân Trần Hữu Nhơn đoạt giải nhì trong Hội thi sản phẩm thủ công Việt Nam năm 2008. Ảnh: Văn Nguyễn.
Ông Nhơn khẳng định nghề kim hoàn truyền thống không có nhiều lý thuyết hay bí quyết gia truyền như các nghề. Điều ông trăn trở nhất là nghề “đậu” đang đứng trước nguy cơ thất truyền, bởi không chỉ ở Huế mà toàn quốc, ngoài ông ra giờ chẳng ai làm được. Hai người con trai của ông là anh Trần Quang Tuấn và Trần Quang Minh đang nối nghiệp cha làm nghề kim hoàn, nhưng ngón “đậu” tuyệt kỹ của cha, các anh chưa nắm bắt hết.
Mới đây, anh Trần Quang Tuấn, con trai thứ bảy của ông Nhơn đã hoàn thành bức tranh “Bồ Đề Đạt Ma”, làm bằng chỉ bạc tạo hình rất ấn tượng. Nhưng theo ông Nhơn kỹ thuật để làm ra tác phẩm này còn cậy nhiều vào cha. “Tuy nhiên đây là tín hiệu tốt để nó có thể thay tôi nối dài tuổi thọ nghề đậu”, ông Nhơn nói giọng phấn khởi.
Ngoài thời gian dành cho các mặt hàng trang trí, trang sức vàng, bạc, ông Nhơn còn có sở thích nghe nhạc và sưu tầm những bản nhạc xưa, dàn âm thành cổ. Ông có thể ngồi hàng giờ trong phòng để nghe những bản nhạc trữ tình du dương như gợi nhớ về một thời xa vắng.
Nói về những dự định trong năm mới, nghệ nhân Trần Hữu Nhơn tâm sự: “Tới đây, tôi sẽ tiếp tục thực hiện tác phẩm về chùa Thiên Mụ như để cảm ơn mảnh đất kinh kỳ này. Đồng thời tôi sẽ thành lập một phòng trưng bày tác phẩm của mình tại nhà riêng để bạn bè, con cháu có thể đến xem và trao đổi kinh nghiệm mong làm sống dậy nghề đậu”.
Văn Nguyễn

Đi tìm cây đa đại thụ hơn nghìn năm tuổi

Chúng tôi thẳng tiến về Bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) nơi được mạnh danh là “Mắt thần Đông Dương”. Mục tiêu của chúng tôi là khám phá cây đa cổ thụ hơn nghìn năm tuổi. Đường dốc và ngoằn nghèo khiến du khách có cảm giác như bay lên thiên giới. Bạn Triệu Hòa chia sẻ.

Con đường chạy ngược lên lên đỉnh núi Sơn Trà (cao 696 m) có nhiều ngã rẽ để đi, chúng tôi chọn hướng dọc các khu biệt thự nơi mà mùa này sương mờ và con người có thể hoà quyện vào nhau, bên biển rì rào với những ngọn sóng lăn tăn đập vào các thuyền thúng của ngư dân tụ về để lên bờ chuẩn bị cho những ngày Têt ấm cúng bên gia đình.
Trên đường đi có 4 đến 5 cây cổ thụ nhưng tuổi đời nhỏ hơn, độ hoàn thiện không có hoặc nằm sát khu vực biển nên chưa được bảo tồn chu đáo.
cây đa
Cây đa nghìn năm tuổi ở Đà Nẵng. Ảnh: Triệu Hòa.
Cây đa hiện ra trước mắt chúng tôi sừng sững hiên ngang với những tán lá xum xuê, chằng chịt. Cây cao khoảng 20m với nhiều rễ cọc nhánh mọc ra từ tán lá hướng xuống đất khoảng 12m, gồm 9 rễ như vậy. Có bộ rễ có chu vi lên đến 1 m. Hình thế cây như có bàn tay con người tác động, cùng với sự phân bố của các cây nhỏ hơn ở khu vực xung quanh chúng tôi thấy thích thú về sự huyền bí tại khu vực này và muốn khám phá với ý nghĩ đây có thể là nơi để giấu kho báu và được đánh dấu cẩn thận của các bậc tiền nhân!
Sư thầy, sau khi cùng đoàn chúng tôi gom rác khu vực phía trước cây cổ thụ, đã giải thích cho chúng tôi biết thêm: ”Cây đa có từ đời nào không ai hay biết, có thể tuổi đời hơn cả 1.000 năm. Cây có trái nhỏ màu xanh, khi lớn màu vàng và khi chín màu đà”.
Nơi đây còn có tượng Phật tổ để chúng sinh đi du ngoạn chắp tay khấn bái cầu may cầu phước, được hương khói suốt ngày bởi các sư thầy đến từ Chùa Linh Ứng cách khoảng 4 km.
Cảm giác huyền ảo và linh thiêng còn khiến chúng tôi vỡ oà trong ngạc nhiên khi từ gốc cây đa có thể nhìn ngắm Cù Lào Chàm quyện mờ trong mây.
Điều khiến chúng tôi phật lòng nhất là cái thùng rác nằm ngay gốc đa, bên cạnh bức tượng Phật, rác rơi vung vãi. Buồn hơn nữa khi khách tham quan đến đây chỉ biết chụp hình, thắp nhang mà không biết mỗi người mỗi tay ý thức bỏ rác vào thùng. Sư thầy đã phát động cùng chúng tôi gom tất cả các loại rác xung quanh bỏ vào thùng, sau một thoáng đã sạch đẹp và dễ nhìn hơn nhiều. Mọi người trong đoàn đều kiến nghị nên dịch thùng rác này ra xa hơn khu vực tham quan và Tượng Phật để đảm bảo một không gian khám phá lý tưởng và hoài niệm chốn linh thiêng.
Triệu Hoà

