Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Vũ điệu Ya yá - Tung tung

Giữa rộn ràng âm trống, điệu chiêng của buôn làng vào hội, các sơn nam, sơn nữ Cơ Tu súng sính những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất, nhún nhảy nhịp nhàng trong vũ điệu Ya yá - Tung tung mê đắm lòng người.
Ya yá tiếng Cơ Tu có nghĩa là thẳng lối, nhịp nhàng, là điệu múa của phụ nữ thể hiện giá trị tâm linh như sự đón đợi, muốn dâng lên trời đất để thể hiện sự biết ơn, tạ nghĩa. Tục rằng, từ thuở xa xưa, người Cơ Tu thường có những hoạt động hiến tế, dâng lễ vật cho thần linh và phụ nữ phải thực hiện phần việc đó.
Vũ điệu Ya yá - Tung tung
Theo thời gian, động tác có tính tôn giáo này trở thành điệu múa chính, qua đó vẻ đẹp của người phụ nữ được bộc lộ. Chẳng thế mà các chàng trai Cơ Tu chưa vợ khi ngắm các thiếu nữ trong vũ điệu Ya yá với khuôn miệng luôn tủm tỉm cười, gót chân trần nhón lên yểu điệu theo vòng ngược kim đồng hồ sẽ định ngay đâu là ý chung nhân tương lai của mình. Cô nào múa càng đẹp, càng uyển chuyển càng chứng tỏ cô ấy thùy mị, nết na, yêu chồng, chăm con, tôn kính thần linh, có trái tim nhân hậu với cộng đồng...
Nếu Ya yá là vũ điệu của phụ nữ thì Tung tung là điệu múa dành cho đàn ông, mang âm hưởng mừng công, toát lên tinh thần thượng võ, tái hiện lại cảnh những đoàn thanh niên trai tráng Cơ Tu hùng dũng ra trận hay vào rừng săn thú. Tung tung tiếng Cơ Tu nghĩa là vươn lên cao, sôi động hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa và vững chãi hơn nữa… Đó là biểu hiện của khát vọng chinh phục vũ trụ, muốn đưa con người vươn lên ở tầm cao mới trong không gian thoáng đãng, hằng mong cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
Khi múa, đàn ông đóng khố, choàng áo dệt bằng thổ cẩm, chân đi trần lết đất, tay nắm chắc cây khiên, cây giáo, cây mác hay cây dụ, hoặc nắm chắc tay bạn bên cạnh tung đôi tay lên vừa bước, vùa hú một cách tự tin, sôi động và hùng dũng; thể hiện sức mạnh của trai làng, không sợ khi đương đầu với khắc nghiệt của thiên nhiên hay kẻ thù đến phá hại, thể hiện niềm tin yêu cuộc sống.
Từ ngàn đời nay, trong cộng đồng Cơ Tu, Ya yá - Tung tung là vũ điệu kết hợp hài hòa của nam - nữ cũng là âm dương trong vũ trụ bao la xảy ra trong cùng một thời gian và xoay vòng trong một vòng tròn nhất định. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, vũ điệu Ya yá - Tung tung đã góp phần làm nên sức mạnh trường tồn của nền văn hóa độc đáo Cơ Tu giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ...
(Theo Danviet)

Lễ Mục đồng làng Phong Lệ

Các bậc cao niên trong vùng cho biết, xưa kia làng Phong Lệ (thôn Phong Nam, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, TP Ðà Nẵng) rộng và lớn lắm. Lớn đến nỗi Phong Lệ phải chia làm hai, Phong Lệ Nam và Phong Lệ Bắc. Vì lớn như vậy, nên nơi đây có hẳn một đình thờ Thần Nông, độc nhất Việt Nam thời bấy giờ và cho đến ngày nay.
Đoàn lễ rước Mục đồng qua các cánh đồng làng để cầu mong Thần Nông ban phúc.
Làng Phong Lệ phía nam giáp Trà Kiệu, bắc giáp Sơn Trà, tây giáp núi Chúa và phía đông giáp Ngũ Hành Sơn. Các bậc tiền nhân có công khai phá vùng đất rộng lớn này đặt tên là làng Ðà Ly. Ðến thời vua Thiệu Trị năm thứ I (1841) đổi tên Ðà Ly xã thành làng Phong Lệ, có một chính quyền điều hành. Ðời vua Thành Thái thứ 8 (1889 - 1907), vì địa dư quá rộng, cách trở sông đò, đi lại khó khăn... nên Phong Lệ được chia thành hai làng là Phong Lệ Nam và Phong Lệ Bắc. Làng Phong Lệ Nam ở phía nam cầu sông Yên (sông Cầu Ðỏ) thuộc tổng Thanh An, phủ Ðiện Bàn (gồm Bầu Cầu, Ðông Hoà, Tây An, Phong Nam - xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang ngày nay). Làng Phong Lệ Bắc ở phía bắc sông Yên thuộc tổng Bình Thái, huyện Hoà Vang (nay là phường Hoà Thọ Ðông và Hoà Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, TP Ðà Nẵng). Ngoài ra còn có một khu vực ở phía tây của làng Phong Lệ, dân cư thưa thớt gọi là làng Phong Lệ Tây gồm các thôn Cây Sung, Hội Vực thuộc xã Hoà Phú, huyện Hoà Vang.
Làng Phong Lệ Nam là đất gốc tích nên có điều kiện phát triển hơn về mọi mặt. Tại đây, nhiều công trình kiến trúc cổ như nhà thờ làng, chùa làng, lăng miếu... đã được xây dựng. Trong đó, tiêu biểu nhất là đình Thần Nông. Mỗi khi có lễ hội, nhân dân, tộc họ làng Phong Lệ Bắc, Phong Lệ Tây mang lễ vật về cúng bái, đông vui như hội... Dân gian có câu: "Lính có đồn, dân có đình". Ngôi đình được xây dựng trước thời vua Thiệu Trị, gọi là đình Thần Nông. Cấu trúc của đình có ba bộ phận gắn liền nhau, từ ngoài vào trong là nhà Tiền Ðường, có gác chiêng, trống, hai bên nhà chính có năm gian... và trong cùng là tẩm. Mái đình lợp ngói âm dương. Trên nóc nhà chính tẩm và các góc đuôi mái đều có đắp tượng Long, Ly, Quy, Phượng, biểu tượng sừng trâu và nhiều họa tiết hoa văn rực rỡ sắc mầu. Cột kèo, xà nhà được chạm trổ tinh vi, trên tường có đắp phù hiệu, ngay giữa nhà chính có đắp tấm biển lớn gắn ba chữ "Phong Lệ Ðình" bằng chữ Hán được sơn son thếp vàng, nội tẩm còn có ba chữ "Anh khí chuông" (tức tiếng chuông vang xa) viết bằng chữ Hán cẩn xà cừ. Trong đình còn có các câu liễn đối của các bậc tiền bối ban tặng, được tạc vào gỗ quý vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay:
Trẻ mục đồng xuống ruộng để cầu mong đồng ruộng tốt tươi.
Ðình Thần Nông làng Phong Lệ là nơi tế lễ cầu cho mưa thuận gió hoà, lúa màu tươi tốt. Ðây là ngôi đình có một không hai trong cả nước, gắn liền với lễ hát mục đồng (chữ Mục nghĩa là chăn giữ, điều khiển; chữ Ðồng là đứa trẻ - Mục đồng có ngụ ý là trẻ chăn trâu), vì vậy ở đây còn lưu truyền câu ca: "Nhất Phong Lệ mục đồng, nhì Giáng Ðông hát vật". Trong lịch sử, tuy mục đồng là những người chịu nhiều thiệt thòi, bị áp bức, bóc lột, thậm chí nhân phẩm bị chà đạp..., nhưng đã có không ít những nhà khoa bảng, những nhà lãnh đạo yêu nước đầy tâm huyết như Hoàng đế Ðinh Tiên Hoàng, Lê Ðại Hành, Nguyễn Chích, Trịnh Khả (danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn), Nội tán Ðào Duy Từ thời chúa Nguyễn, danh tướng Ông Ích Khiêm, chí sĩ Ông Ích Ðường... xuất thân là những Mục đồng. Và dòng họ Ông - một cự tộc có nhiều danh nhân khoa bảng giàu lòng yêu nước đã gắn liền với gốc tích làng Phong Lệ.
Trước năm 1934 (Bảo Ðại thứ 9) tại đình làng cứ ba năm tổ chức đáo lệ hát mục đồng vào ngày 4-4 âm lịch, thời gian lễ hội diễn ra trong ba ngày ba đêm, giới mục đồng được chơi các trò chơi dân gian, được "ăn trên ngồi trước", vinh hạnh làm lễ trọng thể. Năm 1936, Lễ rước Mục đồng được tổ chức quy mô, lớn nhất so với cả nhiều năm trước đó. Nhưng cũng từ đó, những biến đổi của thời cuộc, cuộc sống khó khăn đã làm thời gian tổ chức các lễ rước cứ giãn cách dần, từ ba năm, sau lên sáu năm, thậm chí, có giai đoạn, 12 năm mới làm lễ một lần, và cũng không tiến hành được đầy đủ các lễ nghi như trước.
Mới đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ðà Nẵng đã tiến hành phục dựng lễ rước Mục đồng với quy mô lớn, đầy đủ về hình thức và nội dung. Chúng tôi có dịp gặp cụ Ngô Viêm (sinh năm 1923), một trong số rất ít cụ được tham gia Lễ rước Mục đồng được tổ chức quy mô nhất vào năm 1936. Cụ kể: "Tương truyền, ngày xưa có vị Thần Nông giáng xuống gò, tay cầm cờ, thường hay dạo chơi với trẻ em chăn trâu khắp đồng. Dân làng truyền nhau gò rất thiêng, ai qua đấy nếu quở, về nhà sinh bệnh mà chết, phải có lễ khấn mới qua khỏi. Người nào ngồi lên mộ thần là bị dính vào mộ không sao có thể gỡ được, cũng phải làm lễ xin mới được tha. Có người còn cho rằng hiện tượng trên chỉ xảy ra với người làng khác đến, còn với người làng Phong Lệ thì không, đặc biệt là trẻ em chăn trâu thì không việc gì". Cụ Ngô Viêm lo lắng: "Với sự thay đổi và nhịp sống đô thị hóa, làng quê đang dần vắng bóng trâu trên những cánh đồng. Thế hệ trẻ hiện nay cũng không mặn mà lắm với những phong tục, lễ hội xưa của cha ông. Vì thế, để duy trì lễ hội có một không hai này là một vấn đề... nan giải".
Cùng tham gia các trò chơi dân gian
Nhà nghiên cứu văn hóa Võ Văn Hòe cho rằng: "Lễ hội Rước Mục đồng là một lễ hội hiếm, riêng biệt so với cả nước, được tổ chức ba năm một lần tại làng Phong Lệ. Lễ hội Rước Mục đồng xứng đáng được tôn vinh, lưu truyền và phục hồi, bảo tồn trong cư dân. Những câu chuyện kể đẹp như cổ tích sẽ được nuôi dưỡng, trao truyền trong tâm thức từ người già đến thế hệ trẻ hôm nay".
K.D (st)

