Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

“Vịnh Hạ Long” trên sông Đà


TTCT - Đà Giang như một dải lụa kỳ vĩ vắt qua vùng đất Tây Bắc của Tổ quốc. Nếu ngược từ lòng hồ thủy điện về phía thượng nguồn sẽ bắt gặp một “vịnh Hạ Long” trên sóng nước Đà Giang cực kỳ ấn tượng.
Du khách như lạc vào những cảnh sắc của truyền thuyết, huyền thoại về mảnh đất này.
Thung lũng Thung Nai tích nước xây dựng thủy điện Hòa Bình đã tạo nên một “vịnh Hạ Long” trên sông tuyệt đẹp - Ảnh: Hải Dương
Đà Giang được nhà văn Nguyễn Tuân mô tả bằng những ngôn từ đặc biệt nhất, khi thì hùng vĩ, hung dữ, lúc lại mềm mại, trữ tình, nhưng lại đẹp, rất đẹp. Bất kỳ ai một lần được ngồi trên con thuyền nhỏ bập bềnh ngược dòng Đà Giang sẽ không chỉ cảm mà còn tận tay “sờ” được vào vẻ đẹp kỳ bí đó. Bây giờ những người lái đò trên sông Đà không còn phải dùng đến nội công thâm hậu để chèo lái như ông lão mà Nguyễn Tuân đã khắc họa nữa. Đón du khách khám phá sông Đà ở bến thuyền Thung Nai (huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) là những chàng trai trẻ trên những chiếc thuyền máy.
Thử cảm giác mạnh
Khi đã rời xa bờ bến, những con sóng bắt đầu cuồn cuộn nổi lên đập vào mạn như muốn ăn tươi nuốt sống con thuyền nhỏ. Chiếc thuyền nhỏ chao đảo, bồng bềnh trên mặt nước. Du khách được dịp hò hét khi con thuyền vượt lên ngọn sóng dữ một cách ngoạn mục. Từ những ô cửa nhỏ trên thuyền, du khách có thể với tay chạm vào những con sóng màu nước xanh trong mát lạnh.
Chàng lái đò trẻ tên Duy (người huyện Cao Phong) bảo rằng tuy đã chở hàng trăm chuyến cho du khách ngược dòng Đà Giang khám phá cảnh sắc nơi đây, nhưng cứ mỗi khi ra đến giữa lòng hồ Thung Nai anh lại có cảm giác khác nhau. Duy kể xưa kia Thung Nai là một thung lũng lớn được những dãy núi cao, rừng rậm bao quanh, có rất nhiều hươu, nai nên người dân bản địa đặt tên là Thung Nai. Khi Nhà máy thủy điện Hòa Bình được xây dựng, Thung Nai trở thành hồ chứa nước khổng lồ với những hòn đảo xanh nhấp nhô trên sóng nước, tạo ra một cảnh quan được ví như “vịnh Hạ Long” trên sông.
Này là hòn đảo nhỏ với đỉnh được thiên nhiên tạo dựng như hình hài cơ thể một tráng sĩ đang gồng mình nhìn về phía bờ. Kia là những đảo nhỏ cao thấp, mấp mô với đám cây xanh mọc trên đỉnh nhô lên giữa dòng sông... Những tảng đá với đủ hình thù đã xếp chồng lên nhau để tạo nên các hòn đảo nhỏ. Hàng ngàn năm qua đảo đá vẫn đứng trơ gan cùng đất trời, bao cuộc mưa nắng mà chẳng hề mòn phai. Bao con sóng dữ ập tới mà đảo chẳng hề bị cuốn trôi. Con thuyền lướt nhẹ qua những hòn đảo để lại trong lòng du khách một cảm giác tuyệt vời rằng mình như đang đi giữa vịnh Hạ Long ở vùng cao này vậy. Sóng nước Đà Giang cũng đủ mạnh và dữ dội để du khách ấn tượng như đang đi giữa biển Đông hùng vĩ.
Những đảo đá nhỏ tạo nên “vịnh Hạ Long” trên sông - Ảnh: Hải Dương
Nghe huyền thoại, ngắm cảnh đẹp
Qua hơn chục kilômet đường thủy với những cảm giác vô cùng ấn tượng, giờ đây du khách sẽ được chàng lái thuyền cho cập bến vào tế lễ ở đền Bà Chúa Thác Bờ. Điều lạ đập vào mắt du khách là những con thuyền vàng mã khổng lồ. Chiếc nhỏ dài trên 2m, còn chiếc lớn dài đến 4-5m và được trang trí hết sức cầu kỳ. Nhiều chiếc thuyền được trang trí đầu rồng cùng những hình người đặc sắc, tinh xảo.
Từ TP Hòa Bình qua Thung Nai (Cao Phong), du khách sẽ có dịp ngắm nhìn khu hang động đẹp nhất miền Tây Bắc. Đó là động Thác Bờ (xã Ngòi Hoa, huyện Tân Lạc) nằm ngay trên bến Ngọc long lanh. Vào mùa nước cạn du khách sẽ phải leo bộ gần 100 bậc đá từ chân núi đến cửa động. Nhưng nếu vào mùa nước đầy thì du khách có thể dập dềnh từ thuyền sang nhà nổi, đi qua cầu phao được kết bằng những thân cây bương chạy dài khoảng 100m cho tới bậc đá lên động. Động Thác Bờ nằm ở sườn phía bắc của dãy núi Chủa nhìn ra mặt sông, cửa động cao tới 35m, rộng 25m.
Động có chiều sâu khoảng 150m với các khối nhũ đá hai bên bờ vách rất đặc sắc. Có cả một khối nhũ lớn mang hình tượng cá chép đang hóa rồng. Nhưng đặc sắc nhất mà du khách phát hiện ở động Thác Bờ là hình dòng nhũ khổng lồ đổ từ đỉnh xuống lòng động cao trên 10m. Màu vàng óng và hình dáng của khối nhũ đá này tựa như một ly kem xôi khổng lồ rất ngon lành. Động Thác Bờ được chia làm ba khu, ngoài lòng động với những khối nhũ đá kỳ diệu ra còn có khu vực tiếp du khách, khu thờ thần, Quan Âm, Phật Tổ...
Mệt mỏi sau hành trình dài leo đồi và khám phá hang động, du khách sẽ được tưởng thưởng “một chầu matxa” miễn phí tuyệt vời cho đôi chân trần. Đó là ngồi thư giãn trên con suối nhỏ trong vắt chảy ra từ lòng núi. Con suối nhỏ này chảy giữa lòng thung lũng rồi đổ ra sông Đà. Điểm cuối cùng của hành trình là một thác nước nhỏ, trong vắt như thể một sự sắp đặt tuyệt vời của thiên nhiên giúp mọi người gột rửa mệt mỏi của hành trình trước khi về nhà.
Bắt đầu khám phá hang động - Ảnh: Hải Dương
Khối nhũ đá khổng lồ trong động Thác Bờ - Ảnh: Hải Dương
Từ Hà Nội, du khách đi theo quốc lộ 6 khoảng 80km đến TP Hòa Bình, sau đó theo con đường mang tên Tây Tiên đèo dốc trên 20km để đến bến thuyền Thung Nai.
Nếu đi theo đoàn đông người, du khách nên thuê thuyền lớn có đủ áo phao cứu hộ và các thiết bị máy móc. Giá thuê thuyền từ 500.000-1 triệu đồng (không tính số người).
Để qua đêm tại đây du khách có thể thuê phòng ở khu nhà nghỉ Cối Xay Gió trên đảo Bạn Bè. Khu nhà nghỉ giá rẻ bình dân này nằm ngay dưới mép nước và bên trên là chiếc cối xay gió rất độc đáo.
HẢI DƯƠNG - NGUYỄN HƯỜNG

Mùa thu về “thủ đô gió ngàn”


