Thứ Tư, 9 tháng 2, 2011

Bánh giầy trong cỗ tết người Mông

TTO - Không có nhân thịt lợn trộn đậu xanh như bánh chưng của người Kinh, chiếc bánh giầy được người Mông làm chỉ có gạo nếp nương được giã nhuyễn mà vẫn thơm phức, ngọt bùi. Đây là một món bánh không thể thiếu trong dịp lễ tết của người Mông. 
Những chiếc bánh giầy hoàn chỉnh được bày trên mẹt tre, đặt cạnh ban thờ để thờ tổ tiên và trời đất - Ảnh: Tiến Thành

Cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) những ngày này hoa mận, hoa đào đã chớm nở trên khắp các nẻo đường tới bản làng báo hiệu mùa xuân về. Tết của người Mông năm nay đúng ngày 5-1 (mồng 1 tháng 12 âm lịch).
Từ chiều 30 tết, bản Pa Kha (xã Loóng Luông, Mộc Châu) đã nhộn nhịp tiếng chày giã bánh giầy, một món bánh không thể thiếu trong dịp lễ tết của người Mông. Tìm hiểu về món bánh này, chúng tôi đã theo chân chị Sồng Thị Mỹ (32 tuổi) khi nhìn thấy chị đang vác trên người một máng gỗ về nhà.
Người Mông quan niệm hai cái bánh giầy tròn tượng trưng cho Mặt trăng, Mặt trời - là nguồn gốc sinh ra con người và muôn loài trên Trái đất. Vì thế trong những ngày tết của người Mông không thể thiếu món bánh này.

Căn nhà chị mờ khói vì đang đun nồi gạo nếp. Cái máng gỗ được đặt ở giữa nhà. Hai chiếc chày gỗ được xếp gọn trong máng để chực giã.
Tranh thủ đợi nồi cơm nếp chín, chị Mỹ lau từng tàu lá chuối và chiếc mẹt cho sạch. Lũ trẻ con trong bản nháo nhác, đùa vui chờ xem người lớn giã bánh giầy. Còn chúng tôi cũng thấy lạ lẫm và hồi hộp vì lần đầu tiên được chứng kiến cảnh làm bánh giầy của người Mông vào đúng dịp tết.
Sau hai giờ đun, cơm nếp cũng chín. Chị Mỹ nhanh tay dùng thìa xới và đổ vào máng gỗ. Bốn người đàn ông khỏe mạnh cùng phụ giúp chị thay nhau giã. Tiếng chày gỗ vang lên bồm bộp, bình bịch, êm ru và dứt khoát từng hồi. Cứ một hồi giã, mọi người lại thay phiên nhau, lúc thì hai nam hai nữ hoặc cả nữ và nam. Hết giã lại chuyển sang siết bánh cho chặt và nhuyễn.
Mùi bánh tỏa hương thơm phức. Trẻ con đứng bên ngoài tíu tít, chạy quanh cổ vũ. Càng về cuối, mọi người giã càng đều và mạnh tay. Khi cơm nếp đã nhuyễn, láng lòng trắng trứng gà và không dính thì được đổ ra mẹt. Cứ thế chỉ sau gần một giờ với hai lần giã, nồi cơm nếp cũng cạn đáy.
Vừa đổ cơm nếp vào máng vừa giã bánh - Ảnh: Tiến Thành
Khi bánh nhuyễn sẽ được bốc sang mẹt tre - Ảnh: Tiến Thành
Chị Sồng Thị Mỹ cùng con trai Mùa A Lếnh nặn bánh giầy - Ảnh: Tiến Thành

Chị Mỹ cùng con trai Mùa A Lếnh (15 tuổi) nặn và gói bánh. Mẹ nặn, con gói. Từng chiếc bánh ban đầu như quả địa cầu nhỏ xinh, rồi được ép dẹt trên tàu lá chuối. Chốc chốc, hai mẹ con đã làm xong mấy chục chiếc, chất đầy những chiếc bánh xanh trong chiếc mẹt tre.
Nở một nụ cười tươi rói, chị Mỹ mời chúng tôi thử một chiếc bánh. Tò mò và thưởng thức một miếng, thấy vị dẻo và thơm nức trong cuống họng. Thật lạ, chiếc bánh không có gia vị nhưng khi ăn lại không thấy nhạt mà chỉ thấy vị béo, vị bùi.
Và lạ hơn khi trên đường về Hà Nội đầy sương mù và gió lạnh, nhưng cặp bánh mà chị Mỹ biếu vẫn không bị đông cứng, trái lại đượm mùi nếp nương, mùi lá chuối non và đem rán thì bánh nở phồng, thơm ngon, ăn mà không thấy chán.
TIẾN THÀNH 
    Họ và tên

    Món tré ngày tết

    TTO - Người quê tôi thường làm tré vào dịp tết hay giỗ chạp. Món tré thơm phức được ba mẹ tôi mang biếu ông bà hoặc đãi bạn bè từ lâu đã là món đặc sản trong văn hóa ẩm thực của người dân miền Trung.
    Tré bày ra đĩa trông thật ngon mắt

    Những ngày này quê tôi đã trẩy lên không khí đón tết. Đâu đâu trong xóm cũng phảng phất mùi mứt dừa, mứt gừng cay nồng. Cả làng trên xóm dưới mới sáng tinh mơ đã í ới gọi nhau đi chia thịt heo. Người bắt heo, kẻ làm thịt, tiếng nói cười râm ran một vùng quê… Các bà, các chị hồ hởi đi tìm lá chuối, lá bưởi… rồi lăng xăng, rục rịch rủ nhau gói tré.
    Mẹ bảo tré ngon trước hết ở khâu chọn thịt. Thịt heo mẹ đi chia về, phân từng loại. Thịt đùi dùng để luộc dầm nước mắm, thịt ba chỉ để xíu xì dầu… Riêng phần thịt đầu, tai, da mẹ rửa thật sạch làm tré. Trong khi chờ thịt luộc chín, mẹ lục đục giã tỏi, tiêu, riềng thật nhỏ. Thịt vừa chín tới, vớt ra để nguội rồi xắt lát.
    Công đoạn xắt thịt cũng là một “nghệ thuật”, phải xắt sao cho thật mỏng, thật ngon mắt. Thịt xắt xong cho các loại riềng, tiêu, mè, muối… đúng liều lượng, vừa ăn, sau đó mang ướp chừng nửa tiếng.
    Khâu chuẩn bị trước khi gói tré cũng thật kỳ công. Ba được giao nhiệm vụ chẻ từng sợi lạt. Lạt làm từ thân cây giang hái ngoài rừng được vuốt thật mỏng để buộc tré. Tôi ngồi lựa những chiếc lá bưởi non, rọc từng tờ lá chuối đem phơi dưới nắng cho dịu.
    Tré muốn gói to hay nhỏ tùy ý nhưng thường mẹ tôi hay gói thành đòn. Bao giờ cũng vậy, mẹ phải bọc trước bằng lá bưởi non để tạo mùi thơm. Xé lá chuối thành từng miếng có bản rộng bằng chiều dài miếng thịt, quấn lớp lá chuối nhiều vòng quanh lá bưởi. Kế tiếp dùng một miếng lá chuối lớn bằng bàn tay quấn tròn kín thịt, bẻ gập chéo hai đầu lá xuống là được một đòn, sau đó lấy dây lạt buộc chặt.
    Mẹ cẩn thận ủ thêm một ít rơm rạ. Vài ngày sau là có thể sử dụng.
    Tuy khác về cách chế biến những cũng như nem, món tré hội tụ đủ ngũ vị: mặn, ngọt, chua cay và vị chan chát thích thú của lá ổi non. Dưới bàn tay khéo léo của mẹ, những chiếc tré sẵn sàng cho ngày tết, trước tiên được đặt lên bàn thờ cúng ông bà, sau đãi khách làm mồi lai rai nhậu mỗi khi đến chúc xuân.
    PHAN THỊ THANH LY