Hàng vạn người tri ân anh hùng áo vải Tây Sơn

Mùng 4 và 5 Tết Tân Mão, hàng chục nghìn người đổ về huyện Tây Sơn (Bình Định) dâng hương tưởng nhớ anh hùng áo vải Nguyễn Huệ cùng văn thần võ tướng nhân kỷ niệm 222 năm chiến thắng Ngọc Hồi- Đống Đa.

Tại buổi lễ, lãnh đạo tỉnh Bình Định cùng các địa phương lân cận đã dâng hương, hoa trước tượng đài Hoàng đế Quang Trung, Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, tưởng nhớ công đức của ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cùng các Văn thần Võ tướng.

Tái hiện hình ảnh Nghĩa quân Tây Sơn hừng hực khí thế thần tốc hành quân ra kinh thành Thăng Long đánh tan quân Thanh. Ảnh: Trí Tín
Nhân dịp này, du khách được xem các nghệ sĩ biểu diễn võ cổ truyền Tây Sơn, trống trận, nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, tái hiện hào khí Nghĩa quân Tây Sơn thần tốc hành quân đánh tan quân Thanh.
Vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, hàng vạn binh sĩ áo vải cờ đào của nghĩa quân Tây Sơn xuất binh từ Nghệ An đã thực hiện cuộc hành binh thần tốc ra kinh thành Thăng Long đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược.

Ảnh tái hiện hào khí nghĩa quân Tây Sơn thấn tốc hành quân

Tái hiện hình ảnh nghĩa quân Tây Sơn hừng hực khí thế thần tốc ra kinh thành Thăng Long đánh tan quân Thanh.
Hình tượng Hoàng đế Quang Trung- Nguyễn Huế ngồi trên voi chiến tổng chỉ huy Nghĩa quân Tây Sơn.
Voi trận đi giữa rừng cờ xí ngợp trời.
Phút đăng quang của hoàng đế Quang Trung
Chiến thắng khải hoàn mùa xuân năm 1789.
Các bạn trẻ chụp ảnh lưu niệm tại Bảo tàng Quang Trung ở thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn(Bình Định).
Trí Tín




Người Hà Nội chen chân dự hội gò Đống Đa

Sáng 7/2 (mùng 5 Tết), trong tiết trời nắng ấm, hàng nghìn người dân Hà Nội đã tham dự lễ hội gò Đống Đa, tái hiện chiến thắng lịch sử hơn 200 năm trước của vua Quang Trung.
> Trò chơi dân gian thu hút du khách ngày Tết/ Giới trẻ nô nức xin chữ đầu năm