TT - “Mình về còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt minh
Mình đi mình lại nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
”...
Những câu lục bát trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đinh ninh trong dạ từ thuở cắp sách đến trường làm Tân Trào thật gần gũi với mỗi người dân Việt mà cũng thật xa xôi, vì những “trám bùi để rụng”, “hắt hiu lau xám”... Nhưng chỉ cần khoác balô lên đường mới biết chiến khu xưa đã gần lại rất nhiều nhờ... giao thông hiện đại.
Đình Tân Trào  - Ảnh: N.T.Q.
Từ rừng về thủ đô lần thứ nhất Bác Hồ và trung ương mất bốn năm (1941-1945), từ phố lên rừng và trở về Hà Nội lần thứ hai mất tám năm kháng chiến (1946-1954). Nhưng từ Hà Nội lên Tân Trào giờ chỉ mất 3 giờ đi ôtô vì quốc lộ 2 thẳng băng đúng 150km. Đường đẹp như mơ, ra khỏi Hà Nội là cây cối xanh rì, càng lên trung du càng đẹp. Đến gần Tuyên Quang thì đúng là cây cối ngút ngàn, bãi mía nương dâu xanh thẳm, thỉnh thoảng nổi bật trên nền trời xanh là những tán cọ xòe trong nắng như những mặt trời xanh.
Cách thị xã Tuyên Quang chỉ 40km, Tân Trào nằm trong một thung lũng nhỏ thuộc huyện Sơn Dương. Thời kỳ tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng Tháng tám, Tân Trào là thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành hội nghị toàn quốc ngày 13-8-1945 để quyết định tổng khởi nghĩa. Tân Trào là tên mới, được hợp nhất từ hai xã Tân Lập và Hồng Thái vào năm 1945 (trước còn gọi là Kim Long và Kim Châu).
Về Tân Trào, cùng một hành trình, không thể bỏ qua bất cứ địa danh nào đã được nêu trên bản đồ hành hương. Đầu tiên là đình Tân Trào, một ngôi đình nhỏ được xây dựng năm 1923 theo kiểu nhà sàn, cột gỗ, ba gian hai chái, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và là nơi hội họp, sinh hoạt văn hóa của dân làng. Đình thờ tám vị thành hoàng làng đại diện cho các thần sông, thần núi của làng Tân Lập, xã Tân Trào.
Dưới mái đình này, ngày 16-8-1945 Quốc dân đại hội đã quyết định lệnh tổng khởi nghĩa, 10 chính sách lớn, quy định quốc kỳ, quốc ca và cử ra một chính phủ lâm thời. Ngồi dưới mái đình mát lộng, gió thổi bốn hướng vì không có tường ngăn, liếp che mới cảm thấy thấm thía cái giản dị và cởi mở của chính phủ cách mạng lâm thời trong việc đưa ra các quyết sách quan trọng quyết định vận mệnh dân tộc.
Cây đa Tân Trào cách đình Tân Trào khoảng 500m về phía đông. Dưới bóng cây này, chiều 16-8-1945 Việt Nam giải phóng quân đã làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và 60 đại biểu. Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đọc bản quân lệnh số 1 và ngay sau đó hành quân về giải phóng Hà Nội.
Một cảm giác tiếc nuối và hụt hẫng vì gốc đa Tân Trào huyền thoại đã không còn nguyên vẹn. Thời gian đã làm cụm “đa ông - đa bà” cỗi đi, mục từ bên trong, rất nhiều phương pháp cứu chữa không mang lại kết quả tuyệt đối. Gốc đa đã được “bêtông hóa” nguyên trạng để giữ làm chứng tích. Và một nhành đa nhỏ phát sinh từ cây đa ông đã được khéo léo kéo xuống, ươm cẩn thận, nay đã bắt rễ và chuẩn bị xòe tán.
Cách đình Tân Trào gần 1km là đình Hồng Thái. Đình được xây dựng năm 1919 tại địa phận làng Cả, xã Tân Trào, có tên là đình Làng Cả hay đình Kim Trận. Đây cũng là trạm giao liên và là nơi huấn luyện quân sự trong suốt thời kỳ kháng chiến; là điểm dừng chân của các đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân đại hội, trạm thường trực của an toàn khu của trung ương đóng ở Tân Trào.
Quay ngược từ đình Hồng Thái, vòng lại qua đình Tân Trào, theo hướng tây chừng 3km là khu lán nằm trên sườn núi Nà Lừa. Đi bộ qua chiếc cầu nhỏ bắc qua Ngòi Thia (một nhánh nhỏ của sông Đáy), leo lên những bậc đá cheo leo phủ đầy lá mục, sẽ gặp lán Nà Lừa dưới những tàn cây cổ thụ vấn vít đầy dây leo.
Lán được đơn vị giải phóng quân dựng bằng tre theo kiểu nửa sàn, nửa đất của người miền núi, là nơi Bác ở và làm việc từ tháng 6-1945 đến cuối tháng 8-1945. Lán có hai gian nhỏ, gian bên trong là nơi Bác nghỉ ngơi, gian ngoài là chỗ Bác làm việc, tiếp khách. Tại đây, ngày 4-6-1945, Bác đã triệu tập Hội nghị cán bộ để củng cố căn cứ địa cách mạng, thành lập khu giải phóng và quân giải phóng, chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội.
Một ngày trọn vẹn đủ cho khách hành hương khám phá tất cả địa danh lịch sử trong quần thể di tích Tân Trào: hang Bòng, nơi làm việc của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ và Bác Hồ ở Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chín năm. Từ năm 1950-1951, Bác ở hang này trực tiếp đi chỉ đạo chiến dịch Biên giới (1950). Rồi bản Khuổi Kịch, đình Thanh La, vực Thia, làng Tân Lập, lán Cảnh Vệ - Điện Đài, lán Đồng Minh, sân bay Lũng Cò, đèo Chắn, Đồng Man - Lũng Tẩu, Khấu Lẩu - Vực Hồ, thôn Lập Binh, hầm an toàn của Bác, hầm Trung ương Đảng, hầm Chính phủ và Bảo tàng Tân Trào...
Tháng 9 mùa thu xanh thắm. Khi gió đã mang cái hơi man mát của khí núi, bầu trời như được đẩy dần lên cao. Những đám mây đầy hơi nước tan đi, bày ra nguyên vẹn một bầu trời mùa thu lồng lộng. Thật may mắn cho những ai đã ra khỏi thành phố còn vương đầy oi bức của mùa hè và ồn ào nơi phố thị để làm một cuộc hành trình về chiến khu xưa.
Không chỉ một cuộc hành hương mang nặng tính giáo dục, chuyến đi cho con người ta đầy đủ cảm xúc, đến từ tất cả các giác quan, và từ trái tim...
THU HÀ