    Mứt quất Hội An

    TTO - Với cách chế biến công phu, hương vị độc đáo, từ lâu mứt quất Hội An đã trở thành đặc sản ngày tết cho vùng đất này, được nhiều người ưa chuộng.
    Đĩa mứt quất Hội An dân dã - Ảnh: Thanh Ly 

    Các món ăn ngày tết bao giờ cũng không thể thiếu món mứt, một món ăn được chế biến từ các loại củ, quả vốn rất quen thuộc trong vườn nhà. Thôi thì đủ loại: mứt gừng, mứt dừa, mứt khoai lang, mứt bí, mứt hạt sen... và mứt quất Hội An cũng không loại trừ.
    Một năm cây quất đơm hoa kết trái ba lần, thường hai lần đầu người ta hái bỏ hết chỉ để lại lứa ra lần thứ ba. Đến độ tháng 6 âm lịch trái bắt đầu lớn dần và chín đúng vào dịp tết. Trong cái lạnh se se của tiết trời tháng chạp, hàng trăm gốc quất nơi miền đất cát trắng bắt đầu đua hương khoe trái vàng rực.
    Cái mùi hương nồng nồng, cay cay, thoang thoảng trong gió báo hiệu một mùa xuân nữa lại về. Lúc bấy giờ, người ta đi giữa bạt ngàn vườn quất, hái từng rổ quất vàng ươm - kết quả lao động sau một năm vật lộn với nắng mưa khắc nghiệt của xứ đất miền Trung. Ngoài việc dùng quả để ăn hằng ngày, làm nước giải khát, nấu xirô… quất còn để làm mứt.
    Mứt quất có tác dụng kích thích tiêu hóa, làm ngon miệng, chữa ho thì nó còn giúp giải rượu bia sau những giây phút quá chén với bạn bè trong mấy ngày vui xuân.  
    Từ lâu mứt quất đã trở thành đặc sản của Hội An, được nhiều người ưa chuộng dù trên thị trường hiện nay có đa dạng các loại mứt. Chính vì vậy nhiều người dân Hội An đặt mua hay tự làm mứt quất không chỉ để tiếp khách trong mấy ngày tết mà còn làm quà gửi cho những người bạn, người thân nơi phương xa. 
    Để có thẩu mứt quất vừa ngon lại đẹp mắt đòi hỏi sự kỳ công ngay từ khâu chọn quả. Quất làm mứt là loại được trồng ngoài vườn, không phải quất cảnh. Quất hái về, chọn những quả tròn đều, không quá chín. Dùng dao gọt mỏng lớp vỏ bên ngoài thật khéo léo để không ăn sâu vào phần phía trong làm quả quất bị giập, mất đẹp.
    Một bí quyết giúp quả quất cứng, không nát là ngâm với nước vôi trong vài tiếng (nếu để lâu quá mứt sẽ nồng mùi vôi) sau đó vớt ra rửa sạch nước vôi, luộc chín khoảng 8-10 phút. Công đoạn tiếp đến là dùng kim châm nhiều lỗ vào tất cả các múi quất, ép cho nước và hạt bắn hết ra. Rửa lại quất cho thật sạch để ráo nước rồi mới đem trộn đều với lượng đường vừa phải. Để vài tiếng đồng hồ cho đường ngấm vào quất, bắc nồi lên bếp, đun nhỏ lửa.
    Nấu mứt chính là công đoạn quyết định chất lượng, nếu lửa quá già hay quá non có thể làm cho cả mẻ mứt bị hỏng. Bên cạnh đó, trong quá trình đun lửa người làm mứt phải nhanh tay đảo mứt qua lại cho khỏi cháy. Khi thấy nước đường bám vào quả quất trong suốt thì tắt lửa, bắc nồi ra ngoài, gắp quả quất ra thau để nguội.
    Món mứt quất này người ta gọi là mứt quất tươi vì màu sắc của nó hoàn toàn giống với màu của quả quất tự nhiên trong vườn.

    Mứt quất khô - Ảnh: Thanh Ly

    Để bảo quản và có thể sử dụng trong thời gian lâu người ta còn chế biến món mứt quất khô. Công đoạn làm cũng như trên song người chế biến phải rim cho nước đường keo hơn, lúc ấy gắp mứt ra sàng phải rắc thêm ít đường trắng lên trên quả cho mau khô, khi nguội quả mứt quất sẽ có một lớp đường bọc ngoài.
    Thời gian nấu mứt quất còn phụ thuộc cả thời tiết. Nếu trời hanh khô thì thời gian nấu mứt có thể bớt chút ít, còn nếu gặp thời tiết ẩm, mưa nhiều thì thời gian nấu phải tăng lên.
    Khi ngậm miếng mứt quất vào miệng để thưởng thức, cái vị ngòn ngọt, the the, tê tê ngay từ khi chạm vào đầu lưỡi như tạo một cảm giác ấm nồng giữa tiết trời xuân se lạnh thật là tuyệt vời không gì bằng!

    Bánh bèo Huế trong mắt WSJ

    TTO - Cây bút John Krich của tờ nhật báo Wall Street Journal (WSJ) chia sẻ với bạn đọc một cái nhìn toàn cảnh về ẩm thực Huế, đặc biệt là món bánh bèo nổi tiếng đất cố đô.
    Trong tất cả các món bánh mà người ta dùng để nhâm nhi giữa các bữa ăn chính trong ngày, thì bánh bèo Huế - cùng những phụ gia không thể thiếu đi kèm, là nước mắm và tôm nõn, được tờ WSJ đánh giá là xứng đáng đứng ở "tầm vương giả".
    Ảnh minh họa: Internet