Làng đúc đồng Đại Bái – Bắc Ninh

“Muốn ăn cơm trắng, cá trôi Thì về làng Bưởi đánh nồi với anh Muốn ăn cơm trắng cá ngần Thì về làng Bưởi cầm cân buôn đồn”.
Hai câu ca dao trên nói lên nghề gò và đúc đồng của làng Bưởi hay còn gọi là làng Đại Bái thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh - Một làng nổi tiếng với những sản phẩm được đúc từ đồng như: Tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, lọ hoa, tranh, câu đối bằng đồng... Đại Bái cổ xưa còn có tên làng Văn Lãng, nằm trên một giải đất cao bên bờ sông Bái Giang (Một nhánh của sông Thiên Đức cũ), cách đường 182 khoảng 1km, làng Đại Bái nổi tiếng với nghề Đúc đồng truyền thống, từ xưa làng đã chuyên sản xuất đồ đồng phục vụ về mặt dụng cụ gia đình, ban đầu mới chỉ làm nồi sanh thô sơ sau mới có ấm, mâm, chậu thau và cho đến đầu thế kỷ XI mới được phát triển mạnh nhờ công của ông Nguyễn Công Truyền lo tổ chức sản xuất và tạo mẫu, dân làng tôn ông là " Tiền tiên sư".
Ông Nguyễn Công Truyền sinh năm 989 tại làng Đại Bái, mất ngày 29/9 âm lịch (tức là năm 1060). Xuất thân trong một gia đình nho học, năm 995 lúc nên 6 tuổi ông theo cha mẹ vào Thanh Nghệ để sinh sống (Nay làng đó cũng gọi là làng Đại Bái, làng Bưởi và cũng làm nghề Đúc Đồng), khi lớn lên ông vào quân ngũ. Năm 25 tuổi ông làm quan Đô uý của triều Lý, được phong là Điện tiền tướng quân. Đến tháng 3.1018 ông về Đại Bái thăm họ hàng, quê hương. Sau khi Cha của ông qua đời tại Thanh Nghệ, ông xin từ quan và đưa mẹ về quê cũ phụng dưỡng và từ đó ông bắt đầu tổ chức sản xuất lớn hơn. Ông cho đón lò rèn về tại làng để sửa chữa nông cụ sản xuất như búa, đe, lò bễ .v.v. Nhờ những công cụ nông nghiệp đã được cải tiến nên việc sản xuất được phát triển mạnh hơn. Đến thế kỷ thứ XV, XVI, làng có 5 ông tiến sỹ : Nguyễn Viết Lai, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Viết Thái, Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Công Tám, sau khi được phong quan, về làng, các ông chú ý việc tổ chức và mở rộng sản xuất, đặc biệt là việc phân công chuyên môn hoá ngành nghề, đã thành lập các phường sản xuất riêng từng loại mặt hàng như: Phường chuyên gò nồi đồng, phường làm mâm, phường làm ấm, phường làm chậu thau, phường làm thau lá, rút dây đồng làm hàng bạc và một phường hàng chợ chuyên mua bán để cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hoá. Mỗi phường đều tập trung một xóm để tiện việc sản xuất và sinh hoạt hàng ngày. Nhờ có sự tổ chức hoàn chỉnh đã giúp cho Đại Bái nhanh chóng phát triển với ngành nghề Đúc đồng, gò đồng với sự nâng cao rõ rệt về kỹ thuật luyện đồng: Lấy đất sét bờ sông xây lò đúc, lấy bùn ao nhài với tro trấu làm nơi luyện đồng, đồng pha kẽm làm đồng thau và sáng chế ra thuốc hàn đồng...
Ngày nay, làng Đại Bái tiếp tục phát triển và gìn giữ nghề truyền thống với những hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh cùng sự cải tiến kỹ thuật, tự trang bị, tự chế ra máy móc như máy cán, máy dập, máy đánh bóng, điển hình là HTX tiểu thủ công nghiệp Hợp Thành....sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.
K.D (st)