Thăm di tích sân bay Tà Cơn


TTO - Nằm trên đường 9 huyền thoại, di tích sân bay Tà Cơn thuộc xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị là điểm dừng chân quen thuộc với du khách trong và ngoài nước trên hành trình khám phá “tour DMZ” (du lịch vùng phi quân sự).
Du khách nước ngoài tham quan chiếc máy bay vận tải CH-47 trưng bày trong khuôn viên di tích sân bay Tà Cơn. Đây là loại máy bay chuyên vận chuyển người, vũ khí và lương thực trong những năm lính Mỹ tham chiến ở Khe Sanh - Ảnh: Tiến Thành
Những ngày đầu tháng 9, lượng khách nước ngoài tham quan di tích sân bay Tà Cơn dường như đông hơn. Họ là những cựu binh Mỹ hay những du khách đến từ các nước Anh, Úc, CH Czech… tham quan để biết và hiểu thêm về cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân Việt Nam.
Khu di tích còn khá đơn sơ với năm chiếc máy bay (loại C130, UH-1,CH-47… ), ba chiếc xe tăng còn nguyên vẹn hoặc đã tan xác, hoen gỉ trưng bày trên những bãi cỏ. Đây là những máy bay, xe tăng mà quân đội Mỹ từng dùng tham chiến tại chiến trường Khe Sanh - Tà Cơn cách đây hơn 40 năm.
Một nhà bảo tàng về đường 9 - Khe Sanh trưng bày những hình ảnh, vũ khí của lính Mỹ, lính quân đội chế độ cũ và quân giải phóng. Một bia đá tạc ghi chiến công lịch sử được dựng sau hàng chục loại bom mà quân đội Mỹ đã ném xuống miền tây Quảng Trị trong những năm 1965-1972. Kế đó, những công sự hầm hào, đài chỉ huy, đài liên lạc… được phục dựng trong khuôn viên sân bay cũng đang khẩn trương hoàn thành.
Chiếc máy bay vận tải hạng nặng C130 của quân đội Mỹ tham chiến năm 1972 được trưng bày trên bãi cỏ sân bay Tà Cơn - Ảnh: Tiến Thành 
Cách bố trí, phục dựng di tích của sân bay Tà Cơn hiện nay còn khá khiêm tốn, nhưng phần nào cũng giúp du khách hình dung về một thế phòng ngự liên hoàn, cơ động được quân đội Mỹ và lính chế độ cũ coi là một vị trí “cứng”, cơ động nhất trong cả hệ thống tập đoàn cứ điểm Khe Sanh.
Toàn sân bay giống như một lòng chảo với bốn bề là núi non - vốn là những điểm đặt hệ thống hỏa lực lý tưởng, lại cách con đường 9 huyết mạch chưa đầy 3km. Thế nhưng trước sức mạnh tiến công giải phóng Khe Sanh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tà Cơn đã trở thành chiếc ghế điện đối với liên quân của đối phương. Ngày 26-6-1968, quân Mỹ buộc phải mở đường máu rút khỏi Khe Sanh - Tà Cơn.
Sau những thăng trầm dâu bể, ít ai có thể ngờ một nơi từng là nỗi khiếp đảm, là “địa ngục trần gian” đối với lính Mỹ đã trở thành những vườn cà phê ngút ngàn, những bãi ngô và lạc mơn mởn xanh.
“Thật kỳ diệu. chiến tranh đã qua đi, nhường chỗ cho hòa bình và sự sống đang từng giờ từng phút nảy nở trên mảnh đất này” - một Việt kiều CH Czech đã tâm sự với tôi như thế khi tham quan di tích nổi tiếng này.
Trực thăng lên thẳng UH-1, loại máy bay cơ động được lính Mỹ sử dụng nhiều nhất trong chiến tranh Việt Nam và chiến trường Khe Sanh - Ảnh: Tiến Thành
Cận cảnh một chiếc xe tăng Mỹ tại chiến trường Khe Sanh - Ảnh: Tiến Thành
Xác một máy bay của Mỹ từng tham chiến tại Quảng Trị - Ảnh: Tiến Thành
Một số trang bị của quân giải phóng miền Nam - Ảnh: Tiến Thành
Du khách nước ngoài tham quan những trang bị, vũ khí sót lại của lính Mỹ trong nhà bảo tàng đường 9 - Khe Sanh - Ảnh: Tiến Thành
Du khách CH Czech tham quan hệ thống hầm hào của lính Mỹ được phục dựng tại sân bay Tà Cơn - Ảnh: Tiến Thành
Những loại bom Mỹ ném xuống miền tây Quảng Trị những năm 1965-1972 - Ảnh: Tiến Thành
Người dân xã Tân Hợp trồng ngô và lạc, tận dụng những khu đất rộng rãi trong sân bay - Ảnh: Tiến Thành
Cách TP Đông Hà khoảng 65km và cách cửa khẩu Lao Bảo khoảng 20km về phía nam, nằm trong tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, sân bay Tà Cơn từng là một cụm cứ điểm quân sự chiến lược của quân đội Mỹ trong những năm 1966-1968.
Địa danh này từng gắn với nhiều chiến tích trong chiến dịch giải phóng Khe Sanh năm 1968 và gắn với câu nói nổi tiếng chua chát của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James R. Schlesinger: “Tuy chúng ta đã ném cả danh dự nước Mỹ ra để giữ (Khe Sanh) và buộc hội đồng tham mưu trưởng liên quân cam kết bằng máu, nhưng cuối cùng cũng phải rút chạy”.
TIẾN THÀNH

Về Chợ Lách mùa trái chín


PNO - Chợ Lách (Bến Tre) là một trong những điểm đến thú vị của miệt vườn vùng Tây Nam bộ. Nơi đây không chỉ có nhiều loại trái cây nức tiếng tươi ngon mà còn có những làng hoa kiểng đẹp mê hồn.
     "Đã mắt, đã mũi, đã miệng"
    Người dân Chợ Lách nổi tiếng về tay nghề sản xuất cây giống, nên ở đây có những vườn chuyên canh các giống cây ngon như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon, bưởi da xanh, xoài, mận... Ông Tám Lộc ở xã Vĩnh Bình đưa chúng tôi đi thăm vườn chôm chôm và hái cho mỗi người một chùm chôm chôm vỏ mỏng, ngọt lịm. Ông Tám cho biết, năm nay gia đình ông đã bỏ ra gần 60 triệu đồng để sửa sang nhà cửa, vườn tược để đón khách tham quan. Ngoài chôm chôm, vườn ông Tám còn có sầu riêng, nhãn. Do nằm sát sông, nên khu vườn đón gió quanh năm. Du khách có thể nghỉ lại tại nhà ông Tám. Ông còn phối hợp với công ty du lịch hoặc các chủ ghe để đưa khách đi tham quan cả vùng Chợ Lách.
    Thật thú vị khi tự tay bẻ những chùm chôm chôm tươi ngon và thưởng thức tại vườn 
    Măng cụt đang vào mùa chín, chủ vườn thường chọn những trái ngon nhất và mời khách thưởng thức tại vườn. Trái măng cụt ăn tại vườn tươi ngon khác hẳn mua ở chợ. Biết khách muốn mua về làm quà, các chủ vựa trái cây trong huyện chuyên đóng hàng lên xe tải cho thương lái, cũng vui vẻ giúp khách chọn những trái ngon, dù mỗi người chỉ mua chừng chục ký.
    Du khách tham quan Chợ Lách ngày càng tăng
    Anh Trần Hữu Vĩnh, cán bộ phụ trách du lịch của huyện Chợ Lách cho biết, khoảng 6 -7 năm nay, từ Tết Đoan Ngọ trở đi, Chợ Lách nhộn nhịp hẳn lên. Mỗi năm xứ này đón cả ngàn khách đổ về chơi vườn, xem hội tắm bùn sông và thưởng thức tài nghệ của nông dân có bàn tay vàng trong Ngày hội cây -trái ngon và an toàn. Từ nhu cầu của khách, huyện cũng thiết kế các tour du lịch phong phú hơn và mời các công ty du lịch cùng tham gia.
    Một trong nhiều vườn cây kiểng của Chợ Lách
    Các hướng dẫn viên địa phương sẵn sàng phục vụ nhu cầu của du khách muốn tham quan nhiều vườn kiểng độc đáo, ngoài điểm đến là vườn cây trái. Cây kiểng Chợ Lách từ lâu đã nổi tiếng với những nghệ nhân uốn kiểng thú, kiểng mô phỏng các biểu tượng trong nước và nước ngoài. Do vậy, về Chợ Lách, du khách vừa "đã mắt" ngắm hoa kiểng, "đã mũi" với hương thơm hoa trái và "đã miệng" với vị ngon ngọt của trái cây.
    Đi cồn ăn ốc, tắm sông
    Chợ Lách còn đặc biệt hơn với mùa ốc gạo thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 âm lịch. Du khách đã một lần nếm thử ốc gạo Chợ Lách, hẳn không thể quên món ăn dân dã này. Ngoài dùng làm bánh xèo, ốc gạo còn được chế biến thành nhiều món lạ miệng khác như: ốc gạo luộc chấm với nước mắm sả, ốc gạo cuốn bánh tráng với dừa nạo, gỏi ốc gạo...
    Mùa ốc gạo thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 âm lịch
    Vườn du lịch Ba Ngói chế biến các món ốc gạo rất ngon. Chủ vườn cho biết, khách du lịch đến cồn Phú Đa đông hơn vào mùa ốc gạo. Có những thời điểm khách đoàn phải đặt lịch trước. Chỉ riêng món bánh xèo ốc, ngày thường các đầu bếp Ba Ngói phải chiên khoảng 100 bánh , dịp đặc biệt con số này có thể đến 700 -800 bánh/ ngày.
    Bánh xèo ốc là món đặc sản của vùng Chợ Lách
    Sẽ là thiếu sót nếu về Chợ Lách mà không đi cồn Phú Bình. Đây là một bãi bồi giữa sông, nước xâm xấp ngang ngực. Dừng chân ở bãi bồi ngâm mình cho biết cảm giác tắm sông sẽ là những trải nghiệm hết sức thú vị của người dân thành phố khi về thăm miền sông nước Cửu Long. Đặc biệt, vào ngày tết Đoan Ngọ hằng năm ở đây còn có hội tắm bùn sông khá lạ. Ngày hội này thu hút nhiều người dân từ vùng lân cận như Vĩnh Long, Tiền Giang. Hàng trăm chiếc ghe tụ hội về nhộn nhịp cả dòng sông...
    Bài và ảnh: LINH LÊ

    Những ngôi làng cổ nhất Hà Nội


     - Hà Nội gắn với "thương hiệu" ngàn năm văn hiến. Để có được "thương hiệu" đó là sự góp công góp của của rất nhiều ngôi làng. Cho đến nay, dù Hà Nội đã trở thành thành phố hiện đại nhưng phảng phất đâu đó vẫn có dấu tích của rất nhiều ngôi làng cổ, đặc biệt là thứ văn hóa làng xã.