    Lịch sử
    Cái tên “bánh bèo” thoạt nghe có thể được hiểu là “bánh làm từ cây bèo”, hoặc chính xác hơn cả là “bánh hình bèo”. Loại thực vật đang được nói đến ở đây là một giống cây thủy sinh lá tròn xuất hiện đầy rẫy trên các ao hồ khắp thành phố, được giới họa sĩ chuyên vẽ phong cách khắp xứ Huế thanh nhã và quý phái đặc biệt ưa thích.
    Đúng như tên gọi của mình, chiếc bánh bèo có hình dáng mỏng và tròn, được nhào trộn từ bột gạo và bột sắn. Người dùng sẽ thưởng thức món ăn trong những chiếc chén nhỏ kiêm vai trò của khuôn đúc tạo hình cho chiếc bánh, tôm nõn xé nhuyễn và bì lợn chiên giòn đóng vai trò vừa là vật trang trí, vừa làm tăng thêm khẩu vị cho món ăn. Tất cả được dung hòa bằng một chút nước mắm dưới lên trên bề mặt chiếc bánh.
    Nhưng cũng có nhiều thắc mắc về xuất xứ của món ăn được nhận là “vương giả” này, thứ danh hiệu được gán ghép cho rất nhiều thứ khác tại nơi chốn đã chứng kiến triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.
    Bội Trân, một họa sĩ địa phương nổi tiếng, kiêm bếp trưởng, thì cho rằng không phải như vậy: “Bánh bèo chỉ là một món ăn bình dân”. Còn đối với cô Trần Thị Bảo Ngân, có gia đình làm ra hàng trăm chiếc bánh bèo mỗi ngày tại nhà hàng bánh bèo Hương Cung An Định, nhận xét: “Các nhà vua Huế xưa hẳn rất ưa thích món ăn giản dị mà tinh tế này.”
    Bên cạnh đó, cũng có người khẳng định rằng bất kỳ món ăn nào có cách trình bày được gói trong hoặc đặt lên lá chuối hẳn phải có nguồn gốc từ nền văn hóa Chăm cổ đại, vốn từng một thời rất hưng thịnh ở miền Trung Việt Nam.
    Bối cảnh
    Thời xưa, có lẽ bánh bèo đã được bán trên những gánh hàng rong được người bán quẩy quang đi khắp thành phố. Ngày nay, cách tiếp cận khách hàng tạm bợ như thế hầu như đã không còn được trông thấy thường xuyên, các quầy hàng nhỏ hiếm khi rời khỏi đường phố, một số thì bày biện đầy đủ bàn ghế, còn một số khác nữa thì chỉ với những trang bị tối thiểu cũng đủ để gắn kết người Việt với phong cách và thói quen ăn uống ngoài hè phố của họ.
    Thậm chí bánh bèo sẽ trở thành món ăn được quảng cáo trên các bảng hiệu và mái hiên. Món ăn thường được dọn ra với 12 chiếc một lúc và nằm giữa những món cuốn và bánh khác, người ta có thể thưởng thức bánh bèo vào bất cứ lúc nào trong ngày, đặc biệt hoàn hảo như một món quà sáng hay lót dạ sau một đêm say sưa. Nhưng người Huế chuộng dùng bánh bèo nhất là vào lúc sau 3 giờ chiều trở đi, nếu thực khách quá say mê đến mức nhỡ ăn quá nhiều, bánh bèo có thể trở thành món chính trong bữa tối.
    Trong số vô vàn loại bánh truyền thống nơi đây còn có bánh ướt, là những chiếc bánh làm từ bột gạo cực mỏng với hành khô được rải lên bề mặt; bánh nậm, một đặc sản khác của Huế, làm từ bột gạo nhão và nướng trong lá chuối; và bánh ram ít, món ăn nhanh giàu cholesterol với bột gạo nhào chung với mỡ lợn. Tất cả đều có thể được dùng với mọi đồ uống tùy sở thích, nhưng được nhiều người ưa chuộng hơn cả vẫn là một tách trà ướp lạnh với gừng.
    Đánh giá
    Như những gì được ghi trong menu của một nhà hàng, “Xin mời! Hãy thưởng thức hương vị đặc biệt của xứ Huế trong từng miếng Bánh Bèo”.
    Sự hài hòa của mọi thành phần trong một chiếc bánh bèo có thể được cảm nhận chỉ bằng một miếng cắn duy nhất: vị mềm mại nhưng không quá dai của bột hấp (được làm mịn bằng một chút mỡ), vị tươi mới của thịt tôm (sẽ tuyệt nhất nếu được làm từ loại tôm đánh bắt từ khu đầm gần đó), sự giòn tan của những vụn bì lợn chiên giòn, và điểm nhấn quan trọng nhất của món ăn địa phương này chính là thứ nước chấm độc nhất vô nhị được rưới lên mọi thứ, nơi mà sự kết hợp giữa nước mắm và đường đã tạo nên một thứ hương vị thơm ngon phảng phất, mà đó lại không phải mùi của cá, đường hay tôm khô.
    Nhưng để khiến cho những đặc trưng hấp dẫn này có thể lôi cuốn được những thực khách nhiệt thành nhất, hướng dẫn viên người địa phương Phan Quốc Vinh nhắc nhở, “Đây là thứ mà các bạn có thể gọi là đồ ăn ngon của chúng tôi, món ăn mà chúng tôi vẫn luôn ưa thích từ khi còn là những đứa trẻ.”
    Ăn ở đâu?
    Bánh bèo Bà Cư, 93/5 Phan Đình Phùng và bánh bèo Hương Cung An Định, 93/9 Phan Đình Phùng là hai cửa hàng ngoài trời khiêm tốn nằm dọc theo con hẻm cạnh dinh An Định đã được trùng tu trong một khu vực hiện đại hơn của thành Huế, tọa lạc ở phía Nam kinh thành Huế và sông Hương. Riêng với Hương Cung An Định, thực khách hãy ráng đến sớm, nhòm vào gian bếp lớn, để được dịp quan sát toàn bộ công đoạn pha trộn, nhào bột và tạo hình mọi loại bánh phổ thông xứ Huế.
    Quán Hàng Me, số 45 đường Võ Thị Sáu là một trong ba điểm đến nổi tiếng của thực khách, là hai gian hàng sát cạnh nhau, trên một con đường gần khu vực có nhiều du khách “Tây ba-lô” của trung tâm thành phố Huế. Vấn đề vệ sinh và việc quảng cáo có vẻ đã có nhiều tiến bộ, ở đây đã có thực đơn viết bằng tiếng Anh. Nhưng bánh bèo tại đây có vẻ không được mới cho lắm.
    THÚY QUỲNH (Theo Wall Street Journal

    Thịt nướng ống tre ngày tết

    TTO - Ngày tết thịt, bánh nhiều nên dễ có cảm giác ngấy. Người dân Tây nguyên quê tôi có món thịt nướng ống tre thơm ngon đậm đà không làm ngán miệng. Ngày tết thịt nướng ống tre càng được nhiều người thích vì thịt sẵn, dễ làm.
    Những ống tre thịt nướng - Ảnh: L.Q.T. 