Con Nghê linh vật thuần Việt

Hai linh vật đặc thù của văn hoá Việt Nam là chim Hạc và con Nghê, thế nhưng trong khoảng hai trăm năm gần đây, ta thường thấy rồng và lân được dùng trang trí trong các đền chùa, dinh thự lớn. Như tượng hai con lân trắng ở ngay trước sân chùa Vĩnh Nghiêm, Sài gòn chẳng hạn. Những ngôi nhà lớn của người Việt ở hải ngoại hay ở trong nước cũng trang trí bằng tượng con lân. Chim hạc là linh vật từ thời các vua Hùng dựng nên nước Văn Lang ta, còn con Nghê xuất hiện từ bao giờ? (Phải chăng từ đời Lý, khi nền văn hoá thuần Việt được phục hồi và phát triển sau một ngàn năm Bắc thuộc?). Dù là biểu tượng thuần túy Việt Nam nhưng con Nghê lại được ít người biết đến.
Con Nghê là gì?
Trong đời sống của người dân Việt, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cầy ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma ác quỷ nữa chứ. Chó đá được dựng lên vì thế. Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con chó đá để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có chó đá, và trước cổng nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà cũng thường có chó đá ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này hình dạng thay đổi, cao khoảng từ nửa thước tới một thước, thường là những tảng đá được khắc đẽo rõ ràng oai vệ, nhưng có khi chỉ là một khối đá đặt nghiêng theo dáng một con chó đang ở thế ngồi canh giữ. (Truyện cổ cũng thường nhắc đến chó đá, như chuyện “Cậu học trò và con chó đá”, chuyện “Hai anh em và con chó đá” - Xin đọc: Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc,Truyện cổ nước Nam). 
Rồi để bầy trước điện thờ, hay bàn thờ của những nhà giàu có, ở các đình chùa, đền miếu, chó đá hoá linh. Chó đá được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét oai nghiêm. Vì linh thiêng như thế, nên được gọi là con Nghê. 
Con Nghê còn được dùng để trang trí trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Nghê được chạm trên cốn (xà ngang từ cột ra để đỡ xà dọc ở mái ngoài), hay được đạt trên đầu đao (sống mái chạy từ đỉnh nóc nhà xuống, cong lên như hình cây đại đao (mã tấu) nên gọi là đầu đao), như trên cốn đình làng An Hoà (Hà Nam), Phất Lộc (Thái Bình), cột đình làng Hội Thống (Hà Tĩnh) đầu đao đình làng Phù Lão (Bắc Giang), làng Trung Cần (Nghệ An), làng Tây Đằng (Sơn Tây)... chẳng hạn. Thuở nhỏ, vào khoảng đầu thập niên 1950 ở Thái Bình, còn thấy ở nhà cụ Hà Ngọc Huyền, ông ngoại chúng tôi có chưng tượng con Nghê cao gần một thước ngay lối vào phòng khách cùng với những bình, những chóe đời Khang Hy nhà Thanh, đời Minh... Con Nghê này không biết nay đã lưu lạc về đâu?
Vậy con Nghê là một linh vật thuần Việt, được sáng tạo để bảo vệ đời sống tâm linh của người Việt. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm, mà có thể được giới thiệu tiêu biểu dưới đây. 
Vài hình tượng con Nghê tiêu biểu 
Tượng con Nghê: dựa trên nước men, màu men, chất đất ta có thể định rằng đây là một tác phẩm đời Lý (thế kỷ XI - XII). Con Nghê này cao độ 36cm, bàng đất nung, phủ men nâu, nét tô đắp cực kỳ tinh xảo, con Nghê trông sống động, oai vệ, tưởng chừng như có thể phóng lên xua đuổi tà ma ngay tức khắc. Mặt Nghê ngắn. Mình Nghê thon dài, rất thanh tú. Cổ Nghê đeo dây lục lạc có tua, cổ ngửng thẳng. Lông trên sống lưng dựng đứng như một hàng kỳ, chạy suốt từ đỉnh đầu xuống đến đuôi. Chân Nghê thanh nhưng thẳng và mạnh, chân sau ở thế ngồi bắp thịt đùi trông rắn chắc mạnh mẽ, hai chân trước chống cao, chỗ đầu gối có lông xoắn cong. Mắt to, miệng lớn, mũi lớn, miệng Nghê hơi hé mở để lộ những răng nanh nhọn hoắt, như sẵn sàng xua đuổi tà ma. Tai Nghê lớn. Lông Nghê mượt sát vào mình với những đường khắc, uốn từ sống lưng xuống phía bụng, trông như vằn chó. 
Tượng con Nghê đời Lý (Bộ sưu tập Bùi Ngọc Tuấn) Nậm rượu hình con Nghê: chúng tôi xin đưa ra hình hai nậm rượu hình con Nghê, một mầu nâu, một mầu đen. Nghê với hình dáng và thế ngồi cũng như mô tả ở trên, tuy rằng các chi tiết không sắc sảo bằng. Nghê ngồi trên một bầu rượu có dáng trên tròn dưới ống. Mình Nghê rỗng, trên lưng Nghê có vòi loe để chuyên rượu vào (nắp đậy chỗ này không còn, nên ta không biết nắp cũng làm bằng đất sét nung hay bằng gỗ hoặc lá cuộn). Rượu được rót ra từ vòi dài đi từ thân nậm, tựa như cọc với dây xích buộc Nghê. 
Hai nậm rượu hình con Nghê đời Lý (Bộ sưu tập Bùi Ngọc Tuấn) Bình trầm hương hình Nghê: màu men, nước men, chất đất, độ nung của các bình hương này cho thấy đây là các tác phẩm làm thời Chu Đậu (thế kỷ XVI - XVIII) chứ không phải đồ đời Lý hay đời Trần. Bình hương gồm hai phần, phần dưới là một hộp nhỏ hình chữ nhật, đây là chỗ bỏ trầm vào đốt. Phần trên là nắp. Nắp là con Nghê ngồi trên một mặt phẳng đậy vừa kín phần dưới. Mình Nghê rỗng nên khi đốt trầm khói từ phần hộp phía dưới, luồn trong mình Nghê rồi bay ra từ miệng Nghê đang hơi khẽ mở, trông rất oai nghiêm. Vì trầm được đốt trong hộp kín phía dưới mà chỉ có thể thoát khói ra khỏi miệng Nghê nên cháy rất chậm, vừa toả đủ khói hương để mang đầy vẻ linh thiêng mà vẫn cháy lâu cả buổi. 
Bình trầm hương con Nghê (thời Chu Ðậu, thế Kỷ 16 - 17) Hình trích từ Vietnam ceramics, A separate tradition, John Guy và John Stevensen, Avery Press 1997 Cũng có một số bát hương làm vào khoảng thế kỷ XIII, XIV với hình chó thay vì hình nghê. Đây là các bát hương có dạng nửa tô, nửa đĩa, với tượng chó ngồi ở chính giữa bát hương. Thẻ hương được đặt ngang thành bát, gác lên đầu chó. 
Bát hương con Nghê Hình trích từ Vietnam ceramics, A separate tradition, John Guy và John Stevensen, Avery Press 1997 Loại khác gồm hai phần, phần dưới chắc cũng dùng để đốt trầm, khói bay luồn trong tượng chó ngồi ở giữa rồi tuôn ra miệng chó. Khi không đốt trầm, cây hương cũng được đặt gác lên đầu chó. 
Phân biệt con Nghê và con Lân 
Con Nghê là linh vật đặc biệt của văn hoá Việt Nam, con Lân thuộc văn hoá Trung Hoa. Về hình dạng, con Lân trông giống sư tử, mà có sừng, chân như chân trâu, thân hình tròn mập, có vẩy như vẩy rồng, miệng ngậm quả cầu, hay ngồi chống chân lên quả cầu. Con Nghê có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, chân như chân chó, dáng thanh, trông rõ ràng dáng chó chứ không tròn mập như dáng như sư tử, đuôi Nghê dài, vắt ngược lên lưng, đuôi Lân ngắn, xòe như cánh chim hay cuộn tròn như đuôi thỏ.
Bát hương con Nghê Hình trích từ Vietnam ceramics, A separate tradition, John Guy và John Stevensen, Avery Press 1997 Một số người lại còn tưởng lầm con Nghê là con sư tử. Bởi vì chữ “Nghê” (hay “toan nghê”) trong chữ Hán vốn có nghĩa là con sư tử. Tuy nhiên phải để ý rằng có nhiều chữ Hán-Việt mà nếu ta tra tự điển Tầu, thì lại có nghĩa khác hẳn, bởi vì ông cha ta rất nhiều khi mượn chữ Hán nhưng lại đổi nghĩa đi mà dùng (người Pháp khi nghiên cứu về Việt Nam thì lại thường học chữ Hán của người Tầu, tra cứu sách Tầu viết về Việt Nam - chứ không tìm hiểu thẳng vào văn hoá Việt - nên nhiều khi sai nghĩa, sai sự việc rất xa. Người Pháp cũng vì học theo Tầu nên đã sai theo, cũng như từng theo sách Tầu mà gọi sai nước ta là An Nam, trong khi các văn thư cổ của triều đình Huế thì chỉ dùng chữ Việt Nam hay Ðại Nam. Trong quyển Chơi chữ, Lãng Nhân đã từng đưa ra vài ví dụ như: “tử tế” có nghĩa là “tinh mật, kỹ lưỡng” ta lại quen dùng theo nghĩa hiền hậu; “lịch sự” có nghĩa là “trải đời” ta dùng là “sang trọng”, “trân trọng” nghĩa là “quý trọng” lại bị đổi là “nghiêm cung, kính trọng”... Trong cách thức đó, ông cha ta đã không cần để ý đến chữ “Nghê” có nghĩa là con gì trong chữ Hán, mà cứ lấy đó để đặt tên cho “chó đá hoá linh”. Nếu ai đã từng nhìn thấy tượng con Nghê thì cũng đều nhận thấy rằng đó là con chó đang ngồi chứ không phải là con lân hay con sư tử. Vài nhà nghiên cứu đã không có cơ hội này nên chỉ biết theo sách của người Pháp, tự điển của người Tầu mà lầm con nghê Việt Nam ra con sư tử hay con lân của Tầu. Chúng tôi chủ trương rằng nghiên cứu đồ cổ thì phải nhìn thấy tận mắt, tốt hơn nữa là được cầm trong tay, và được nghe từ tiếng nói dân gian trong thôn làng xưa rồi suy ngẫm, tra cứu, đối chiếu. Vì thế, ngoài những hình chạm khắc trên cốn, tượng con nghê trên đầu đao, trên cổng các ngôi đình làng cổ ở miền Bắc, lời chỉ dẫn của các cụ già, chúng tôi còn dựa sự quan sát của mình trên các tượng con nghê, các nậm rượu trong bộ sưu tập đồ cổ của riêng mình. 
Thời thịnh đạt của con Nghê 
Trong những thế kỷ Bắc thuộc, khi người Trung Hoa làm đủ mọi cách để hủy diệt văn hoá Việt Nam, như tịch thu, hủy diệt và cấm làm trống đồng, bắt người Việt đổi theo họ Tầu (vì thế những họ cổ Việt Nam như họ Thi (Thi Sách), họ Trưng (Trưng Trắc)... không còn nữa....), thì không biết ông cha ta có làm hình tượng chó đá và con Nghê không? Quan sát cách sinh hoạt của người thượng trên các miền cao nguyên, ta thấy rằng con chó vẫn là con vật rất quan trọng của đời sống thôn dã. Vậy thì ai có thể quả quyết rằng, chó đá, con Nghê không được phát sinh từ thời xa xưa? Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa có dịp may mắn được thấy các hình ảnh hay vật tích hình con Nghê của thời đại cổ xưa này. Ước rằng có người với những phương tiện đầy đủ sẽ làm các việc khai quật nghiên cứu và tìm ra di tích con Nghê từ thời xa xưa. 
Sau khi Ngô Quyền khởi lại thời tự chủ, sau khi Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn tổ chức lại trật tự trên đất nước ta, nhà Lý, nhà Trần, rồi nhà Lê nối ngôi dựng lại nền văn hoá thuần Việt rực rỡ, phong phú. Bắt đầu từ Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long, người Việt bừng lên khí thế dân tộc. Giống như thời Hùng Vương thuở trước, từ đây cùng văn học, xã hội, chính trị, nghệ thuật tạo hình của người Việt phát triển rực rỡ, phối hợp bản chất dân tộc với ảnh hưởng Trung Hoa và Ấn Độ, tạo nên một nền văn hoá thuần Việt, song song và biệt lập với văn hoá Trung Hoa. 
Trong bối cảnh văn hoá rực rỡ ấy, với sự nẩy nở của những nghệ phẩm, tác phẩm Việt Nam, sự phát triển của kiến trúc đình chùa, sự phát triển của giới quý tộc, trưởng giả càng đòi hỏi nhiều hơn nữa những phẩm vật tế tự, sinh hoạt và trưng bày. Khung cảnh và nhu cầu này đưa đến biết bao phát triển của nghệ thuật tạo hình. Nhu cầu tinh thần, nhu cầu vật chất được đáp ứng bởi bàn tay, khối óc của các nghệ nhân Việt lúc nào cũng xông xáo sáng tạo. Biết bao kiến trúc, cung điện, đình chùa mới mái cong thuần túy Việt được dựng lên. Đồ gốm Việt Nam bừng lên tổng hợp kỹ thuật và sắc men Trung Hoa với dạng thức, nét vẽ, và phong cách hoàn toàn Việt Nam. Từ đây những bình, ấm, tô, chén đĩa... những món đồ Lý Trắng, Lý Nâu, Lý Lục, Lý Đen, những món đồ men ngọc, chuyển qua những món men trắng hoa chàm của đời Trần, đời Lê tuyệt vời, được sản xuất mạnh mẽ; rồi tiếp theo đó, sang thế kỷ XIV, XV, XVI là thời của gốm Chu Đậu, thời tuyệt đỉnh của đồ gốm Việt Nam, với biết bao phẩm vật xuất cảng sang vùng Ba Tư, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nhật Bản... 
Bình trầm hương thời Chu Ðậu, thế kỷ 16, 17, hình trích từ Vietnam ceramics, A separate tradition, John Guy và John Stevensen, Avery Press 1997. Dựa trên số lượng và phẩm tính của những con Nghê trong các viện bảo tàng và bộ sưu tập của các tư nhân, ta thấy rằng thời thịnh đạt nhất của con Nghê là từ đời Lý cho đến cuối đời Tây Sơn (thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII). Suốt từ đời Lý, con Nghê được trọng dụng ở khắp mọi nơi, từ những ngôi nhà dân dã, từ cung đình, cho đến lâu đài, đình chùa, lăng miếu... Đến cuối đời Lê, loạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước đi vào 300 năm khói lửa, nhưng không vì thế mà văn hoá Việt điêu tàn, mà trái lại càng phát triển mạnh thêm về mọi mặt (thơ văn, kiến trúc, khắc gỗ, gốm sứ...). Trong suốt 8 thế kỷ này, các bình hương trầm, các nậm rượu, và các tượng hình con Nghê là những món không thể thiếu ở nơi tế tự, ở các nhà trưởng giả cho đến nhà bình dân.
K.D (st)