    Làng Mai Động (Hoàng Mai, Hà Nội) thuộc vùng Kẻ Mơ xưa, là một trong những ngôi làng cổ của kinh thành Thăng Long. Mai Động có nghề làm đậu phụ nức tiếng xa gần. Cũng nhờ đậu phụ, người Mai Động đã sống sót qua nạn đói năm 1945.

    Tên Kẻ Mơ vì vốn là một rừng mơ

    Trong cuốn "Làng cổ Mai Động và Đức thánh Tam Trinh" do GS Vũ Ngọc Khánh chủ biên (NXB Văn hóa Thông tin, 2010) đã chỉ ra rằng, vùng đất Kẻ Mơ được khai phá từ rất sớm. Ngay từ 4.000 - 3.000 năm trước, khu vực này đã có người sinh sống. Bằng chứng là vào các năm 1963 và 1979, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều hiện vật quý, trong đó có những công cụ bằng đá thuộc thời kỳ đồ đá mới.

    Khi kinh thành Thăng Long được xây dựng, vùng đất Kẻ Mơ nằm liền cửa ngõ phía Đông Nam trở thành phên giậu bảo vệ kinh thành. Ban đầu, các nhà Nho đặt tên cho vùng đất ấy là Cổ Mai nhưng trong dân gian vẫn quen gọi là Kẻ Mơ. Sở dĩ có tên này vì trước đây, vùng này là một rừng mơ bạt ngàn. Vài thế kỷ sau, khi dân cư đông đúc dần, một số thôn làng dần được hình thành. Để nhớ gốc gác, các làng vẫn giữ tên Mai (Mai Động, Hoàng Mai, Tương Mai, Hồng Mai, Thanh Mai).

    Trong nhiều thế kỷ, Mai Động là một xã của huyện Long Đàm, sau đổi thành Thanh Đàm rồi huyện Thanh Trì. Đầu thế kỷ XIX, Mai Động thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam Thượng. Năm 1982, Mai Động tách lập thành phường Mai Động. Hiện nay, dấu tích của một làng cổ xưa vẫn còn thông qua hệ thống đình, chùa, các sắc phong và câu đối.

    Gói và bóc gỡ vải bọc miếng đậu là công đoạn mất nhiều thời gian nhất.
    Gói và bóc gỡ vải bọc miếng đậu là công đoạn mất nhiều thời gian nhất.

    Bã đậu cứu cả làng qua nạn đói

    Ở Mai Động có nghề làm đậu phụ nức tiếng gần xa, còn gọi là đậu Mơ. Theo ông Vũ Văn Âu, người làng Mai Động có nhiều năm nghiên cứu về lịch sử làng thì nghề làm đậu có từ thời Hai Bà Trưng, do Đô úy Tam Trinh - tổ vật Mai Động, được nhân dân tôn làm thành hoàng truyền dạy. Chính trong những năm tháng dạy học ở đây, ông đã dạy nghề cho dân trong vùng, lấy đậu phụ làm món ăn cho quân sĩ.

    Bà Vũ Thị Tích, 73 tuổi cho hay: Nghề làm đậu ở Mai Động không quá cầu kỳ. Hạt đậu nành được ngâm trong vòng 3 - 4 tiếng mùa hè, 7 - 8 tiếng vào mùa đông. Sau đó đem ra xay nhuyễn, lọc lấy nước tinh, không lẫn bã rồi đem nấu dưới bếp củi hoặc bếp than. Đợi đến khi nước đậu sôi đủ độ thì múc ra rồi pha nước chua. "Việc pha nước chua cũng thành một nghệ thuật. Khó nhất cũng ở khâu này. Nước chua phải pha vừa đủ, nếu pha ít quá hoặc già quá sẽ khiến đậu không ngon. Thế nên, người Mai Động mới lưu truyền câu ca để nhắc nhở mọi người "Pha non mất bữa quà, pha già mất bữa gạo". Tính ra, mỗi kg đậu hạt sẽ thu được từ 2,5 - 2,8kg đậu thành phẩm và 1,6kg bã", bà bảo.

    Nếu pha nước đậu đòi hỏi sự tài tình của người thợ thì việc gói đậu và gỡ vải bọc của những miếng đậu lại tốn thời gian nhất và không phải ai cũng làm được. "Vì những miếng đậu chỉ nhỏ như ba ngón tay nên người thợ sẽ gói trực tiếp bằng tay chứ không dùng khuôn. Thế nên, khi múc đậu vào vải, người thợ phải khéo léo để gói lại sao cho gọn ghẽ. Có người đến học nghề tới 3 tháng cũng chưa thành thục", bà Tích kể.

    "Đậu phụ không chỉ làm cho tiếng tăm làng Mai Động vang xa. Chính đậu phụ đã cứu hàng chục mạng người trong làng qua nạn đói năm 1945", ông Âu xác nhận. Nhắc lại những ngày tháng ấy, ông Âu không khỏi bùi ngùi: "Ở đâu cũng thấy người chết vì đói. Dân làng Mai Động cũng điêu đứng. May mà có phần bã đậu cũ, người ta đem rang lên rồi xào với cà chua cho dễ ăn, không bị nghẹn. Thế mà cũng cứu được cả làng qua nạn đói".

    Pha nước chua là công đoạn quyết định chất lượng đậu Mơ.
    Pha nước chua là công đoạn quyết định chất lượng đậu Mơ.

    Tiền công làm đậu cao hơn cả công chức

    Năm 1960, Hợp tác xã (HTX) Công nghiệp Kết Nghĩa (Mai Động) được thành lập do ông Vũ Văn Âu làm chủ nhiệm. Nghề làm đậu phụ được tập trung lại tại một nhà xưởng rộng chừng 8.000m2 với hơn 300 người, chia làm 3 ca.

    "HTX được ưu tiên số một về điện, nước. Mỗi ngày cung cấp cho cả thành phố từ 8 - 10 tấn đậu phụ. Tiền lương cho mỗi xã viên là 120đ, trong khi công chức như vợ tôi cũng chỉ được có 39đ. Mỗi xã viên còn được nhận 2 tạ bã đậu/tháng, mang ra ngoài bán với giá 2đ/kg. Ở nhiều nơi, người ta nghĩ làm mậu dịch viên là sướng nhất thì ở làng tôi, để được làm trong HTX là sướng hơn cả. Chẳng thế mà người dân trong làng vẫn truyền tụng câu ca "Ba ca, cá thể ăn quà, vợ con sung sướng cả nhà vui tươi". Thế nhưng, mỗi nhà cũng chỉ có một người được làm trong HTX thôi", ông Âu nhớ lại.

    Cuối những năm 60 của thế kỷ trước, làng Mai Động rộ lên phong trào "nuôi bò gầy, đổi bò béo". Khi ấy, Nhà nước giao khoán cho mỗi hộ dân nuôi một con bò. "Lúc mới nhận về, bò gầy lắm. Chỉ vài tháng sau bò đã tăng cân rõ rệt vì được ăn bã đậu. Đến khi Nhà nước mua lại bò, bò tăng lên bao nhiêu kg thì trả bấy nhiêu tiền cho người dân. Nhờ đó mà dân làng cũng có thêm thu nhập", ông Âu kể.