    Thịt nướng ống tre có lẽ là dấu hiệu của sự giao thoa văn hóa giữa người Kinh với đồng bào Êđê vì nó giống với cách nấu cơm của người Êđê xưa kia. Gọi là nướng nhưng cũng giống như hấp. Ống lồ ô, một cây họ tre được lựa chọn loại lớn, cắt ra từng đốt để lại mắt tre một đầu ống. Pha phách thêm một chút "hiện đại", để ống không cháy khi nướng người ta cuốn một lớp giấy bạc quanh phần giữa ống tre.
    Thịt heo xắt lát mỏng, ướp gia vị vừa miệng, thêm ít gừng xắt lát nhỏ và vài lát riềng. Bỏ thịt vào ống tre, một đầu ống được nút bằng lá chuối tươi rồi cho ống lên bếp lửa than. Người thạo làm món biết khi thịt chín mà lấy ra chứ không mở ra nếm vì như vậy mất đi hương vị của món thịt nướng ống tre.
    Người ta cho rằng món ăn này thơm ngon một phần vì được nướng trong ống tre kín, hương thơm của thịt và gia vị không bị bay đi mà thấm trở lại thịt nên mới ngon như vậy. Khi ăn, thịt nướng ống tre thường ăn với dưa leo và rau thơm. Đĩa dưa leo bày sẵn ra mâm, ống tre nướng thịt còn nóng hổi được mang lên tận bàn mới rút nút lá chuối đổ vào đĩa.
    Ngay khi cho thịt ra đĩa mọi người đã cảm nhận được vị ngon của món ăn này nhờ mùi thơm của thịt, của gia vị và củ riềng. Khi ăn mới cảm nhận hết vị ngon và chắc chắn không phải hương thơm đánh lừa.
    Thịt nướng ăn kèm rau sống - Ảnh: L.Q.T.

    Vị ngon của món thịt nướng ống tre đã làm cho món ăn này có mặt trong các đám tiệc sang trọng và là món ăn của nhiều hàng quán ở thành phố. Người nhà quê, nhất là dân vùng Tây nguyên hầu như nhà nào cũng có bụi gừng, khóm riềng. Thịt heo thì ngày tết không thiếu nên những ngày gáp tết nhiều người tìm vài ống lồ ô chuẩn bị làm món ngon ngày tết.
    Khách đến nhà được chủ mời món thịt nướng ống tre như mời cả hương vị miệt vườn trong từng lát thịt thơm ngon cùng với lồng lộng nắng gió cao nguyên qua chút cay cay của gừng tan trong hương thơm của riềng. Chủ khách mời nhau chung rượu gạo gọi là chúc phúc cầu may vừa như một cách làm cho món ăn này có đủ hương vị ruộng đồng quê nhà.
    Tết nay cũng như bao tết khác, cảm giác ngán thịt đến từ hôm làm thịt heo cúng tất niên. Nhìn cành mai rừng nở vàng bất chợt thoảng nghe hương thơm của món thịt nướng ống tre. Và, cũng rất nhanh cảm giác ngán thịt heo ngày tết không còn nữa.
    LÊ QUANG THỌ

    Nem Lai Vung vào vụ tết

    TTCT - Huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp từ lâu đã nổi tiếng với hai đặc sản: quýt hồng và nem chua. Nem chua Lai Vung được làm bằng thịt heo nạc mới ra lò và da heo trộn thính, có màu đỏ hồng.
    Trước đây nem được gói bằng lá vông, bên ngoài bọc lá chuối nhưng lá vông ngày càng ít đi nên từ năm 1995 nem được gói bằng nilông, song có kèm một lá chùm ruột để tăng thêm hương vị, bên ngoài vẫn bọc lá chuối. Nem sau khi gói xong chỉ qua một ngày đã bắt đầu lên men, đến ngày thứ ba là đủ độ chín và ăn được.
    Ở Lai Vung hiện có hơn 20 cơ sở sản xuất nem như Giáo Thơ, Út Thắng, Thanh Xuân, Ba Liêm, Cô Hoàn... Những ngày giáp Tết Tân Mão, về Lai Vung mới thấy không khí chộn rộn, tất bật của các lò nem.
    Theo chị Nguyễn Thị Kim Hoàn, chủ lò nem Cô Hoàn, ngày thường cơ sở này chỉ sản xuất khoảng 6 thiên nem (1 thiên = 1.000 cái), nhưng những ngày cuối năm số lượng nem ra lò đã tăng gấp đôi mới đáp ứng hết nhu cầu của người tiêu dùng. Nem bán tết nhưng giá không tăng: vẫn 15.000 đồng/chục.
    Lá chuối để bọc ngoài

    Máy xắt da heo thành cọng nhỏ
    Chỉ riêng cơ sở Cô Hoàn một ngày cần khoảng 6kg lá chùm ruột để gói nem - Ảnh: Hoàng Thạch vân
    Gói nem bằng nilông, mỗi chiếc nem có một lá chùm ruột cho thơm
    Nhãn hiệu cơ sở được dán vào chiếc nem đã gói xong, chuẩn bị đem bán
    Khách vãng lai dừng chân mua nem tại cầu Simôna, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp
    Nem sau ba ngày gói mới chín, ăn thơm ngon

    HOÀNG THẠCH VÂN

    Bánh Tô Châu - người Hà Nội

    TTO - Tết của người Hà Nội xưa chẳng thể nào thiếu một mâm cỗ ngọt với đủ các loại bánh. Trong đó, chiếc bánh Tô Châu nhỏ nhắn, xinh xắn với vị thơm ngậy như gói cả sự đảm đang, khéo léo của người con gái Tràng An.

    Ảnh: Đ.H.

    Nghe đến tên, nhiều người nhầm tưởng chiếc bánh là của người Tàu. Nhưng kỳ thực bánh Tô Châu là của những người Hà Nội xưa làm ra bằng những thứ nguyên liệu rất đỗi...Việt Nam.
    Chếc bánh của hoài niệm
    Nó có từ bao giờ cũng chẳng ai biết. Chỉ biết trong mâm cỗ bánh ngọt dịp tết của người Hà Nội truyền thống bao giờ cũng có sự hiện diện của loại bánh này. Nguyên liệu làm bánh gồm có: bột tẻ lọc, mỡ thăn lợn xắt nhỏ, thịt nạc, mộc nhĩ và nước hoa bưởi.
    Nếu như với bánh giò, thịt nạc và mộc nhĩ được vỏ bột tẻ bao bọc, gói ghém thì bánh Tô Châu hoàn toàn khác. Nhân thịt nạc và mộc nhĩ được xay nhuyễn, tất cả hòa trộn cùng với bột gạo tẻ, một chút đường kính và muối. Sau đó bắc chảo đun nóng và khuấy thật đều tay. Công đoạn này gọi là “ráo bột”, tuy còn  “dở sống dở chín” nhưng bột không bị bở, vón cục và nở đều.
    Bánh Tô Châu luôn ăn kèm với bánh củ cải - Ảnh: Đ.H.