Bình yên Cát Cát

Từ trung tâm huyện Sapa, đi thêm chừng 2km qua những con đèo cua tay áo đặc quánh sương sa, một bên là vách núi, xa xa là những thửa ruộng bậc thang xanh rì, những triền núi hùng vĩ, làng Cát Cát (xã San Sả Hồ, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai) là một điểm đến hấp dẫn ở vùng cao Tây Bắc.
Đồng bào Mông đến cư ngụ tại Cát Cát từ giữa thế kỉ XIX. Với cảnh quan thiên nhiên kì thú, yên bình cùng những phong tục, sinh hoạt văn hóa đặc sắc, làng Cát Cát giờ đây là điểm du lịch hấp dẫn với nhiều du khách. Năm 2004, Công ty Du lịch tỉnh Lào Cai đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, làm mới con đường vào làng Cát Cát, xây dựng làng thành Khu du lịch Cát Cát nhằm bảo tồn và khai thác những nghề truyền thống của người Mông, đồng thời đã mở ra một hướng đi mới cho du lịch nơi đây.
Cây cầu Si thơ mộng bắc qua suối Cát Cát.
Những nếp nhà mái lợp gỗ pơ mu cổ kính.
Khách du lịch khám phá bản làng Cát Cát.
Người Mông ở Cát Cát chủ yếu sống trong những căn nhà ba gian lợp ván gỗ pơ mu, theo phương thức quần cư. Dọc theo con đường xuống bản là những nóc nhà lô xô tựa lưng vào sườn núi, bên cạnh là những thửa ruộng bậc thang xanh rì - nơi canh tác của người Mông.
Đến nay, người Mông ở làng Cát Cát còn lưu giữ được hầu như nguyên vẹn nhiều phong tục, tập quán độc đáo xưa như tục kéo vợ, tục tổ chức lễ cưới, cùng nhiều nghề thủ công truyền thống.
Trên con đường gạch mấp mô với những bậc tam cấp dẫn lối xuống bản, chúng tôi thấy những người phụ nữ Mông đang cần mẫn dệt vải, khâu vá trong những căn nhà nhỏ ven đường. Qua khung dệt cổ, với bàn tay khéo léo tài hoa, những người phụ nữ Mông đã tạo ra nhiều sản phẩm thổ cẩm đẹp mắt, màu sắc, hoa văn, chi tiết tinh xảo như túi, mũ, quần áo, váy, ví, túi thổ cẩm, khăn quàng.
Chị Giàng Thị Pao, một người dân ở làng Cát Cát, vừa tiếp chuyện chúng tôi, tay vừa thoăn thoắt tuốt lanh, se sợi, dệt vải. Ngoài nghề dệt, làng Cát Cát còn có nghề chạm bạc truyền thống độc đáo với sản phẩm phong phú, đa dạng về chủng loại song chủ yếu là trang sức của phụ nữ như vòng cổ, vòng tay, nhẫn… Ngoài ra, điêu khắc đá cũng là một nghề đã tồn tại từ nhiều đời, nay đem lại thu nhập ổn định cho nhiều người dân nơi đây.
Hướng dẫn viên du lịch người Mông giới thiệu vẻ đẹp của Cát Cát với du khách.
Những căn nhà nhỏ bên dòng suối Cát Cát.
Khám phá nghề dệt của người Mông.
Du khách được xem màn trình diễn múa khèn của người Mông làng Cát Cát.
Để phát triển tiềm năng du lịch vùng Cát Cát, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã triển khai thực hiện nhiều chương trình như: “Ngày hội văn hóa bản Mông Cát Cát”, chương trình du lịch trải nghiệm “Một ngày làm nông dân người Dao” và “Một ngày làm cô dâu người Mông”. Tham gia những chương trình này, du khách sẽ được khám phá và trải nghiệm nhiều điều thú vị từ đời sống và văn hóa của đồng bào Mông trên bản vùng cao bình yên Cát Cát.
(Theo BAVN)



Bản Mông dưới chân núi Hoàng Liên Sơn

Mỗi khi đêm xuống, bản Cát Cát như chìm trong giấc ngủ êm say, giữa rì rào gió rừng và âm thanh róc rách vọng lên từ những dòng suối.

Và khi ngày mới được đánh thức bởi tiếng gà gáy quen thuộc, thì cả Cát Cát lại sôi động hẳn lên với tiếng xe máy cài số, rồ ga leo dốc lên phía trung tâm thị trấn Sa Pa, tiếng trống trường rộn rã thung lũng nhỏ, tiếng trẻ nhỏ í ới gọi nhau đến lớp...

Từ trung tâm thị trấn Sa Pa (Lào Cai), đi khoảng gần ba cây số, từ phố nhỏ Phan-xi-păng qua con dốc sâu hút, ngoằn ngoèo là đến bản Cát Cát thuộc xã San Sả Hồ, nơi có 100% người dân tộc Mông đen sinh sống. Cát Cát là bản có từ lâu đời, nằm dưới chân dãy núi Hoàng Liên Sơn, trong thung lũng với ba bề, bốn bên là núi. Từ trên cao nhìn xuống, những mái nhà lợp bằng ván gỗ hay những tấm lợp xi-măng đã ngả mầu thâm xám, nhấp nhô dưới những rặng cây.

Ðường xuống Cát Cát là độc đạo, hết đoạn đường dốc được trải thảm bê-tông thì đến những bậc thang lát đá. Gần 80 hộ dân của bản hầu hết nằm dọc theo con đường này, một số nằm rải rác trên các sườn núi. Ði khoảng mấy trăm mét bậc thang, qua cây cầu Si bắc ngang con suối Tiên Sa là trung tâm Cát Cát, nơi hội tụ của ba dòng suối ngày đêm rì rầm chảy: suối Tiên Sa, suối Vàng, suối Bạc.

Khi tôi đến, Nhà văn hóa của bản đang rộn rã tiếng khèn, tiếng hát và điệu múa xòe ô của những chàng trai, cô gái người Mông, giới thiệu với khách du lịch thập phương về nét văn hóa độc đáo của bản mình.

Một phụ nữ đến từ Hà Lan - đất nước hoa tuy-líp, trên tay cầm chiếc váy thổ cẩm mới mua, được may cách điệu trên tấm vải do chính tay người phụ nữ Cát Cát dệt nên, vừa xem văn nghệ, vừa luôn miệng tấm tắc: "Thật hay, thật độc đáo".

Chị Má Thiên Tân, có bố là người Mông, mẹ là người Kinh, chủ một sạp hàng cạnh Nhà văn hóa bản cho biết, khách du lịch nước ngoài đến đây đều thích thú vẻ hoang sơ của cảnh vật, con người Cát Cát, và họ thường mua một vài sản phẩm truyền thống của người Mông ở đây làm kỷ niệm. Với sạp hàng lưu niệm nhỏ, bán cùng một vài sản phẩm nông sản đặc trưng như cơm lam, thịt lợn bản nướng,... chị Má Thiên Tân thu nhập đều đều khoảng trên dưới 200 nghìn đồng mỗi ngày; lại thêm nghề chăn nuôi, trồng cấy, vợ chồng chị tạm đủ lo cho ba con đang học ở thị trấn Sa Pa.

Mùa này, ở Cát Cát, lúa trên ruộng bậc thang đã gặt xong, thảo quả trên rừng cũng qua mùa thu hoạch, hầu hết phụ nữ đều ở nhà cần mẫn bên khung cửi, xe sợi, tước lanh, thêu dệt những sản phẩm truyền thống của người dân tộc Mông, hoặc bày bán những sản phẩm do chính họ làm ra như khăn, mũ, áo váy, đồ trang sức bằng bạc, đồng chạm khắc tinh tế. Dù cuộc sống đã có nhiều thay đổi, nhiều nhà đã có xe máy thay ngựa, bản Cát Cát đã trở thành điểm du lịch sinh thái thu hút hàng nghìn lượt khách du lịch mỗi năm, nhưng trang phục truyền thống của người Mông vẫn được dân bản gìn giữ.