Hàng nghìn người dân đã về dự lễ kỷ niệm 222 năm vua Quang Trung đánh tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng thành Thăng Long (1789), tại công viên Đống Đa (Hà Nội) sáng 7/2 (mùng 5 Tết).
7h sáng các đoàn rước khăn áo chỉnh tề, rực rỡ màu sắc, lần lượt tiến về dưới chân tượng đài vua Quang Trung.
Dâng ngũ quả làm lễ tế người anh hùng áo vải.
Quang cảnh rước kiệu vua Quang Trung trên đường phố trước khi tiến vào gò Đống Đa.
Sử sách để lại về chiến tích lịch sử của vua Quang Trung, nhà vua cho quân thu nhặt xác giặc xếp vào 12 cái hố rộng, lấp đất chôn và đắp cao thành gò nhằm biểu dương chiến công của quân và dân.12 gò này nằm giải rác từ làng Thịnh Quang đến làng Nam Đồng, trên các gò cây cối mọc um tùm nên có tên là Đống Đa.
Năm 1851, do mở đường mở chợ, đào xẻ nhiều nơi thấy nhiều hài cốt, lại cho thu vào một hố cao lên nối liền với núi Xưa, thành gò thứ 13, tức là gò còn lại hiện nay. Còn 12 gò khác đã bị phạt đi trong thời gian người Pháp mở rộng Hà Nội năm 1890.
Vào mỗi dịp mùng 5 Tết, nơi đây lại tưng bừng mở hội với các tiết mục tế lễ, trình diễn múa, hát và võ thuật dân tộc để ghi nhớ công lao của người anh hùng áo vải.
Hình ảnh nhân dân ta bị quân giặc đàn áp không thể nào quên được tái hiện trên sân khấu.
Màn sử thi người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ và đội quân Tây Sơn với trận chiến vang dội Ngọc Hồi - Đống Đa. Vở kịch do các nghệ sĩ Nhà hát Chèo Hà Nội trình diễn.
Ngoài các tiết mục tế lễ, biểu diễn, người dân tham dự lễ hội còn tham gia các hoạt động vui chơi khác như chơi trò chơi dân gian, nặn tò he, khắc họa chân dung...
Clip : Tái hiện cảnh nhân dân ta bị giặc Thanh đàn áp
Hoàng Hà

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011

"Cá thần" xứ Thanh vui đùa cùng du khách


Theo tài liệu của các nhà ngư loại học, đàn cá hàng nghìn con lớn, nhỏ ở suối cá thần Cẩm Lương gồm các loài là: cá dốc (tên khoa học là Spinibarbichthys denticulatus- thuộc bộ cá chép, có tên trong sách đỏ Việt Nam), cá chài, cá mại. Hình thù các loài cá này rất lạ, màu sắc phong phú như: đỏ, xanh, hồng... Mỗi khi bơi, thân cá phát sáng nhiều màu sắc, lấp lánh ánh bạc rất ấn tượng, thú vị.
Khu du lịch sinh thái suối cá Cẩm Lương ở bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện miền núi Cẩm Thủy, cách TP Thanh Hóa gần 100 km về phía tây bắc đã và đang thu hút rất đông du khách đến tham quan. Đây là khu du lịch sinh thái độc đáo nhất xứ Thanh, hiếm có ở nước ta, vì suối cá Cẩm Lương là hiện tượng thiên nhiên kỳ thú có từ xa xưa.
Câu chuyện về suối "cá thần"
Đồng bào dân tộc Mường ở bản Ngọc có nhiều chuyện kể về sự ra đời, tồn tại của suối cá thần này. Có một câu chuyện kể rằng: Ngày xưa, nơi bản Ngọc thời khai thiên, lập địa, vào một năm nọ thời tiết hạn hán quanh năm, người dân túng đói. Một hôm, có hai vợ chồng trong bản hiếm muộn con đi làm đồng vô tình nhặt được một quả trứng có hình thù lạ. Người vợ đem quả trứng ra suối Ngọc thả xuống nước.
Nhưng lạ thay, khi nhấc tay lên người ấy lại thấy quả trứng đang trên tay mình. Hai vợ chồng quyết định đem quả trứng lạ đặt vào ổ gà đang ấp, quả trứng nở ra một con rắn. Sợ quá, người chồng đem con rắn ra suối Ngọc thả, nhưng cứ đến tối con rắn lại về ở với gia đình này. Sau đó họ để con rắn ở lại sinh sống với người.
Từ đó, đồng ruộng của bản đủ nước cày cấy, đồng bào sống trong no ấm, hạnh phúc. Chàng rắn ấy trở thành vị cứu tinh của bản, nên được mọi người tôn kính. Một hôm, trời nổi cơn giông, sấm chớp. Sau cơn giông, dân bản thấy xác chàng rắn nằm bên chân núi Trường Sinh, đầu hướng về bản Ngọc.
Vì rất thương tiếc chàng rắn, dân bản Ngọc chôn cất chàng bên chân núi, lập đền thờ gọi là Ngọc Từ. Trong một buổi tế lễ, đồng bào bản Ngọc được thần báo mộng chàng rắn chết là do quyết chiến với thủy quái để bảo vệ dân bản. Sau này, chàng rắn được phong thần gọi là: Tứ Phủ Long Vương.
Từ đó, ở suối Ngọc bên chân núi Trường Sinh xuất hiện đàn "cá thần" hàng nghìn con luôn quây quần chầu trước đền Ngọc Từ để hầu hạ chàng rắn. Suối "cá thần" Cẩm Lương có từ đó cho đến nay.
"Cá thần" vui đùa cùng du khách
Theo tài liệu của các nhà ngư loại học, đàn cá hàng nghìn con lớn, nhỏ ở suối cá thần Cẩm Lương gồm các loài là: cá dốc (tên khoa học là Spinibarbichthys denticulatus- thuộc bộ cá chép, có tên trong sách đỏ Việt Nam), cá chài, cá mại.
Hình thù các loài cá này rất lạ, màu sắc phong phú như: đỏ, xanh, hồng... Mỗi khi bơi, thân cá phát sáng nhiều màu sắc, lấp lánh ánh bạc rất ấn tượng, thú vị.