    Chẳng cầu kỳ, rực rõ nhưng chiếc bánh đã gói cả sự đảm đang của người con gái Tràng An, bánh nhỏ xinh nhưng cũng đủ để người ta lưu luyến khi muốn tìm lại một chút hương xưa giữa lòng Hà Nội…
    Sau khi bột nhuyễn thì đổ ra khay, tán đi tán lại cho mịn rồi đưa vào nồi hấp trong 30 phút. Để bánh nguội, lấy dao sắc cắt thành từng miếng nhỏ, hình chữ nhật. Chiếc bánh không những kén người làm mà còn kén cả người ăn. Bánh đã chín hơi ngả màu tím nhạt, lấm tấm mộc nhĩ xay nhỏ, vừng đen và thoang thoảng hương hoa bưởi. Nếu ăn không quen, ban đầu người ta có thể khó chịu vì cái “sậm sựt” của vừng, vì vị ngọt mặn trộn lẫn vào nhau.
    Ngọt trong mặn và mặn trong vị ngọt. Có thể với người trẻ bây giờ chiếc bánh hơi khó ăn. Nhưng với những người già ở Hà Nội, chiếc bánh như một phần ký ức của họ. Chẳng thế mà có những người Việt xa xứ, họ có thể bật khóc khi nhìn thấy bánh Tô Châu và chỉ ao ước được một lần thưởng thức lại hương vị chiếc bánh vào dịp Tết cổ truyền.
    Chút hương bánh xưa giữa lòng Hà Nội
    Chúng tôi tìm đến tiệm bánh Gia Trịnh (16A phố Lý Nam Đế, Hà Nội) khi những ngày Tết dân tộc đang rộn ràng trên mọi nẻo. Có lẽ trên mảnh đất Hà thành chỉ có duy nhất nơi đây còn làm những loại bánh xưa của người Hà Nội. Chủ tiệm bánh Gia Trịnh là bà Hồng Hà, 54 tuổi. Bà là người thích ẩm thực và sự tinh tế trong ẩm thực của người Hà Nội.
    Bánh gấc đỏ tươi luôn gợi một năm đầy may mắn - Ảnh: Đ.H.

    Tiệm bánh mở ra với mong ước khôi phục, lưu giữ được bánh truyền thống của người Hà Nội. Lạc trong một thế giới bánh Hà Nội với những cái tên giản dị: bánh gấc, bánh mảnh cộng, bánh gai, bánh ít nhân dừa, bánh chín tầng mây, bánh Tô Châu, bánh củ cải… Mỗi thứ bánh mang một màu sắc, dáng vẻ, hương vị riêng và được đựng trong những chiếc mẹt tre nhỏ hình tròn.
    Bánh chín tầng mây với các màu xanh, đỏ, vàng nổi bật. Bánh gấc đỏ tươi màu thịt gấc, vị ngọt thanh thanh. Bánh mảnh cộng lại có màu xanh, vị ngọt mát bởi được làm từ nước lá mảnh cộng. Bánh vừng tròn trịa, phủ vừng vàng ruộm, lắc lắc nghe cả tiếng nắm nhân đậu xanh vo lại, lăn tròn trong lòng bánh.
    Không những thế, những chiếc bánh này được ăn theo “triết lý âm dương” của người Việt. Bánh Tô Châu (vị nóng) ăn cùng bánh củ cải (vị mát), bánh mảnh cộng (màu xanh, mát) ăn cùng bánh gấc (màu đỏ, nóng)… Chúng đều được xếp cạnh nhau cho “có đôi có cặp”. 
    Lưu giữ chút hương xưa đất Hà thành - Ảnh: Đ.H.

    Với những người trẻ của thế hệ “fast food”, những chiếc bánh này nghe thật xa lạ. Nhưng với những ai đã mang trên đầu hai thứ tóc, ấy là món bánh của hoài niệm, của ký ức thời thơ trẻ.
    ĐẶNG HÀ - LỢI NGUYỄN

    Vườn Quốc gia Bù Gia Mập

    Nằm trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, Vườn Quốc gia (VQG) Bù Gia Mập không chỉ là nơi bảo tồn các nguồn sinh quyển ở Đông Nam Bộ mà từ đây còn có thể tìm hiểu văn hóa dân tộc bản địa của người S’tiêng, M'Nông cũng như khám phá những tiềm năng du lịch sinh thái độc đáo.

    VQG Bù Gia Mập có tổng diện tích 26.032ha, trong đó diện tích vùng đệm là 15.200ha nằm trên 3 xã: xã Bù Gia Mập, xã Đắk Ơ (tỉnh Bình Phước) và xã Quảng Trực (tỉnh Đắk Nông). VQG thuộc vùng đất thấp của Nam Tây Nguyên với hệ thống sông suối gồm các dòng Ðắk Huýt chảy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, Ðắk Sa, Ðắk Ka và suối Ðắk K'me.
     

    VQG Bù Gia Mập là một trong hai VQG của Việt
    Nam nằm trong vùng sinh thái rừng khô của trung tâm Đông Dương,
    thuộc hành lang ưu tiên bảo tồn của Tiểu vùng Mekong. (Ảnh: Nguyễn Luân)

    Thác Lưu Ly trong VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Kiều Tháp)

    Rừng lồ ô xen cây gỗ là một hệ sinh thái đặc trưng của VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Nguyễn Luân)

    Đồng bào dân tộc S'tiêng sinh sống ở VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Nguyễn Luân)

    Đọt mây non, một món rau rừng nổi tiếng của VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Nguyễn Luân)


    Bữa cơm đơn giản và thân mật của đồng bào dân tộc S'tiêng và cán bộ kiểm lâm trong một chuyến đi kiểm tra rừng. (Ảnh: Nguyễn Luân)

    VQG Bù Gia Mập là nơi có chức năng bảo tồn các loài động vật, thực vật hoang dã và nguồn dược liệu quý hiếm... để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển dịch vụ du lịch sinh thái. Ngoài ra, VQG Bù Gia Mập còn là rừng phòng hộ đầu nguồn đảm bảo nguồn nước cho những hồ chứa của thủy điện Sork Phu Miêng, Cần Đơn, Thác Mơ.

    Hiện tại, VQG Bù Gia Mập có 724 loài thực vật nằm trong 326 chi, 109 họ, 70 bộ thuộc 6 ngành thực vật khác nhau. Ðặc biệt, nơi đây còn mang đậm nét của rừng nguyên sinh với nhiều loài cây thuộc họ dầu và cây gỗ quý hiếm như cẩm lai, gõ đỏ, mun, lát hoa, gỗ mật, thạch tùng, giáng hương, trắc và hàng trăm giống cây dùng làm thuốc.

    Bên cạnh đó, đây còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gà tiền mặt đỏ, gấu ngựa, voi, chà và chân đen... Do còn mang đậm nét hoang sơ của rừng nguyên sinh với rừng dầu rụng lá theo mùa, rừng lồ ô xen cây gỗ, nên VQG Bù Gia Mập là nơi cư trú lí tưởng của nhiều loại động vật thuộc bộ linh trưởng như khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, voọc ngũ sắc, voọc xám...
     