Với phụ nữ Mông là khăn, váy áo, thắt lưng, xà cạp, quần, và đồ trang sức. Khăn là tấm vải chàm hình chữ nhật quấn quanh đầu, áo mặc trong mầu chàm, xẻ ngực, áo khoác ngoài có thân dài, cổ áo thêu hoa văn theo mô-típ họa tiết cổ. Hai ống tay áo thường thêu những đường vằn ngang đủ các mầu. Thắt lưng được làm bằng vải có tua ở hai đầu, giữa thêu các họa tiết. Quần lửng qua đầu gối, bắp chân quấn xà cạp mầu chàm. Ðàn ông người Mông phần lớn vẫn đội chiếc mũ làm bằng vải lanh, gồm tám miếng vải khâu ghép, mặc áo trong xẻ nách ngắn, áo khoác ngoài dài. Cổ áo thêu hoa văn móc câu kiểu hoa văn đơn; quần chàm mầu đen, ống rộng.

Tuy nhiên, do sự phát triển của đời sống, rồi tiếp xúc, trao đổi, học hỏi,... một số phụ nữ người Mông đã có kiểu kết hợp trang phục nửa truyền thống, nửa hiện đại với áo phông, quần ống rộng, hoặc váy xòe, đầu đội khăn Mông...

Trẻ em Cát Cát sinh ra đã thở hơi thở của núi rừng. Những đứa bé một, hai tuổi, vừa biết đi đã ton tón chạy nhảy trên những bậc cầu thang mấp mô mà không hề bị ngã. Lớn thêm chút nữa, những ngày nắng nóng, chúng cõng nhau ra suối tắm ì ụp, rồi nằm phơi mình trên những tảng đá dưới suối mà bố mẹ chúng chẳng phải lo lắng. Trước đây, hầu hết bà con người Mông ở Cát Cát không biết chữ, không nói được tiếng Kinh, nhưng nay con trẻ đến tuổi đi học đều được đến trường.

Cô giáo Hoàng Thị Hà, quê ở Hà Nam, sinh ra và lớn lên tại Sa Pa - người đã gắn bó hơn hai chục năm ở đây cho biết: Trường tiểu học San Sả Hồ có ba điểm trường cách nhau khá xa ở Cát Cát, Sín Chải, đồi Pù. Toàn trường có 17 cô giáo phụ trách 17 lớp, mỗi lớp có khoảng 25 đến 28 học sinh. Là giáo viên vùng cao, các chị phải vừa là cô, vừa là mẹ, vừa dạy lại vừa dỗ học sinh để các em vui vẻ đến lớp. Ở Cát Cát, gia đình người Mông hay trồng thảo quả trên rừng, khi bố mẹ đi rừng thì các em phải ở nhà trông em, nên thường xuyên nghỉ học.

Bởi vậy, ngoài việc vận động, làm công tác tư tưởng với các gia đình để họ cho con em đến trường, hằng ngày, các cô giáo phải dậy từ 5 giờ sáng, đến tận nhà các em hay nghỉ học để gọi đến lớp. Ðiểm trường ở đồi Pù, cách bản Cát Cát khoảng 4 đến 5 cây số đường rừng, đi bằng xe máy đến Sín Chải, rồi đi bộ đến trường.

Ngày học hai buổi, các em nhà xa thường mang cặp lồng cơm để ăn trưa tại trường. Cặp lồng chỉ có cơm không, đến trường cô giáo nấu thức ăn, các em ăn cùng.

Ðể động viên học sinh, các cô giáo góp tiền mua bóng cho học sinh nam đá, mua dây cho các em gái nhảy dây, để các em cảm thấy mỗi ngày đến lớp là một ngày vui. Các cô còn tổ chức quyên góp quần áo ấm, mua bánh kẹo thưởng cho học sinh chăm ngoan vào cuối mỗi tuần. Cô giáo trải lòng: "Vất vả là thế nhưng nhìn trẻ vui là cũng vui, nhất là thấy nhiều em học giỏi, viết chữ rất đẹp, chúng tôi như có thêm động lực, yêu nghề, gắn bó với trường, với lớp".

Góp thêm vào câu chuyện học hành, anh Vàng A San, Chủ tịch Hội Nông dân xã San Sả Hồ, có vẻ... bẽn lẽn khi thổ lộ sự vất vả phải nuôi bốn đứa con đang tuổi lớn, khi anh mới 29 tuổi, còn vợ mới chỉ 25 tuổi:  "Trót đẻ nhiều con, sai rồi. Bây giờ nuôi chúng vất vả.

Làm  cán bộ xã được hơn một năm nay, được học nhiều, hiểu ra nhiều để hướng dẫn dân bản cùng thực hiện các chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ðời sống dân bản Cát Cát hiện đã khá lên nhờ thảo quả và nghề truyền thống, thu nhập trung bình của gia đình mình khoảng 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng/năm, nên cố cho các cháu học hành đầy đủ. Mình phải làm gương, để vận động bà con làm theo". Những năm qua, chính quyền và nhà trường đã có nhiều biện pháp phối hợp trong công tác vận động đưa trẻ trong độ tuổi đến trường, tuy nhiên vẫn còn nhiều gia đình chưa thông, nên tỷ lệ đi học mới đạt hơn 70%.

Anh San kể, có trường hợp đến nhà vận động, gia đình không hợp tác hoặc không cho vào nhà bằng cách cắm cành lá trước cổng (một phong tục người Mông, là dấu hiệu báo chủ nhà không tiếp khách). "Nhưng chúng tôi rất cương quyết, đến ba lần mà gia đình vẫn không cho trẻ đi học sẽ bị phạt tiền hoặc tạm giữ đồ dùng trong nhà, đến khi các cháu đi học sẽ trả lại".

Về chuyện cúng ma của người Mông anh Vàng A San cho biết, người Mông coi cúng ma là một trong những tục không thể thiếu trong đời sống hằng ngày, cúng ma để trừ tai họa, người ốm cũng cúng, vật ốm cũng cúng... Theo quan niệm cũ, gặp điềm gở như vậy là do đã bị ma bắt mất vía. Ma đã bắt mất vía thì cả người và vật sinh ra đau ốm, dần dà rồi chết. Vì thế, gia chủ bắt buộc phải làm lễ cúng ma. Trước khi làm lễ cúng ma, bà con họ hàng, làng bản góp gạo, rượu, tiền xu... để làm lễ.

Tùy theo khả năng mỗi người sẽ cho gạo, rượu, gà, tiền và chúc phúc cho gia chủ  làm lễ thành công để tai qua nạn khỏi. Cúng ba ngày không khỏi mới đi mời cán bộ y tế, hoặc đưa đến cơ sở y tế xã... Câu chuyện của chúng tôi đang dở thì Má A Sàm, em vợ của Vàng A San đến chơi, trên tay đeo sợi dây đỏ, chứng tỏ Sàm đang dự lễ cúng ma. Sàm là một thanh niên Mông nhanh nhẹn, tân tiến, không mặc quần áo người Mông, thạo tiếng Kinh, biết nói tiếng Anh, tiếng Pháp, vì Sàm được đi học để làm hướng dẫn viên du lịch cho các "tua" khám phá Phan-xi-păng.

Sàm bảo: "Em chỉ ngồi một lúc thôi vì đang dở làm lễ cúng ma cho đàn lợn con vừa đẻ đã  bị chết".

- Thế cúng ma cho lợn cần những gì? - Tôi tranh thủ tìm hiểu.
- Phải mổ lợn, gà, dê, chim, rắn, ếch... nghĩa là đủ 12 con vật để tế. Cúng từ sáng tới giờ vẫn chưa xong (lúc ấy khoảng 5 giờ chiều).
- Cúng mấy con lợn con mà tốn kém thế thì...?
- Không cúng, "nó" về bắt luôn cả lợn mẹ đi ấy chứ.

Người Mông ở Cát Cát vẫn còn niềm tin về "thế giới siêu nhiên" như vậy, nên rất thành tâm. Tục cúng ma  đã tồn tại nhiều đời nay, ăn sâu bám rễ trong tâm thức của dân bản, có lẽ sẽ còn tồn tại một thời gian nữa, khi tính thiết thực của công tác y tế, của hoạt động bảo vệ môi trường và công tác vệ sinh phòng dịch... mang lại hiệu quả cao sẽ thuyết phục được bà con hướng theo các chuẩn mực của cuộc sống mới.

5 giờ chiều. Tiếng trống tan trường đã vang lên. Ðàn em nhỏ ríu rít kéo nhau về bản, trên tay mỗi bé là chiếc cặp lồng, còn sách vở để lại ở lớp. Quần áo, chân tay, mặt mũi đứa nào cũng lấm lem nhưng nụ cười thì luôn tươi rói, thân thiện khi gặp khách du lịch đi ngang qua. Vừa chia kẹo tôi vừa tranh thủ "đố" các em bài toán nhỏ, và rất nhanh nhận được kết quả chính xác. Ðó là tín hiệu vui cho một tương lai không xa của bản Cát Cát.