Lễ rước "cá thần" bên suối Cẩm Lương. Ảnh: A.B
Đàn cá này rất thân thiện với con người. Hàng ngày, đàn cá tung tăng bơi lội dưới dòng suối, nhảy lên khỏi mặt nước vui đùa cùng du khách. Đến cuối ngày, đàn cá lại bơi vào hang trú ẩn.
Vào mùa nước cạn, lòng suối Ngọc chỉ sâu khoảng 30- 40cm, nước trong vắt, du khách có thể đưa tay xuống nước vuốt ve những con cá to như bắp chân, bắp tay. Đây là điều kỳ thú, hấp dẫn, thu hút hàng chục nghìn lượt du khách đến với suối cá thần Cẩm Lương hàng năm.
Hiện nay, trên địa bàn xã Cẩm Lương còn giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyên sinh với các loài động, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, thuộc dãy núi đá vôi Pù Luông- Cúc Phương. Đồng bào dân tộc Mường bản địa với những nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống như: dệt thổ cẩm, uống rượu cần, múa Pồn Pông... sẽ là điểm nhấn để thu hút du khách.
Đặc biệt, dọc dãy núi Trường Sinh hiện còn có nhiều hang động nguyên sơ, kỳ bí chưa được khám phá.
Du khách đến với suối cá Cẩm Lương vào dịp mùa xuân, từ mùng 8 đến 12 tháng giêng âm lịch hàng năm sẽ được dự lễ hội khai hạ - một lễ hội độc đáo nhất của đồng bào dân tộc Mường bản địa. Theo quan niệm của người dân địa phương, lễ hội rước thần cá (còn gọi là lễ hội khai hạ đầu xuân) có từ xa xưa, được đồng bào dân tộc Mường ở xã Cẩm Lương bảo tồn, lưu giữ khá nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Lễ hội này được tổ chức trang trọng, hoành tráng, với ước nguyện của người dân địa phương là cầu cho mưa thuận, gió hòa, mọi người khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt. Mở đầu lễ hội là phần rước thần cá từ suối Ngọc đưa về sân vận động của bản để làm lễ khai mạc, báo công với thành hoàng về một năm lao động sản xuất của đồng bào địa phương và những dự định của năm mới. Sau đó, thần cá tiếp tục được đưa ra đền thờ ngay chân núi Trường Sinh để cúng tế.
Phần hội của lễ hội này với những trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc Mường nơi đây như: ném còn, chơi đu, đẩy gậy, kéo co và nhiều hoạt động văn hóa- văn nghệ như hát xường, ru Mường, múa Pồn Pông...
UBND tỉnh Thanh Hóa đã và đang đầu tư hàng chục tỉ đồng xây dựng khu du lịch sinh thái suối cá Cẩm Lương, với nhiều hạng mục như: nhà sàn văn hóa dân tộc Mường để tiếp đón du khách, các công trình bảo vệ suối cá thần, khu dịch vụ du lịch, khu sản xuất các sản phẩm đồ thổ cẩm để phục vụ du khách... nhằm đưa nơi đây trở thành địa chỉ du lịch trọng điểm, hấp dẫn của xứ Thanh.
AN BÌNH
(nguồn SGTT)