    Một loài nấm có màu sắc bắt mắt
    mọc trên lớp thảm mục của VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Kiều Tháp)

    Voọc ngũ sắc là loài động vật quý hiếm thuộc sách đỏ
    được bảo tồn tại VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Kiều Tháp)

    Chim hồng hoàng, một loài chim quý thường sinh sống sâu
    trong rừng VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Kiều Tháp)

    Chim sả đầu nâu của VQG Bù Gia Mập.
    (Ảnh: Kiều Tháp)

    Con đường phục vụ tuần tra và khám phá
    trong rừng nguyên sinh VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Nguyễn Luân)

    Nhiều cây gỗ quý vươn cao giữa rừng nguyên sinh.
    (Ảnh: Nguyễn Luân)

    Rừng nhiệt đới nhiều cây dây leo chằng chịt.
    (Ảnh: Nguyễn Luân)
     
    Đội kiểm lâm VQG Bù Gia Mập tuần tra bảo vệ rừng.
    (Ảnh: Nguyễn Luân)
     
    Biển cảnh báo cấm đốt rừng trong VQG Bù Gia Mập.
    (Ảnh: Nguyễn Luân)
    .
     
    Một chuyến khảo sát hệ sinh thái rừng
    của các cán bộ VQG Bù GIa Mập.
    (Ảnh: Nguyễn Luân)

    Một tháp canh rừng của VQG Bù Gia Mập.
    (Ảnh: Nguyễn Luân)
     
    Một chuyên gia nước ngoài đang tiến hành khảo sát hệ động vật
    ở VQG Bù Gia Mập. (Ảnh: Kiều Tháp)

    Theo kết quả nghiên cứu gần đây, VQG Bù Gia Mập là một trong hai VQG của Việt Nam (VQG Yok Don) nằm trong Vùng sinh thái Rừng Khô trung tâm Đông Dương của hạ lưu sông Mekong và thuộc hành lang ưu tiên bảo tồn của Tiểu vùng Mekong.

    Thực tế thì Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bù Gia Mập đã được chuyển hạng thành VQG theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ từ 27/11/2002. Vừa qua, tại thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, đã diễn ra hội thảo bảo tồn đa dạng sinh học VQG Bù Gia Mập và khu vực giáp ranh tỉnh Đắc Nông. Các chuyên gia thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới cho biết, VQG Bù Gia Mập hứa hẹn sẽ là một trung tâm đa dạng sinh học của Khu vực và trên thế giới, bởi nó nằm ở vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên xuống vùng đồng bằng Đông Nam Bộ. Vì thế, đa dạng sinh học nơi đây vừa mang tính đặc trưng của khu vưc Tây Nguyên, vừa mang tính đặc trưng của miền Đông Nam Bộ. Cho nên, nơi đây có thể có nhiều loài mới nếu được nghiên cứu kĩ lưỡng. Vì vậy, rất cần một chính sách hợp lí để hài hòa giữa nhu cầu sử dụng tài nguyên trong cộng đồng bản địa và việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

    Ông Kiều Đình Tháp, Giám đốc Trung tâm Giáo dục và Dịch vụ Môi trường Rừng - VQG Bù Gia Mập cho biết, Trung tâm đã triển khai kế hoạch tuyên truyền giáo dục thông qua việc phối hợp với các bà con dân tộc quanh vùng cùng chung tay bảo vệ, quản lí nguồn tài nguyên, sinh thái rừng. Điều này sẽ góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa bản địa kết hợp với du lịch sinh thái tại cộng đồng vùng đệm VQG Bù Gia Mập, một phần giải quyết được việc làm cho lao động tại chỗ.

    Hiện nay, với trên 20 dòng suối, thác nước lớn nhỏ chạy quanh vườn như thác Đăk Mai, thác Sông Bé, thác Lưu Ly và nhiều hang động như hang Nai, hang Dơi… VQG Bù Gia Mập đang là một địa chỉ du lịch sinh thái rất hấp dẫn cho những du khách thích thể thao mạo hiểm và khám phá thiên nhiên hoang dã. Ngoài giá trị cảnh quan, sinh thái, VQG Bù Gia Mập còn là khu di tích lịch sử quan trọng về thời kì kháng chiến chống Mỹ, bởi chính tại nơi đây, địa danh Bù Gia Mập đã đi vào lịch sử với nhiều trận đánh ác liệt của quân và dân miền Ðông Nam Bộ.

    Dạo chơi giữa những tán rừng nguyên sinh của VQG Bù Gia Mập, chúng tôi cảm nhận được không khí mát lạnh như đang tỏa ra từ những cành cây, ngọn lá. Thoảng đâu đó trong khu rừng, tiếng một chú khướu cất lên lảnh lót làm vang động cả núi rừng yên tĩnh… Đó là một cảm giác rất thú vị dành riêng cho mỗi du khách khi đến với VQG Bù Gia Mập vào những ngày hè này./.
    Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Nguyễn Luân, Kiều Tháp
    Đêm diệu kỳ ở vườn quốc gia Bù Gia Mập
    TTO - Cơn mưa ào ạt đổ xuống khi chúng tôi bắt đầu bước chân vào rừng. Mưa chợt đến chợt đi nhanh chóng để lại làn hơi nước mờ mịt trên các dãy núi thấp, con đường trơn trượt báo hiệu một hành trình gian khổ khi khám phá vườn quốc gia Bù Gia Mập.
    Hoàng hôn buông trên vườn quốc gia Bù Gia Mập

    Trên con đường ngoằn ngoèo từ ngoài vùng đệm tiến vào vùng lõi vườn quốc gia, những phụ nữ dân tộc Stiêng đang trở về nhà sau một ngày mệt nhọc làm rẫy và tìm kiếm thức ăn cho gia đình. Những khuôn mặt hằn nét mệt mỏi nhưng những chiếc gùi nặng trĩu rau rừng, măng, củi...
    Cư dân đầu tiên đón chào chúng tôi là một chú chim diều hâu Milvus Migran dũng mãnh, dưới chân nó là kẻ chiến bại trong cuộc đấu tranh sinh tồn của thế giới tự nhiên, một con rắn cạp nong vàng Bungarus fasciatus. Những con rắn cực độc và là mối đe dọa đối với rất nhiều loài rắn khác giờ đây đã trở thành miếng mồi ngon cho lũ chim non đang chuẩn bị bữa điểm tâm diều hâu mẹ mang về.
    Mưa vừa dứt, mặt trời buổi chiều lấp ló trên ngọn cây. Những giọt mưa như tắm gội, gột rửa bụi bặm từng chiếc lá. Có lẽ mải mê kiếm ăn không kịp trú mưa, loài nhông xám Calotes Mystaceus (một loài bò sát khá phổ biến ở nơi đây) đang phơi mình trên gốc cây mục bên ven đường, ánh mắt láo liên cảnh giác.
    Khi chúng tôi đến Trạm kiểm lâm số 2, bóng tối đã bắt đầu bao trùm lên khu vực vườn quốc gia, những tia nắng cuối ngày rực cháy như muốn xuyên thủng từng đám rừng rậm rạp không lối đi. Từng đàn chim cất tiếng gọi bầy về nghỉ ngơi sau một ngày kiếm ăn mệt nhoài trong ngôi nhà bình yên của chúng.
    Hoàng hôn lặng lẽ buông xuống trên khắp các cánh rừng. Mặt trời như một quả cầu lửa khổng lồ trước khi để lại màn đêm lặng lẽ và không chút bình yên của thế giới muôn loài đang đấu tranh sinh tồn và duy trì nòi giống cho đời sau hữu thụ. Đâu đó trên những thân cây cổ thụ xù xì, thi gan cùng tế nguyệt loài ve sầu vòi voi Spinocear cất lên bản nhạc rừng cuối ngày hòa quyện vào tiếng gió, tiếng lá rơi xào xạc.
    Vườn quốc gia Bù Gia Mập