Du lịch, GO! - Theo báo Nhân Dân, ảnh internet

Thơm ngon cơm Pồi của dân tộc Chứt ở Quảng Bình

Dân tộc Chứt hiện có 1.204 hộ với 5.438 khẩu, gồm 5 nhóm địa phương: Sách, Mày, Rục, A rem, Mã liềng, cư trú chủ yếu ở các huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá, Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình). Cũng như các dân tộc khác trong vùng, lương thực chủ yếu của dân tộc Chứt là ngô, sắn, lúa nương và các loại củ quả (chất có bột) được khai thác trong rừng.
Người Chứt có món cơm pồi được chế biến rất công phu. Nguyên liệu để làm món cơm pồi gồm: ngô hạt, lúa nếp nương, sắn củ. Ngô hạt ngâm nước trong khoảng nửa ngày, vớt ra để ráo, rồi cho vào cối giã mịn; lúa nếp nương giã loại bỏ vỏ trấu rồi giã gạo mịn thành bột; sắn củ bóc vỏ, thái mỏng, ép dập, vắt kiệt nước. Khi các nguyên liệu đã chuẩn bị xong, đồng bào trộn đều nguyên liệu với một ít nước lã, muối rồi cho vào ống tre, lấy lá chuối rừng nút chặt phần miệng để giữ nhiệt cho cơm mau chín. Để cho ống khỏi nứt, đồng bào dùng dao tước bỏ phần vỏ cứng bên ngoài của ống tre. Những ống tre đặt trên lửa than độ một giờ đồng hồ. Đến lúc có mùi thơm toả ra là cơm pồi đã chín. Cách nấu này giống với cách nấu cơm lam của một số DT thiểu số của các tỉnh phía Bắc, chỉ khác thành phần nguyên liệu.
Cách nấu thứ hai là bỏ các ống tre có đựng cơm pồi vào nồi, dựng miệng ống có bịt lá chuối lên trên, đổ nước vào đun cho đến khi nào toả ra mùi thơm là được.
Cách nấu thứ 3 giống cách đồ xôi của người Việt. Hiện nay cách nấu này tương đối phổ biến bởi vì tiện dụng. Nguyên liệu được cho vào chiếc chõ bằng gỗ, giữa chõ đặt một tấm phên nứa, lót lá chuối rừng trước khi đổ nguyên liệu vào đồ lên.
Trong 3 cách nấu trên thì cách hơ than có hương vị đặc biệt nhất: cơm pồi có vị thơm của lớp lụa tre rừng, độ dẻo cao.
Đồng bào Chứt thường ăn cơm pồi với canh rau rừng, nấu với các loại cá, ốc hoặc thịt thú rừng chặt thành miếng vừa phải đem nướng hay ướp muối, cho vào ống tre vùi trong lửa than.
K.D (st)

Đình Khinh Dao- một di sản quý ở Hải Phòng

Trong tổng số hơn 100 di tích lịch sử -văn hoá được công nhận cấp quốc gia tại Hải Phòng, đình Khinh Dao ở  xã An Hưng (An Dương) có quy mô kiến trúc, cảnh quan bề thế, trang trí nghệ thuật phong phú, là di sản quý của thành phố.
Bảo tồn nét kiến trúc thời Lê
Đình nằm ngay trên cánh đồng làng Khinh Dao, trên mảnh đất vuông vắn, phía trước có ao sen tạo không gian thoáng đãng, cảm giác thư thái cho du khách khi đến thăm, chiêm ngưỡng. Vào mùa hè, sen hồng nở rộ, tỏa hương thơm ngào ngạt khuôn viên đình. Đặc biệt, di tích bảo tồn được nhiều nét kiến trúc thời hậu Lê thế kỷ 18. Trước cửa đình trang trí cuốn thư lớn, trên có khắc một bài thơ chữ Hán. Đình có 2 cổng uy nghi, dáng dấp như một khải hoàn môn ở phương Tây, nhưng vẫn mang nét kiến trúc truyền thống phương Đông. Hai bên cột đồng trụ cả 2 mặt trong và ngoài đều đắp nổi câu đối bằng loại chữ đỉnh (khi viết có hình dáng như đỉnh hương).
Qua khoảng sân rộng là đến trước cửa đình. Đình Khinh Dao xây dựng theo kiểu chữ đinh truyền thống gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, mái lợp ngói mũ hài, đầu mái đắp hình đao cong kiểu rồng chầu phượng mớm, bờ nóc mái đắp hình đao cong kiểu rồng chầu mặt nhật. Đây thực sự là công trình kiến trúc đồ sộ, bởi quy mô của  lớp lớp cột cái, cột quân, kèo, xà thượng, xà hạ…trải khắp 5 gian bái đường. Toàn bộ hệ thống cột cái, cột quân đều đặt trên các chân tảng đá. Phần trên đục dải hoa văn ôm chân tảng. Nhờ có chân tảng cao nên các chân cột gỗ không bị ngấm nước, tạo độ bền vững cho công trình. Điểm đặc biệt nữa  của đình Khinh Dao là có 7 hiên đình bằng gỗ khá rộng bản, trang trí điêu khắc cầu kỳ với các đề tài hoa lá, rồng, mây…
Tòa hậu cung, nơi an tọa của thành hoàng làng, có quy mô 3 gian.Các vị thành hoàng được làng tôn thờ là Phạm Đình Trọng, cùng 6 vị thần thời Hùng Vương. Trong đó, thành hoàng Phạm Đình Trọng lúc sinh thời có nhiều công  với dân làng như dựng đình, làm văn từ, văn chỉ… So với gian tiền đường, hậu cung, có kích thước nhỏ hơn nhưng trau chuốt, duyên dáng. Tường hồi mái phía ngoài hậu cung cũng thể hiện mái đao cong, đắp nổi rồng chầu phượng mớm. Nhìn bên ngoài tường hồi mái trông giống như kiểu kiến trúc chữ nhị.  
Tôn thêm vẻ đẹp truyền thống
Trải qua thời gian, đình Khinh Dao không tránh khỏi sự xuống cấp. Để bảo tồn di tích này, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương, năm 2007, đình được tôn tạo, tu bổ bằng nguồn vốn đầu tư của Trung ương và địa phương, tổng giá trị  khoảng hơn 11 tỷ đồng. Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch làm chủ đầu tư, Công ty Tu bổ di tích và thiết bị văn hoá trung ương là đơn vị thi công.
Xác định rõ vị trí, ý nghĩa, giá trị lịch sử văn hoá của di tích, chủ đầu tư và đơn vị thi công bàn bạc, tìm giải pháp khắc phục khó khăn, thi công công trình đạt hiệu quả cao nhất về kỹ, mỹ thuật. Đến đầu năm 2011, công trình tu bổ, tôn tạo đình Khinh Dao hoàn thành, đưa vào sử dụng, gồm: đại đình diện tích 328m2, phương đình: 46m2, hai cổng và bình phong, sân vườn, một số hạng mục công trình phụ trợ, tường rào.
Chủ tịch UBND xã An Hưng Lưu Văn Hoan cho biết: “Địa phương tích cực vận động nhân dân bảo vệ, gìn giữ các di vật quý mà đình bảo tồn được. Đó là một số đồ thờ tự như nhang án, bát biểu, đại tự, câu đối, ngai thờ, kiệu bát cống.
Trước Cách mạng Tháng 8, lễ hội đình làng được tổ chức một năm 2 lần vào tháng 3 và tháng 11 âm lịch. Trong đó, tháng 3 là lễ hội chính, được thực hiện đầy đủ các nghi thức. Một trong những nghi trọng tâm của lễ hội đình là rước bài vị thành hoàng làng từ các miếu tập trung về làng, sau đó tổ chức tế. Bên cạnh phần tế lễ, trong lễ hội còn có rước lợn ông Bồ. Theo quy định của làng, người nào nhận ruộng lộc điền thì năm đó phải nuôi lợn ông bồ, góp rượu, hoa quả cho lễ hội. Hiện, tại bậc thềm gian trung tâm của đình vẫn còn dấu tích của loại thước để đo kích thước lợn. Vào những năm được mùa, phần hội còn có nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như hát xướng, vật, cờ, chọi gà. Ngày nay, lễ hội đình làng vẫn được duy trì với đầy đủ nghi thức tế lễ và trò chơi dân gian. Tuy nhiên, nghi thức rước lợn ông Bồ chưa được khôi phục.
Trải qua hàng trăm năm tồn tại, nay nằm cạnh  khu công nghiệp hiện đại của thành phố, khu công nghiệp Nomura Hải Phòng, đình Khinh Dao với vẻ cổ kính, độc đáo về kiến trúc, là điểm di tích văn hoá hấp dẫn du khách trong nước, quốc tế đến tham quan tìm hiểu. Dân làng Khinh Dao đã, đang và sẽ cùng nhau gìn giữ và bảo tồn di sản văn hoá này cho muôn đời sau.
(Theo Báo Hải Phòng)