    Đến năm 1987, HTX giải thể do bỏ chế độ bao cấp, tem phiếu. Nghề trở về với các hộ gia đình. Họ làm ăn cũng khấm khá hơn. Thế nhưng, đó cũng là thời điểm mở cửa. Nhiều hộ chuyển sang kinh doanh, một số hộ khác thì vẫn giữ nghề truyền thống cho đến ngày nay.

    Gia đình anh Bùi Văn Lân là một trong số những hộ như thế. Anh cho hay, mỗi ngày, nhà anh phải làm trung bình một tạ đậu hạt mới đủ cung cấp cho các nhà hàng, các chợ trong thành phố, lãi chừng 200.000đ/ngày. "Số tiền không cao song cái quan trọng nhất là công việc luôn đều đặn", anh bảo.

    Cũng theo anh Lân, vì đậu Mơ có tiếng rồi nên đầu ra không khó. Tuy nhiên, hiện nay, thương hiệu đậu Mơ cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi bị người ta làm giả. Đậu Mơ thật phải có màu hơi vàng mỡ gà, mịn, hơi có mùi khê vì đậu được đun trực tiếp trên nồi thường, còn nếu đun trên nồi áp suất sẽ không có mùi.

    "Bây giờ, đậu Mơ không còn nguyên vẹn như trước nữa. Cách làm cũng nhàn hơn vì có máy hỗ trợ. Thêm nữa, sức ép của cơ chế thị trường cũng khiến nhiều hộ làm ăn xô bồ, xay đậu cả vỏ nên chất lượng kém đi. Thôi thì thời thế thay đổi cũng đành phải chấp nhận để thích ứng. Họ giữ được nghề truyền thống cho làng cũng đã là đáng khuyến khích rồi".
    Ông Vũ Văn Âu (nguyên Chủ nhiệm HTX Công nghiệp Kết Nghĩa Mai Động)
    Dương Thanh

    Mến dòng sông Gianh biết danh Lũy Thầy


     - Lũy Thầy là hệ thống chiến luỹ được xây dựng từ năm 1630. Người có công đầu trong việc khởi xướng, thiết kế và chỉ đạo thi công là nhà quân sự, nhà thơ và là cụ tổ ngành tuồng bội Việt Nam Đào Duy Từ (1572 - 1634).

    Chân dung người khởi xướng, thiết kế và chỉ đạo thi công

    Ông vốn quê ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn (nay là huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá). Ông xuất thân trong một gia đình làm nghề ca hát, cha là Đào Tá Hán làm quản giáp nghề xướng ca nên Đào Duy Từ không được lấy đậu trong kỳ thi Hương.
     
    Phẫn chí vì có tài mà không được trọng dụng, phản ứng trước luật lệ khắt khe trong thi cử đương thời, ông bỏ đất Bắc vào Nam lập nghiệp. Được chúa Nguyễn trọng dụng, những năm làm quan ở Đàng Trong, với trọng trách của một quan nội tán, tước hầu, Đào Duy Từ đã đem hết tài năng và tâm trí phục vụ chủ mới. Ông còn là người truyền dạy cho dân địa phương nghệ thuật hát bội và khởi thảo vở tuồng Sơn Hậu.

    Sự ra đời của Lũy Thầy bắt đầu từ ý đồ của chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1634) sau trận kịch chiến giữa quân Lê - Trịnh và quân Nguyễn trên bờ sông Nhật Lệ năm Đinh Mão (1627).
     
    Theo Đại Nam nhất thống chí: Sau trận đánh này, mặc dù giành được thắng lợi, chúa Nguyễn vẫn rất lo lắng, băn khoăn, trăn trở trong việc tìm kế sách để phòng ngừa và chống lại quân Lê - Trịnh, vì chúa biết quân Lê Trịnh do Trịnh Tráng (1623 - 1657) rất mạnh và chúa Trịnh phải vâng lệnh vua Lê vào đòi chúa Nguyễn phải nộp cống theo lệ.

    Giữa lúc Sãi vương đang cầu người hiến kế thì mùa xuân năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ đệ trình kế hoạch xây dựng lũy Trường Dục để ngăn chặn quân Trịnh.

    Lũy Trường Dục dài 2.500 trượng (khoảng 2km), khởi đầu từ chân núi Thần Đinh (chùa Non) chạy dọc theo hữu ngạn sông Rào Đá, đến ngã ba sông Nhật Lệ, men theo bờ Nam qua các làng Xuân Dục, Cổ Hiền, Trường Dục, Quảng Xá đến vùng động cát của phá Hạc Hải.
     
    Tại Lũy Trường Dục, theo Đại Nam nhất thống chí, năm Mậu Tý (1648), tướng Trương Phước Phấn cùng con là Hoàng đánh thắng quân Lê - Trịnh giữ yên phiên trấn.

    Quảng Bình Quan là một trong những cửa ải của hệ thống Lũy Thầy.
    Quảng Bình Quan là một trong những cửa ải của hệ thống Lũy Thầy.
    Dấu ấn của một thời phân chia đất nước dưới chế độ phong kiến

    Mặc dù đã xây dựng được một chiến lũy bề thế, vững chắc, nhưng chúa Nguyễn vẫn chưa yên lòng. Năm Tân Mùi (1631), chúa Nguyễn Phúc Nguyên cử Đào Duy Từ và danh tướng Nguyễn Hữu Dật ra Quảng Bình khảo sát hình thế sông núi vùng Động Hải để xây thêm thành lũy. Sau chuyến công cán thị sát, các tướng nhà Nguyễn đã tiến hành xây thêm lũy mới gọi là Lũy Đầu Mâu.

    Lũy được bắt đầu từ động Ông Hồi (dưới chân núi Đầu Mâu) chạy dọc theo nam sông Lệ Kỳ ra đến cầu Dài (phía Nam thị xã Đồng Hới).
     
    Lũy cao một trượng năm thước, phía ngoài đóng cọc tre, đổ đất lên 5 tầng cấp, cứ cách 3 - 5 trượng xây một pháo đài để đặt súng thần công và cứ cách 1 trượng thì đặt một súng phóng đá. Chiều dài của lũy là 3.000 trượng.

    Cũng cùng thời gian đó (1631) chúa Nguyễn lại cho xây tiếp một luỹ mới, tiếp nối với Lũy Đầu Mâu, chạy từ cầu Dài vòng sang phía Tây thành Đồng Hới, bọc lấy làng Đồng Phú (Phú Ninh) ra đến cửa sông Nhật Lệ.
     
    Ngoài lũy đào hào bao quanh, Lũy Đầu Mâu cùng với luỹ Nhật Lệ gọi là Lũy Trấn Ninh (chính luỹ). Lũy Trường Dục, lũy Trấn Ninh có một chiều dài lớn và xây đắp hết sức bề thế, nhưng chúa Nguyễn vẫn chưa an tâm vì mặt đông của vùng đất này vẫn còn trống trải, quân Lê - Trịnh có thể lợi dụng các động cát mà tràn vào.
     
    Do vậy, năm Giáp Tuất (1634) chúa Nguyễn lại sai Nguyễn Hữu Dật tổ chức đắp Lũy Trường Sa với chiều dài 7km, chạy từ Sa động đến Huân Cát, thuộc địa phận xã Bảo Ninh (hữu ngạn sông Nhật Lệ).

    Như vậy, trong khoảng thời gian hơn 3 năm, chúa Nguyễn với sự giúp sức của Đào Duy Từ và các tướng lĩnh khác đã dồn bao sức người, sức của tạo nên một thệ thóng chiến lũy dài gần 34km. Đây là một hệ thống thành lũy liên hoàn, có nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều tuyến.

    Lũy Thầy ra đời cách đây hơn 350 năm, trải theo dòng thời gian nó đã trở thành một di tích lịch sử, văn hoá của đất nước, là dấu ấn của một thời phân chia đất nước dưới chế độ phong kiến. Lũy Thầy đã được ghi trong nhiều bộ sách lịch sử, văn hoá của triều Nguyễn.
     