    Những người phụ nữ dân tộc Stiêng trở về nhà sau một ngày làm việc mệt nhọc

    Bản giao hưởng gần như bất tận làm không gian vốn dĩ tĩnh mịch thêm một chút náo nhiệt trước bản hợp ca của muôn loài bò sát, ếch nhái lưỡng cư, chim, thú rừng ăn đêm. Tất cả cùng cất tiếng gọi bầy, gọi bạn tình, gọi những mầm non mới nhú và những bông hoa khoe sắc...
    Khi ánh đèn flash của chiếc máy chụp hình “cùi bắp” của tôi lóe lên, chú ve sầu vòi voi tội nghiệp cất cánh vụt bay. Khoảnh khắc hiếm hoi trong cuộc đời nghiên cứu đa dạng sinh học khi tôi bắt được góc cánh trong của nó.
    Chúng tôi chuẩn bị đèn dụng cụ bắt mẫu, một số đồ dùng chuyên dụng cho công việc buổi tối đầy thách thức và gian nan. Giờ này bọn vắt rừng đói khát cũng đã tỉnh thức để kiếm ăn. Chúng thèm thuồng những giọt máu của các loài máu nóng để có cơ hội đẻ trứng và sinh tồn, và da thịt chúng tôi cũng là món ăn khoái khẩu của hàng ngàn con vắt đang chờ dưới thảm mục.
    Đi được một quãng ngắn, cả nhóm phát hiện một chú thằn lằn lá xiêm Dixonius Siamensis, đây là một loài thằn lằn rất hiếm vì chúng có kích thước rất nhỏ và rất nhanh nhẹn trong bóng đêm. Chắc vừa chén một bụng căng những con mối non béo ngậy dưới thảm mục nên bước chạy của nó có vẻ chậm hơn thường ngày.
    Chú ve sầu cất cánh khi gặp ánh đèn flash

    Thằn lằn lá xiêm Dixonius Siamensis

    Loài cóc mắt đỏ Leptobarachium sp.

    Nằm chất đống dưới mặt đất là những chiếc vỏ cây bằng lăng đang mùa thay lớp vỏ xù xì, chật chội và khoác lên mình chiếc áo mới. Bất chợt tôi nghe thấy âm thanh văng vẳng tiếng gọi bạn tình của loài ễnh ương nâu Calluella Guttulata - loài rất hiếm vì chúng chỉ được ghi nhận mới đây ở vườn quốc gia Bù Gia Mập, loài nhỏ nhất trong các loài ễnh ương được tìm thấy ở Việt Nam.
    Bị kéo ra khỏi lớp vỏ cây nhưng chàng ta vẫn không ngớt cất tiếng gọi bạn tình. Chụp xong vài tấm hình chúng tôi tiếp tục công cuộc tìm kiếm, bỏ lại chàng ễnh ương si tình bên gốc bằng lăng già nua và cảm nhận về một thời trai trẻ của mình…
    Vượt qua một cành cây đổ chắn ngang lối đi ven đường, anh chàng đồng nghiệp một thời kiểm lâm reo lên khi nhận thấy được vẻ đẹp mê hồn của loài lan sừng dài Macropodanthus Alatus đang treo mình trên một nhành cây nhỏ. Những bông hoa rực rỡ trên cành cây khô, mùi hương tỏa khắp một góc rừng như muốn mời chào những loài côn trùng ăn đêm về thưởng lãm và thụ phấn.
    Không kém cạnh với nữ hoàng lan sừng dài, ở một góc khuất và tối hơn chùm lan kiếm Cymbidium Finlaysonianum cũng e lệ buông mình trong bóng đêm. Đâu đó trên những chiếc lá, giọt mưa đầu mùa còn đọng lại phản chiếu với ánh đèn đêm giống như những viên ngọc sáng lấp lánh.
    Đã quá nửa đêm chúng tôi vẫn tiếp tục đi ngược dòng suối Dakar, mùa này dòng suối chỉ còn là những khe nước nhỏ hiền hòa chảy và không hung dữ, đục ngầu như cuối tháng mùa mưa.
    Trên một tảng đá gần bờ, loài thực vật sách đỏ Việt Nam - cây ổ kiến Hydnophytum Formicarum đang khoe chùm quả đỏ rực đưới ánh đèn và những chú kiến cộng sinh vào phần phình lên của gốc đang náo nhiệt hoạt động.
    Nằm cạnh một thác nước nhỏ là những cây gỗ thuộc họ dầu Dipterocaspaceae có đường kính rất lớn. Tôi dừng lại săm soi chiếc đèn đội đầu rực sáng từng gốc cây trong bóng đêm dày đặc và hét lên một cách sung sướng, đôi tay run lên khi đưa chiếc máy chụp hình liên tục ngắm và chụp loài thằn lằn ngón. Trong đầu nghĩ chỉ vài tháng nữa thôi các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về bò sát lưỡng cư ở Việt Nam và thế giới sẽ được ghi tên loài này vào danh lục các loài mới phát hiện ở Việt Nam. 
    Trên đường trở về Trạm kiểm lâm số 2, bất ngờ còn nối tiếp bất ngờ trong nỗ lực không mệt mỏi khi chúng tôi bắt gặp loài lan Brachypeza laotica. Loài lan mới được nghi ngờ có vùng phân bố ở Việt Nam giờ đang khoe sắc rực rỡ trước ống kính máy ảnh.
    Lan sừng dài Macropodanthus Alatus 

    Cây ổ kiến Hydnophytum Formicarum

    Tất cả trở về khi bình minh của vườn quốc già Bù gia Mập đang ửng dần phía chân núi xa mờ.
    Bầy chim rừng cũng bắt đầu thức giấc đón chào một ngày mới, từng bầy từng bầy gọi nhau chuẩn bị thưởng thức bữa sáng. Nhiều nàng lưỡng cư đang thực hiện nốt thiên chức làm mẹ trên những đám lá cây gần bờ nước hay những hố nước nhỏ trong rừng, và những quý ông lưỡng cư lịch lãm trong một đêm giao hoan mệt nhoài cũng lặng lẽ chia tay bạn tình tìm nơi ẩn náu.
    Bất chợt một tiếng hú dài gọi bầy của loài chà vá chân đen Pygathrix nigripes vang vọng hòa âm cùng bản đồng ca của rừng xanh...
    Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm ở phía tây bắc tỉnh Bình Phước trên địa bàn hành chính các xã Đắc Ơ, Bù Gia Mập, huyện Phước Long. Phía tây và tây bắc là suối Đăk Huýt, đường ranh giới Việt Nam - Campuchia. Phía đông và đông bắc giáp tỉnh Đắk Nông. Tổng diện tích vườn 26.032 ha, vùng đệm 15.200 ha (7.200 ha thuộc tỉnh Bình Phước và 8.000 ha thuộc Đắk Nông).