Lễ hội đền Đức ông Trần Quốc Nghiễn

Đền Đức ông Trần Quốc Nghiễn (thuộc khu vực Bến Đoan - Hòn Gai - Quảng Ninh) là một di tích lịch sử nằm trong cụm di tích lịch sử văn hoá núi Bài Thơ bên bờ vịnh Hạ Long, Di sản Thiên nhiên Thế giới. Đền đẹp và có tiếng linh thiêng. Mới đây, Lễ hội đền Đức ông Trần Quốc Nghiễn đã được khai mạc, mở màn cho Tuần lễ Du lịch Quảng Ninh 2011.
Đức ông Trần Quốc Nghiễn là con trai cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, cháu đích tôn của An sinh vương Trần Liễu, cháu ruột của vua Trần Thái Tông. Ông đã lập được công lao to lớn trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống giặc Nguyên Mông cuối thế kỷ XIII và được phong là Khai Quốc Công của thời nhà Trần.
Để ghi nhớ công ơn của Đức ông, dân trong vùng đã cho lập đền thờ. Tuy nhiên, trong thời gian chiến tranh, đền bị xuống cấp, các hoạt động văn hoá tâm linh tại đền cũng bị ngưng trệ. Mãi đến năm 2008, Lễ hội đền Đức ông mới chính thức được phục dựng.
Đoàn rước kiệu quy mô nhất trong vòng 4 năm trở lại đây
Hình ảnh Đức ông và các tướng lĩnh hộ giá được tái hiện trong lễ rước
Đội rước cờ ngũ hành trên đường phố
Đội múa sinh tiền nam, một nét độc đáo của lễ hội
Múa rồng trên đường phố
Rước đuốc đêm là phần hội độc đáo nhất trong lễ hội Đức ông
Cầu nguyện trước khi thực hiện nghi lễ phóng đăng
Hàng nghìn người tham dự lễ phóng đăng trên biển để cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng
Lễ hội là dịp để người dân ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau thông qua những hình ảnh được tái hiện trong lễ hội như: Hình ảnh Đức ông Trần Quốc Nghiễn với các tướng lĩnh hộ giá vi hành qua các con phố, lễ rước đuốc thiêng, lễ thả hoa đăng... Lễ hội cũng là một hoạt động rất có ý nghĩa trong đời sống văn hóa tín ngưỡng và du lịch của Quảng Ninh. Năm nay là năm thứ tư Lễ hội đền Đức ông được phục dựng và tổ chức với quy mô lớn. Lễ hội thu hút đông đảo các tăng ni, Phật tử, nhân dân và du khách thập phương về dự.
Theo truyền thuyết, xưa kia ngôi đền từng là nơi dừng chân của những người đi biển. Họ vào đây để lấy nước ngọt, nhờ đó mà cuộc sống mưu sinh trên biển của họ được bảo đảm. Ngôi đền vì thế có tiếng rất thiêng, nó cứu giúp và truyền thêm sức mạnh cho những người đi biển khi gặp khó khăn, sóng gió trong cuộc đời.
Lễ hội đền Đức ông được chia làm hai phần chính. Phần lễ được diễn ra vào buối sáng gồm các nghi thức: Lễ rước Đức ông, biểu diễn múa lân - sư - rồng, lễ cầu an, cúng phóng sinh... Phần hội diễn ra vào buổi chiều gồm các trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ. Đặc biệt, buổi tối có lễ rước đuốc thiêng và lễ phóng đăng trên biển. Đây là nghi thức được người dân địa phương và du khách thập phương chờ đợi nhất vì nó mang một ý nghĩa to lớn về việc Đức ông luôn soi sáng và khai thông trí tuệ cho con người. Bên cạnh đó, việc thả hoa đăng trên biển cũng để cầu mong mưa thuận gió hoà cho những người đi biển và những người sống ven biển.
(Theo BAVN)


Tục cưới của người Vân Kiều

Để se duyên cùng một thiếu nữ người Vân kiều, chàng trai phải trải qua 3 lần tổ chức đám cưới với đầy đủ nghi lễ truyền thống. Phong tục được đúc kết từ nhiều đời nay chính là “liều thuốc thử” thú vị cho tình yêu của những chàng trai, cô gái Vân Kiều...
Khi bông hoa rừng vừa hé nụ đón mưa xuân, tiếng chim lảnh lót gọi bạn cũng là lúc trai gái người Vân kiều rạo rực chờ mùa trăng lên. Thời điểm này, bản làng như bước vào ngày hội. Sơn nữ gắn bó chiếc khung cửi suốt ngày đêm để dệt tấm thổ cẩm tinh xảo nhất. Tiếng chiếc sáo Khui, kèn Aman... cũng ngọt dần trên môi các chàng trai. Hội sim bắt đầu khi ánh trăng bàng bạc phủ khắp núi rừng. Trong khung cảnh ấy, nam thanh, nữ tú cùng nhau tụ tập ở nhà Xu.
Đêm tình yêu có điệu Oát, Xiêng, Tăng Y... hòa cùng tiếng kèn sáo. Chàng trai hồn nhiên bày tỏ: “Thương em đến nỗi sầu/ Nhớ em đến nỗi ốm/ Ước gì gan mật mình thuộc về nhau”. Cô gái nở nụ cười e ấp, đối lại: “Em ở chòi bên này thao thức chờ anh/ Muốn thổi kèn Aman nhưng lại thiếu một người/ Kèn Aman không thổi một mình/ Em biết thương ai bây giờ ngoài anh”... Hội sim cứ thế trải dài với lời hát đối đáp, câu chuyện bên ché rượu cần, nụ cười, cái liếc mắt tình tứ...
Hội sim có thể xem là điểm khởi đầu của tình yêu nam nữ ở miền núi rừng phía tây tỉnh Quảng Trị. Sau đêm hội chất ngất men say, các chàng trai, cô gái dần bỏ qua sự ngại ngùng để tìm hiểu nhau. Khi tình yêu đến độ chín muồi, họ sẽ xin hai gia đình được kết tóc ăn thề. Theo truyền thống, đôi bạn trẻ phải bước qua không ít rào cản. Đặc biệt, một đám cưới đầy đủ nghi lễ truyền thống sẽ được tổ chức đến 3 lần, có thể kéo dài từ năm này sang năm khác tùy vào điều kiện hai gia đình. 
Để chuẩn bị đón nàng dâu mới, gia đình nhà nam trước đó đã có một cuộc họp với đầy đủ các thành viên uy tín trong dòng tộc, bản làng. Tại đây, chủ đề chính là bàn về việc tổ chức đám cưới, phân công người đi đón dâu, kiểm tra lại số lượng sính lễ đã thỏa thuận...
Ngay hôm sau, già làng, trưởng bản sẽ cử người cùng chú rể đến thăm nhà gái. Số lượng người trong đoàn nhất quyết phải là số lẻ và bố mẹ chú rể không được phép có mặt. Lễ vật mang theo là một nồi đồng, 5 vòng hạt, vài chuỗi tiền xu, bạc trắng và một cây kiếm. Nồi đồng, vòng hạt, tiền xu và bạc trắng là món quà chàng trai dành tặng mẹ vợ để bày tỏ sự hiếu thuận. Cây kiếm là lời khẳng định ngầm với người cha rằngchàng rể sẽ hăng say lao động, luôn ở bên cạnh để bảo vệ vợ.
Khi nghe tin nhà nam đến, nhà nữ sẽ cử người tiếp đón. Đoàn rước dâu không được mời vào nhà ngay mà phải ngồi ở chiếc chiếu trải trước hiên và cùng tham gia hát điệu Oát, Xiêng, Tăng y... Sau đó, đại diện hai gia đình mới bàn sang chuyện sính lễ. Phía nhà nữ đề nghị con rể biếu thêm quà cho bố mẹ, ông cậu, em... của cô dâu thông thường là tiền giấy, tiền lẻ hoặc bạc trắng được bỏ vào những đôi bát.
Nếu gia đình cô gái chưa chấp nhận quà biếu, người làm mối sẽ mời già làng, trưởng bản phía nhà nữ sang nhà nam để tiếp tục thống nhất, phần nghi lễ tiếp theo do nhà nữ thực hiện. Gia đình cô gái làm một con gà, một con lợn biếu đoàn rước dâu và mời đoàn rước vào nhà. Đại diện hai họ đến trước bàn thờ, báo cáo với tổ tiên về việc con gái lớn có người đến dạm hỏi. Nghi lễ xong xuôi, nhà nam sẽ đưa cô gái về bản.
Khi đến nhà chồng, cô dâu bước vào cửa chính, đến gần phiến đá được đặt sẵn, mẹ chồng cầm gáo nước dội nhẹ vào chân con. Đây là nghi lễ hết sức quan trọng với ý nghĩa xóa đi những khó khăn, cầu chúc đôi vợ chồng trẻ gặp nhiều may mắn, sống hạnh phúc trọn đời. Sau đó, hai gia đình sẽ vào nhà để làm lễ Khơi Cu Da (kết nối thông gia). 
Nghi lễ xong xuôi, nhà nam chọn những con trâu, con bò lớn nhất giao cho nhà nữ để làm tiệc cưới. Buổi tiệc diễn ra trong tiếng cồng chiêng, mọi người uống rượu cần, múa hát suốt ngày. Tối hôm đó, hai gia đình tiếp tục bàn về chuyện sính lễ (nếu lúc trước không thống nhất). Thông thường, nhà nam biếu nhà nữ thêm tiền bạc, trâu bò và ông cậu phải có món quà xứng đáng nhất. Sau khi mọi việc được thu xếp ổn thỏa, mọi người tiếp tục hát đối đáp, chọc ghẹo nhau...
Ngày hôm sau, những người uy tín gọi đôi vợ chồng trẻ đến căn dặn phải sống có đạo lý, không được làm trái quy định của bản làng. Đặc biệt, cô gái được nhắc nhủ nhiều điều như cần yêu thương chồng con, hiếu thảo với cha mẹ, không được qua lại với người khác... Cũng trong ngày này, cô dâu mới theo chân mẹ chồng hoặc chị mang A nua ra suối xúc cá. Sự hiếu thảo, đảm đang của cô được đánh giá qua số cá xúc được để biếu cha mẹ chồng.
Lần cưới thứ hai thường được tổ chức cách lần đầu khoảng 1 đến 2 tháng. Tuy vậy, thời điểm này không ấn định mà lại linh động cho phù hợp với hoàn cảnh gia đình. Lần này, gia đình cô gái sẽ mời nhà nam sang chơi. Đây là dịp để bố mẹ chồng có cơ hội đến thăm nhà thông gia. Khi nhà nam đến, nhà nữ sẽ làm một con bò hoặc một con lợn để thiết đãi. Khi đôi vợ chồng sinh sống với nhau khá lâu, nhà nữ chủ động sang nhà nam để bàn về chuyện cưới lần 3. Tùy thời điểm và điều kiện thực tế mà gia đình nhà nam đồng ý hoặc khất lại.
Ở lần cưới này, nhà nam phải đưa lễ vật sang nhà nữ gồm một con trâu, một con bò, một con lợn; ngoài ra còn có rượu, bánh, thổ cẩm, cồng chiêng, đồ đồng... Lần này, đám cưới sẽ được tổ chức trang trọng ở nhà nữ để hàng xóm, họ hàng của cô dâu đến chung vui. Trong đám cưới, nhà nữ tiếp tục xin thêm lễ vật cho họ hàng hoặc yêu cầu nhà nam bổ sung thêm số lễ vật mà lần cưới thứ nhất còn thiếu. Đây cũng là điểm mốc đánh dấu việc chàng trai đã đưa cô gái về "dinh" thành công.
K.D (st)

Dân tộc Khơ Mú


Dân tộc Khơ Mú ở nước ta sinh sống tập trung ở các tỉnh như Nghệ An, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái... Mời quý vị xem video để biết thêm thông tin chi tiết về dân tộc Khơ Mú

.