    Năm Nhâm Dần (1842), vua Thiệu Trị trên đường tuần du ra Bắc qua Lũy Trấn Ninh đã đổi tên lũy cũ thành Lũy Định Bắc trường thành và cho dựng bia để ghi nhớ. Sau này nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết "Ai đã qua Đèo Ngang, đã sang Ba Rền, mến dòng sông Gianh biết danh Lũy Thầy".

    Trịnh Dương

    Duyên dáng tu viện Lòng Sông


    Dường như với mùa thu, mọi thứ trở nên dịu dàng hơn hẳn. Ở thời khắc giao mùa, dáng điệu thu lại thật nhẹ nhàng, uyển chuyển, mặc cho cái nóng hầm hập vừa qua của mùa hạ.

    Tôi nhớ nhất là mùa thu tròn đầy nét duyên dáng trong nắng chiều lãng đãng ở một tu viện nhỏ. Cái tu viện ấy có tên tu viện Lòng Sông, nằm yên bình giữa bao la ruộng đồng xã Phước Thuận, H.Tuy Phước, Bình Định. Đây là tu viện được đánh giá là lâu đời nhất tỉnh Bình Định với tuổi đời lên đến cả trăm năm. Theo kể lại, nơi đây từng là điểm dừng chân của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp.
     Tu viện Lòng Sông
    Tu viện Lòng Sông - Ảnh: Trần Thị Duyên
    Con đường dẫn đến tu viện Lòng Sông tháng 8 thơm ngát hương lúa chín. Sau một quãng dài uốn lượn, qua mấy cây cầu nhỏ, tu viện hiện ra như một món quà bất ngờ tuyệt đẹp dành cho du khách. Nét trầm mặc, cổ kính và tao nhã như vẫn còn vẹn nguyên. Phía ngoài tu viện là bờ tường rào đủ thưa để có thể đón những cơn gió nhẹ từ đồng lúa ùa vào. Bên trong là hàng cây sao trăm tuổi thẳng đứng, cao vút, nhiều gốc cây hai người ôm không xuể. Đây là nơi lý tưởng để các tay máy tha hồ tìm tòi rồi gói ghém cái nắng, gió, mây trời... vào trong những bức ảnh.
    Qua năm tháng, dấu vết của công cuộc truyền giáo gần 3 thế kỷ trước đã nhạt phai khá nhiều. Những hình ảnh cách đây trăm năm dường như chỉ còn đọng lại qua đường nét kiến trúc châu Âu xưa trên từng khung cửa, mái hiên… Theo các sơ ở đây, khi mới xây dựng, tu viện Lòng Sông được lợp ngói kiểu âm dương. Qua nhiều lần hư hại, Tòa Giám mục Quy Nhơn quyết định đổi sang lợp ngói bình thường. Tuy có sửa chữa nhiều lần nhưng tu viện này vẫn còn hầu như nguyên vẹn hình thức ban đầu.
    Hiện tại, tu viện là nơi ở của các sơ. Hằng ngày, tiếng đọc kinh cầu nguyện vẫn vang lên êm đềm và đều đặn. Tu viện như một điểm nhấn, nhẹ nhàng mà độc đáo giữa không gian yên bình nơi làng quê thôn dã. Đến tu viện Lòng Sông vào một buổi chiều ngọt nắng để lắng lòng và thưởng thức bức tranh thu đậm màu duyên dáng.
    Trần Thị Duyên

    Nhiêu Lộc - Thị Nghè: Dòng kênh đang hồi sinh


    Cách đây hơn 20 năm, những người sống ven kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè nằm mơ chắc cũng không nghĩ có ngày mình được phóng xe vừa hóng mát, vừa dạo chơi trên hai con đường ven kênh từng được mệnh danh là "dòng kênh thối".

    Và đằng sau sự thay da đổi thịt của dòng kênh là hàng loạt các chuyện đổi đời, đổi nghề của người dân nơi đây.
     Một đoạn kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè hôm nay với nhiều mảng xanh
    Chuyện không tưởng đã xảy ra
    Những ngày này, đi dọc hai tuyến đường Trường Sa và Hoàng Sa uốn lượn dọc dòng kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, dễ dàng bắt gặp hình ảnh vào buổi sáng các cụ ông, cụ bà tập thể dục bên những bồn hoa vừa mới được trồng và chiều đến, nhiều người dân thả bộ ra các cây cầu bắc ngang kênh để hóng mát.
    Đứng hóng mát trước căn nhà mặt tiền số 220/174B đường Lê Văn Sỹ, phường 14, quận 3 (nay đã là mặt tiền đường Trường Sa), ông Nguyễn Thành Sương (chủ nhà), cho biết hình ảnh hiện tại trái ngược hoàn toàn với cảnh nhếch nhác của hơn 20 năm trước. Lúc đó, nói đến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, mọi người đều nghĩ ngay đến dòng kênh đen ngòm, đầy rác, lúc nào cũng bốc mùi hôi thúi, tanh tưởi không những ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị mà còn tác động trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của khoảng 1,2 triệu người sống trong lưu vực kênh này.
    “Nói thật, khi đó cả năm nhà tôi chẳng thấy có khách đến thăm. Hỏi ra mới biết, tất cả là do ô nhiễm; bởi chúng tôi sống ở đây lâu, nên quen với mùi hôi thối này, chứ những người mới đến hoặc đi qua, thì thường nín thở mà đi. Rác thải ngập ngụa dòng kênh khiến nước kênh đặc sệt, làm muỗi sinh sôi nảy nở. Giờ thì hoàn toàn khác! Hàng ngày, trẻ em cũng như người lớn tuổi đi bộ, tập thể dục, thư giãn dọc theo con kênh nơi nhìn chẳng khác gì một công viên thu nhỏ với vỉa hè sát bờ kênh trồng thảm cỏ, những cây hoa tầng thấp, tầng cao...”, ông Sương tâm sự.
    Trong câu chuyện quanh bàn trà mỗi buổi sáng mai giữa ông Sương và bạn già trong xóm, tôi còn được nghe cụ Nguyễn Văn Bản ở gần nhà ông Sương, nhận xét: “Từ ngày trạm bơm Nhiêu Lộc – Thị Nghè đưa vào hoạt động, nước thải sinh hoạt không còn thải xuống kênh nên dòng kênh đã hết hẳn váng dầu, mỡ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Chắc không lâu nữa tôm cá sẽ về, nước sẽ trong xanh trở lại”.
    Ngay khi cụ Bản vừa dứt lời, ông Sương cười, nói chen vào: “Rồi đây có khi mấy công ty du lịch còn tổ chức cho khách chèo thuyền tham quan trên suốt tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè nữa không chừng. Chuyện không tưởng đã xảy ra, dòng kênh đã sống lại rồi!”
     Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, khu vực cầu Kiệu...
    Đổi đời!
    Không chỉ vui mừng vì dòng kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đang sống lại, từ hai năm nay, khi dự án mở rộng hai con đường ven kênh Trường Sa và Hoàng Sa hoàn thành, hàng ngàn hộ dân nơi đây còn hy vọng vào việc đổi đời, đổi nghề. “Hiện tại, nhờ vào việc cho thuê cái kiốt rộng hơn 20m2, chúng tôi kiếm được hơn 7 triệu đồng/tháng, đủ để cho hai vợ chồng già chi tiêu và thỉnh thoảng đi du lịch đó đây”, bà Trần Thị Thanh, ngụ đường Phạm Văn Hai (Trường Sa), phường 4, quận Tân Bình, chia sẻ.
    Kể từ khi tuyến đường Trường Sa hoàn thành việc mở rộng đoạn từ ngã ba Út Tịch – Lê Bình (quận Tân Bình) lên đến cầu Lê Văn Sỹ (quận 3), hai vợ chồng chú Nguyễn Văn Thu, ngụ 225/88 Huỳnh Văn Bánh (nay là đường Trường Sa), phường 14, quận Phú Nhuận, lập tức biến căn nhà nhỏ của mình thành một quán ốc, buôn bán lai rai, mỗi ngày kiếm được hơn 300.000 đồng. “Không chỉ đủ nuôi thân, nhờ vào quán ốc, hai vợ chồng già tôi mỗi tháng còn cho hai đứa cháu nội mỗi đứa 2 triệu đồng để đóng tiền học phí và mua sách vở để học tập”, chú Thu nói.
    Chuyện đổi đời của bà Thanh, vợ chồng chú Thu cũng là câu chuyện đang diễn ra với rất nhiều hộ dân sinh sống dọc kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè hiện tại...
     ...và khu vực cầu Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thạnh, trước khi cải tạo dòng kênh.
     Theo Sài Gòn Tiếp thị

    Phong Lệ - Đà Nẵng: Hố thiêng Chăm ngàn năm tuổi


    Rất nhiều hiện vật văn hóa Chămpa độc đáo, có niên đại ngàn năm tuổi được phát hiện tại làng cổ Phong Lệ - TP Đà Nẵng, hé lộ nhiều bí ẩn của những dòng chảy văn hóa qua vùng đất miền Trung.