    PHÙNG MỸ TRUNG
    Vườn Quốc gia Bù Gia Mập

    Nằm trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, Vườn Quốc gia (VQG) Bù Gia Mập không chỉ là nơi bảo tồn các nguồn sinh quyển ở Đông Nam Bộ mà từ đây còn có thể tìm hiểu văn hóa dân tộc bản địa của người S’tiêng, M'Nông cũng như khám phá những tiềm năng du lịch sinh thái độc đáo.
    VQG Bù Gia Mập có tổng diện tích 26.032ha, trong đó diện tích vùng đệm là 15.200ha nằm trên 3 xã: xã Bù Gia Mập, xã Đắk Ơ (tỉnh Bình Phước) và xã Quảng Trực (tỉnh Đắk Nông). VQG thuộc vùng đất thấp của Nam Tây Nguyên với hệ thống sông suối gồm các dòng Ðắk Huýt chảy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, Ðắk Sa, Ðắk Ka và suối Ðắk K'me.
    VQG Bù Gia Mập là một trong hai VQG của Việt Nam nằm trong vùng sinh thái rừng khô của trung tâm Đông Dương, thuộc hành lang ưu tiên bảo tồn của Tiểu vùng Mekong.
    Thác Lưu Ly trong VQG Bù Gia Mập.
    Rừng lồ ô xen cây gỗ là một hệ sinh thái đặc trưng của VQG Bù Gia Mập.
    Đồng bào dân tộc S'tiêng sinh sống ở VQG Bù Gia Mập.
    Đọt mây non, một món rau rừng nổi tiếng của VQG Bù Gia Mập.
    Bữa cơm đơn giản và thân mật của đồng bào dân tộc S'tiêng và cán bộ kiểm lâm trong một chuyến đi kiểm tra rừng.
    VQG Bù Gia Mập là nơi có chức năng bảo tồn các loài động vật, thực vật hoang dã và nguồn dược liệu quý hiếm... để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển dịch vụ du lịch sinh thái. Ngoài ra, VQG Bù Gia Mập còn là rừng phòng hộ đầu nguồn đảm bảo nguồn nước cho những hồ chứa của thủy điện Sork Phu Miêng, Cần Đơn, Thác Mơ.
    Hiện tại, VQG Bù Gia Mập có 724 loài thực vật nằm trong 326 chi, 109 họ, 70 bộ thuộc 6 ngành thực vật khác nhau. Ðặc biệt, nơi đây còn mang đậm nét của rừng nguyên sinh với nhiều loài cây thuộc họ dầu và cây gỗ quý hiếm như cẩm lai, gõ đỏ, mun, lát hoa, gỗ mật, thạch tùng, giáng hương, trắc và hàng trăm giống cây dùng làm thuốc.
    Bên cạnh đó, đây còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gà tiền mặt đỏ, gấu ngựa, voi, chà và chân đen... Do còn mang đậm nét hoang sơ của rừng nguyên sinh với rừng dầu rụng lá theo mùa, rừng lồ ô xen cây gỗ, nên VQG Bù Gia Mập là nơi cư trú lí tưởng của nhiều loại động vật thuộc bộ linh trưởng như khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, voọc ngũ sắc, voọc xám...
    Theo kết quả nghiên cứu gần đây, VQG Bù Gia Mập là một trong hai VQG của Việt Nam (VQG Yok Don) nằm trong Vùng sinh thái Rừng Khô trung tâm Đông Dương của hạ lưu sông Mekong và thuộc hành lang ưu tiên bảo tồn của Tiểu vùng Mekong.
    Thực tế thì Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bù Gia Mập đã được chuyển hạng thành VQG theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ từ 27.11.2002. Vừa qua, tại thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, đã diễn ra hội thảo bảo tồn đa dạng sinh học VQG Bù Gia Mập và khu vực giáp ranh tỉnh Đắc Nông. Các chuyên gia thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới cho biết, VQG Bù Gia Mập hứa hẹn sẽ là một trung tâm đa dạng sinh học của Khu vực và trên thế giới, bởi nó nằm ở vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên xuống vùng đồng bằng Đông Nam Bộ. Vì thế, đa dạng sinh học nơi đây vừa mang tính đặc trưng của khu vưc Tây Nguyên, vừa mang tính đặc trưng của miền Đông Nam Bộ. Cho nên, nơi đây có thể có nhiều loài mới nếu được nghiên cứu kỹ lưỡng. Vì vậy, rất cần một chính sách hợp lý để hài hòa giữa nhu cầu sử dụng tài nguyên trong cộng đồng bản địa và việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
    Ông Kiều Đình Tháp, Giám đốc Trung tâm Giáo dục và Dịch vụ Môi trường Rừng - VQG Bù Gia Mập cho biết, Trung tâm đã triển khai kế hoạch tuyên truyền giáo dục thông qua việc phối hợp với các bà con dân tộc quanh vùng cùng chung tay bảo vệ, quản lý nguồn tài nguyên, sinh thái rừng. Điều này sẽ góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa bản địa kết hợp với du lịch sinh thái tại cộng đồng vùng đệm VQG Bù Gia Mập, một phần giải quyết được việc làm cho lao động tại chỗ.
    Hiện nay, với trên 20 dòng suối, thác nước lớn nhỏ chạy quanh vườn như thác Đăk Mai, thác Sông Bé, thác Lưu Ly và nhiều hang động như hang Nai, hang Dơi… VQG Bù Gia Mập đang là một địa chỉ du lịch sinh thái rất hấp dẫn cho những du khách thích thể thao mạo hiểm và khám phá thiên nhiên hoang dã. Ngoài giá trị cảnh quan, sinh thái, VQG Bù Gia Mập còn là khu di tích lịch sử quan trọng về thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bởi chính tại nơi đây, địa danh Bù Gia Mập đã đi vào lịch sử với nhiều trận đánh ác liệt của quân và dân miền Ðông Nam Bộ.
    Dạo chơi giữa những tán rừng nguyên sinh của VQG Bù Gia Mập, chúng tôi cảm nhận được không khí mát lạnh như đang tỏa ra từ những cành cây, ngọn lá. Thoảng đâu đó trong khu rừng, tiếng một chú khướu cất lên lảnh lót làm vang động cả núi rừng yên tĩnh…
    Theo BAVN