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Cột kinh đá Ninh Bình - "ứng viên" di sản tư liệu thế giới

Chùa Nhất Trụ (chùa Một Cột) là ngôi chùa cổ từ thế kỷ 10 thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Chùa còn lưu giữ được nhiều cổ vật gắn với lịch sử hình thành kinh đô Hoa Lư, trong đó nổi bật nhất là cây cột kinh bằng đá nằm trước sân chùa.
Hiện, cây cột kinh bằng đá được các nhà nghiên cứu lập hồ sơ đề nghị Unesco công nhận là di sản tư liệu thế giới.
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở, thạch kinh chùa Nhất Trụ là một minh chứng sinh động cho nền nghệ thuật điêu khắc đá Việt Nam. Thạch kinh xuất hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 971, khi vua Tống cho khắc kinh Đại tạng lên cột đá để cúng dường. Chỉ hai năm sau, Nam Việt Vương Đinh Liễn, con trai Vua Đinh Tiên Hoàng đã cho dựng 100 cột kinh Phật bằng đá, khắc kinh Đà la ni ở Hoa Lư. Từ đây về sau tạo thành một dòng chảy thạch kinh trong văn hóa Việt Nam.
Kinh tràng Hoa Lư là biểu tượng của Pháp trong Tam Bảo nhà Phật (gồm: Phật, Pháp, Tăng), với mong muốn làm nên những cuốn kinh Phật bền vững tới muôn đời sau. Sau nhà Đinh, Lê Hoàn cho dựng thạch kinh ở chùa Nhất Trụ. Từ đây về sau nhân dân Việt Nam có truyền thống dựng Thạch Kinh trước điện thờ Phật.
Khi khai quật lòng đất cố đô Hoa Lư, cách đền thờ vua Đinh khoảng 2 km, các nhà khảo cổ đã tìm ra được gần 20 cột kinh thời Đinh. Đó là những cột đá có 8 mặt, dài trong khoảng từ 0,5m đến 0,7m. Trên tất cả các cột này đều có khắc bài thần chú Phật đinh tôn thắng đà la ni. Các cột đinh này được dựng trong các năm khác nhau. Trên một cột kinh tìm được năm 1964, ngoài bài thần chú trên, còn có một bài kệ bằng chữ Hán khá dài, liên quan đến Phật điện Đại Thừa.
Chùa Nhất Trụ là một trong những chùa cổ thời Đinh - Lê nằm trong khuôn viên kinh thành Hoa Lư còn tồn tại đến ngày nay. Chùa nằm ở vị trí trung tâm, là di tích quan trọng nhất trong quần thể di tích các ngôi chùa và vốn là nơi tu hành và họp bàn việc nước của các nhà sư thế kỷ 10 như Pháp Thuận, Khuông Việt và Vạn Hạnh.
K.D (st)

Lễ hội “Cà tảm mạn” của dân tộc Kháng

Lễ hội “Cà tảm mạn” là lễ gọi hồn hay còn gọi là lễ dậy hồn. Đây là loại hình tín ngưỡng dân gian không thể thiếu trong đời sống tinh thần của dân tộc Kháng.
Họ cho rằng, con người có 2 phần, phần hồn và phần xác luôn luôn gắn kết, giao hòa không thể tách rời. Khi người ốm, phần hồn rời khỏi xác và lưu lạc nơi rừng thiêng, nước độc, bị các thần cây, thần núi giữ lại. Từ đó, người Kháng thường làm lễ gọi hồn lưu lạc về nhập vào xác thì người ốm sẽ khỏi bệnh.
Chuyện xưa kể rằng: trong bản dân tộc Kháng có chàng trai tên là Ọi, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh và chăm làm nhất bản. Sau mùa làm nương, chàng bị ốm, ngày nào chàng Ọi cũng ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc, người chàng càng ngày càng gầy gò, da vàng, chân tay run rẩy, không cầm nổi con dao, cái cuốc. Đã hơn 3 tuần trăng sáng, lúa chín vàng trên nương, chàng uống đủ thứ lá rừng làm thuốc mà vẫn không khỏi bệnh. Biết chàng không còn sống được lâu, cha chàng bèn thịt gà và mời tất cả mọi người đến ăn cùng. Mỗi người bón cho chàng một miếng xôi cùng thịt gà và nói rằng “Đây là hồn cơm, hồn thịt của người khoẻ đem đến, ăn vào sẽ thành thuốc”, sau đó mọi người buộc vào tay chàng một sợi chỉ coi đó là sợi dây buộc phần hồn lưu lạc nhập vào chàng. Cũng từ ngày hôm đó chàng ăn được nhiều cơm, da chàng hồng hào trở lại, chàng khoẻ dần và đi làm nương cùng cha mẹ. Từ câu chuyện trên, trong bản có người ốm đều được làm lễ gọi hồn về. Đến nay, tại các bản của đồng bào dân tộc Kháng thường có một Pa Ả (thầy cúng) chuyên làm việc cúng lễ cho dân bản. Pa Ả đại diện cho dân bản để tiếp xúc với các thần linh, truyền lời khẩn cầu của người sống và cũng là người có uy tín, được dân bản tin và làm theo.
Từ lâu, quan niệm tín ngưỡng dân gian của dân tộc Kháng cho rằng: con người có 30 vía, 40 hồn phía trước, 50 hồn phía sau, trong đó có một hồn chính ở trên đầu, khi chết, hồn chính biến thành ma lành phù hộ con cháu, hồn còn lại biến thành ma dữ hay quấy nhiễu vòi ăn. Người ta còn tin nhiều loại ma khác như ma suối, ma bản... Trong bài cúng dậy hồn có câu:
“Ba mươi vía, bốn mươi hồn phía trước còn lạc trong rừng
Năm mươi hồn phía sau còn vương ở suối
Hồn ở đâu hồn hãy về nhà
Hồn chớ la cà rừng xanh, chớ quẩn quanh rừng rậm...”
Lễ vật cúng hồn gồm có xôi, thịt gà, rượu, bánh kẹo, hoa quả. Tất cả được bày trên bàn thờ. Thầy mo mặc áo cúng, đội mũ, tay cầm quạt. Bên cạnh thầy mo còn có 2 mo pí, mỗi lần thầy mo cúng, mo pí thổi theo cùng với giai điệu hành khúc để phù hoạ cho lời cúng của thầy thêm linh thiêng:
“Hồn ở đâu, hồn hãy về nhà
Về nhà mới có anh và chị
Về nhà có cha và mẹ bón xôi
Nếu còn lạc ở nương
Nếu còn vương ở ngoài ruộng
Đã có xôi kèm cá
Đã có gà kèm rượu...”.
Thầy mo kể hết các hồn của người thân, cùng bà con dân bản chờ đón hồn lưu lạc trở về cùng ăn cơm:
Hú... ba mươi vía, bốn mươi hồn đằng trước
Năm mươi hồn đằng sau
Cùng nhau về cho khoẻ
Từ nay hồn ở nhà
Ở cùng cha, cùng mẹ
Để sớm mai lên nương
Để sớm hôm xuống ruộng
Hồn về rồi hồn ơi!
Hú... hồn về rồi”. Thầy mo cầm con gà đưa lên đầu, lên trán, lên vai, lấy một miếng xôi cúng và ít thịt gà, chấm rượu xoa vào hai thái dương cho người ốm, buộc chỉ vào cổ tay cho người ốm và nói:
Đã có chỉ buộc tay
Có dây buộc hồn...
Đi xa biết đường về
Đã có thần che nắng
Đã có thần che mưa...”
Tất cả những người thân trong nhà và bà con dân bản đến dự lễ cúng hồn làm theo thầy mo, mỗi người cầm một sợi chỉ buộc vào tay người ốm, lấy xôi, thịt gà bón cho người ốm ăn và nói:
“Ăn thịt gà ngọt lưỡi
Ăn thịt lợn ngọt môi
Hồn ăn, hồn ở nhà...”.
Sau đó mọi người cùng ăn thịt, uống rượu tại mâm lễ để mừng đón hồn về nhà và trống chiêng cùng nổi lên, con trai, con gái từng đôi múa Hưn mạy, Tăng bu cho đến thâu đêm, suốt sáng.
Người được cúng hồn được giải toả tâm lý để chống chọi với bệnh tật, đồng thời, lễ cúng hồn còn răn dạy con cháu biết đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau để cùng phát triển kinh tế xóa đói nghèo.
K.D (st)