    Việc khai quật khu di tích khảo cổ Phong Lệ đến thật tình cờ khi vào tháng 3.2011, một người dân làm nhà phát hiện những hiện vật Chămpa. Sự việc được báo lên chính quyền và một quyết định khai quật khẩn cấp được thực hiện.
    Qua 2 đợt khai quật (đợt 1 từ tháng 4 đến tháng 6.2011 và đợt 2 từ tháng 7 đến tháng 8.2012), Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chămpa Đà Nẵng và tổ công tác khảo cổ học Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội đã phát hiện nhiều hiện vật quý bị vùi chôn trong lòng đất cả ngàn năm.
    Những báu vật ngàn năm
    Trong đợt khai quật lần thứ nhất, đoàn khảo cổ đào 5 hố thám sát trên diện tích 500 m2, phát hiện được những hiện vật và nền móng của một khu đền tháp rộng lớn. Chính những phát hiện này đã làm tiền đề cho đợt khai quật lần thứ hai với quy mô lớn hơn, ở ngay khu vực được cho là tháp chính trong quần thể di tích rộng 10.000 m2.
    Tại đây những nhà khảo cổ đã phát hiện một hố thiêng hình vuông nằm trong lòng tháp có cạnh dài 4,26 m x 4,26 m, các cạnh đáy không đồng đều, dài từ 3,86 m đến 3,95 m. Chiều sâu hố này là 1,82 m được lót những lớp đá cuội gốc granit và gốc thạch anh, xếp lớp lang trên nhỏ dưới lớn xen với lớp cát trắng. Theo các nhà khảo cổ, đây là những vật liệu thường được người Chăm dùng khi đào hố trong lòng tháp để đặt thờ những vật linh thiêng.
    Hố thiêng trong lòng tháp Chàm vừa được khai quật tại làng Phong Lệ.
    Trước đây, tại khu đền tháp Mỹ Sơn (tỉnh Quảng Nam), trong một đợt khai quật lòng tháp G1, các nhà khảo cổ người Ý đã phát hiện một hố thiêng 2,2 m x 2,31 m, trong đó có cát, sỏi, đá ong và đá núi. Tháp này được xác định xây dựng vào thế kỷ XII. Trong lòng tháp F1 được xây dựng vào thế kỷ VIII, các nhà khảo cổ cũng phát hiện được một hố thiêng 1,84 m x 1,84 m chứa các vật liệu tương tự.
    Hố thiêng tại lòng tháp phế tích Phong Lệ lớn hơn rất nhiều so với các hố thiêng đã được phát hiện. Điều này chứng tỏ ngôi tháp có hố thiêng này hẳn có kích thước khá lớn. Điều đặc biệt, các nhà khảo cổ đã bất ngờ khi phát hiện ở các vách hố thiêng ở Phong Lệ có 8 “hốc thiêng” và cho rằng đây là một kiểu khán thờ.
    Tám hốc thiêng này hình tháp, cao từ 47 - 53 cm. Bốn hốc thiêng ở các góc Đông - Tây - Nam - Bắc nằm lệch tim, không đối xứng. Bốn hốc nằm ở các góc Đông Bắc - Đông Nam - Tây Bắc - Tây Nam đối xứng nhau. Phía trước các hốc thiêng đều có một viên đá thạch anh đã được gia công với phần đáy lớn, phần trên nhỏ. Giữa hốc thiêng có một viên đá cuội hình bầu dục, chiều cao từ 14 - 16 cm, phía trên được đặt một viên gạch hình vuông có diện tích 16 cm x 16 cm, trông giống hình Linga và Yoni ngược. Các hốc thiêng cũng được lấp đầy cát trắng.
    Các nhà khảo cổ phỏng đoán rằng có thể đây là một cách yểm bùa chú hoặc ma thuật nào đó theo quan niệm của người Chăm. TS Nguyễn Chiều, giảng viên chính Bộ môn Khảo cổ Khoa Lịch sử Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, trưởng nhóm khảo cổ, nhận định: “Đây là kiến trúc hố thiêng độc đáo, khác lạ mà chúng tôi chưa thể lý giải được.”
    Sống trên cổ vật
    Những người dân sinh sống tại đây cho biết khi đào móng làm nhà hay các công trình phục vụ dân sinh, họ thường phát hiện gạch ngói, vết tích của tháp Chăm. Họ cũng biết có di tích Chăm ở đây nhưng không hình dung đang sống trên một khu di tích ngàn năm tuổi và lớn như vậy.
    Tại khu trưng bày cổ vật hành lang Quảng Nam trong Bảo tàng Chăm Đà Nẵng, khách tham quan dễ dàng nhìn thấy một số hiện vật Chăm Phong Lệ được ghi niên đại từ thế kỷ VI-VII. Đó là những hiện vật được ông chủ đồn điền Phong Lệ tìm thấy cách đây hơn 100 năm và gửi cho nhà khảo cổ người Pháp Henri Parmentier, nay trưng bày tại Bảo tàng Chăm.
    Các nhà khảo cổ Nhật đang nghiên cứu những viên gạch vừa tìm thấy tại hố thiêng.
    Những phát hiện khảo cổ mới đây tại khu phế tích Phong Lệ dường như mới chạm vào một phần rất nhỏ những bí ẩn còn nằm sâu trong những địa tầng văn hóa Đà Nẵng.
    TS Lê Đình Phụng, trưởng đoàn khảo sát, lịch sử Đà Nẵng, nhận định: Nằm chung trong dòng chảy xứ Quảng của lịch sử dải đất miền Trung, manh nha từ văn hóa Sa Huỳnh và theo suốt tiến trình lịch sử với văn hóa Chămpa hơn 1.000 năm, tiếp đó với gần ngàn năm văn hóa Việt trên địa bàn Đà Nẵng đã để lại những dấu tích vô cùng quan trọng. Hiện tại, ở TP Đà Nẵng có khoảng 10 phế tích Chăm được phát hiện nhưng hầu hết đã bị chôn vùi trong lòng đất, chỉ còn sót lại rải rác khắp nơi những hiện vật và những giếng Chăm.
    Sau hơn cả ngàn năm tồn tại, phế tích Phong Lệ tưởng như bị chôn vùi trong lòng đất với bao biến thiên của lịch sử và dòng chảy của thời gian và tưởng chừng chỉ còn được nhắc đến qua những hiện vật sót lại trong bảo tàng, giờ đã hiện hữu và phát sáng với những dự án văn hóa du lịch đang được ấp ủ triển khai.
    Gắn di tích với du lịch
    Ông Võ Văn Thắng, Giám đốc Bảo tàng Chăm, cho biết đoàn khảo cổ quyết định lập dự án đề nghị quy hoạch, bảo tồn, phát huy giá trị di tích Chăm Phong Lệ với hy vọng sẽ được cấp phép xây dựng thành khu bảo tồn, trưng bày và phát triển du lịch.
    “Quần thể di tích này có vị trí thuận lợi vì nằm cạnh Quốc lộ 1A và sông Cầu Đỏ, nối thẳng tuyến du lịch đường sông lên khu di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn, có các di tích lịch sử, khảo cổ bao hàm nhiều giá trị lớn lao. Vì vậy, nếu được quy hoạch kịp thời, khai quật hoàn chỉnh, nơi đây có đủ tiềm năng để trở thành điểm đến du lịch văn hóa hấp dẫn” - ông Thắng nhận định.
    Làng Phong Lệ cũng là một ngôi làng cổ, ngày trước có tên là Đà Ly, xuất hiện trên Hồng Đức bản đồ cách đây hơn 500 năm. Đây cũng là quê hương của Ông Ích Khiêm. Thời vua Thiệu Trị năm thứ nhất (1841), khi Ông Ích Khiêm ra làm quan, làng đổi tên thành Phong Lệ.
    Hiện nơi đây còn có nhiều nhà vườn, những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, có nhà thờ danh nhân Ông Ích Khiêm và nhiều di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo. Đặc biệt có đình thờ Thần Nông và lễ rước mục đồng - lễ hội dành riêng cho các trẻ chăn trâu, tôn vinh nghề nông, cầu cho những vụ mùa bội thu đang được khôi phục và thu hút đông đảo người dân tham gia.
    Tuy nằm trong TP Đà Nẵng nhưng làng cổ Phong Lệ vẫn giữ được những nét cổ kính. Theo ông Võ Văn Thắng, nên quy hoạch khu vực này thành công viên khảo cổ du lịch, kết hợp phát triển một số làng nghề truyền thống để du khách có thể vừa tham quan một làng quê giữa lòng phố thị vừa thưởng thức những đặc sản, nghề truyền thống, đồng thời tìm hiểu di tích lịch sử địa phương.
    Dấu tích những tòa tháp Chăm đồ sộ
    Đợt 1 ( từ tháng 4 đến tháng 6.2011): Khai quật tại 5 hố thám sát trên tổng diện tích 206 m2, đoàn khảo cổ đã phát hiện nền móng kiến trúc 2 phế tích tháp Chăm quy mô lớn, 30 hiện vật tương đối nguyên vẹn và hàng trăm viên gạch, mảnh ngói, gốm… có nguồn gốc Chămpa niên đại khoảng 1.000 năm. Đặc biệt, dấu tích tại hố khai quật H1 rộng 90 m2 cho thấy có thể từng tồn tại một tòa tháp Chăm đồ sộ tại đây.
    Đợt 2 (từ tháng 7 đến 8.2012): Khai quật tại 4 hố thám sát trên diện tích 500 m2, đoàn khảo cổ đã làm lộ rõ và chính xác toàn bộ quy mô và cấu trúc chân móng của một tòa tháp Chăm rất lớn, chân móng có hình chữ thập. Từ cửa Đông đến cửa Tây của tháp có chiều dài 23,15 m; từ cửa Bắc đến cửa Nam có chiều dài 19,3 m; từ móng tường Đông đến móng tường Tây dài 15,85 m; từ móng tường Bắc đến móng tường Nam dài 16,15 m.
    Những phế tích chờ khai quật
    Đó là phế tích tháp Chăm tại gò Cấm Mít (thôn Cẩm Toại Đông, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang) rộng hơn 1.000 m2. Dấu tích Chăm còn khá đậm đặc ở phế tích này, có tiềm năng lớn về khai quật khảo cổ học. Phế tích tháp Quá Giáng (thôn Quá Giáng, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang), hiện có một ngôi miếu Bà, chính giữa miếu có một tượng Chăm được đặt trên bệ đá, mặt trước có chạm khắc hình con tê giác. P
    hế tích tháp Xuân Dương (thôn Nam Ô, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu), theo người dân, trước kia nơi đây là một lò gạch cao bị đổ nát với nhiều tác phẩm điêu khắc có tính mỹ thuật cao, nay đã được đưa về bảo quản tại Bảo tàng Điêu khắc Chămpa.
    Cách trung tâm TP Đà Nẵng về phía Tây Nam khoảng 10 km, dưới chân núi Phước Tường còn dấu vết của một quần thể đền tháp Chăm rộng lớn, khu phế tích trong khuôn viên An Sơn cổ tự, một ngôi chùa được dựng vào những năm giữa thế kỷ XIX...
    Theo Người Lao Động

    Nhớ Thảo cầm viên Sài Gòn của... ngày xưa


    Thảo cầm viên Sài Gòn không chỉ là thế giới cổ tích của trẻ em mà còn của nhiều người trưởng thành, một loại “đặc sản” không có đối thủ cạnh tranh. Học sinh ở miền Nam trước 1975 đều mơ ước được đến Sài Gòn, được vào xem Sở Thú.

    Với những “cựu trẻ em” lứa tuổi U.40 về trước, Sài Gòn hấp dẫn nhất là Sở Thú. Thời đó, chưa có Suối Tiên và các khu vui chơi, chưa có internet. Sở Thú là tên gọi dân gian, còn tên khai sinh là Thảo cầm viên (TCV), có nghĩa là Vườn Cầm Thú Thảo Mộc.
    Đó là thế giới cổ tích, không chỉ của trẻ em mà của nhiều người trưởng thành, một loại “đặc sản” không có đối thủ cạnh tranh. Học sinh ở miền Nam trước 1975 đều mơ ước được đến Sài Gòn, được vào xem Sở Thú.
    Hè 1971, nhờ cuối năm học lớp đệ ngũ (lớp 9), được lên bảng danh dự, một hình thức biểu dương kết quả học tập toàn trường (hồi đó từng tháng, học sinh các lớp xếp từ hạng 1 - 5 được ghi tên vào bảng danh dự, cuối năm cũng vậy), lại nhân dịp có cô ở Sài Gòn về chơi, tôi được mẹ thưởng cho một chuyến đi Sài Gòn để đời. Hồi đó, mỗi lần cô về, quà cho cả xóm là món bánh mì giòn thơm, để nguội vẫn rất ngon, ăn đứt bánh mì ở quê. Nhà cô bên Khánh Hội.
    Mang tiếng đi Sài Gòn nhưng chủ yếu là ngồi trên xe ngắm cảnh và mấy ngày quanh quẩn trong xóm. Bù lại, được cô mua cho ổ bánh mì Sài Gòn và đi chơi Sở Thú cả ngày. Sướng nhất là được tận mắt ngắm nhiều loại cây, loại thú lâu nay chỉ nhìn thấy trong sách. Có loại chưa bao giờ nghe nói như cây súng nia. Nào là voi, sư tử, hươu cao cổ, đười ươi, cọp, beo, ngựa vằn...
     Nhớ về ... Thảo cầm viên Sài Gòn
    Tháng 10.1975, tôi được Thành đoàn phân công về Tân Bình. Quận đoàn lại điều về xã Vĩnh Lộc, vùng đệm giữa thành phố và Long An. Các em ở đây suốt ngày làm ruộng, rẫy, chăn bò... Tay em nào cũng chai sạn vì kéo nước giếng tưới hoa màu. Em nào sang nhất là được lên tới Bà Quẹo.
    Tết năm đó, tôi quyết định đưa các em đi Sở Thú. Mùng 1 tết, mượn xe đạp lên bến xe buýt Bà Quẹo hỏi giá và đặt cọc. Trẻ con náo nức hơn cả tết. Mùng 3 tết, 8 xe buýt lù lù đến đậu trước ủy ban xã. Trẻ con từ các ấp, cơm đùm cơm nắm, lũ lượt kéo về.
    Dù đã được hỏi ý kiến nhưng chủ tịch xã vẫn phát hoảng hỏi tôi “Anh có biết quản vài chục con nít khó hơn chỉ huy cả tiểu đoàn không? Nếu lạc mất vài đứa thì đi tù mọt gông”. “Dạ biết, nhưng có vào tù cũng phải đưa các em đi chơi xong, vì đã hứa rồi”. Hơn 400 thiếu nhi có một cái Tết phấn khích, đầy kỷ niệm, cả tuần kể chưa hết chuyện. Chẳng lạc em nào, chỉ có mấy anh chị đoàn viên, cũng lần đầu vào Sở Thú, lơ ngơ đi lạc, phải gọi loa mấy lần mới tìm được.
    Sau này, nhiều lần vào TCV, tôi càng phát hiện thêm nhiều điều kỳ thú. TCV được khởi dựng từ tháng 3.1864, có diện tích 12 ha với tên gọi ban đầu là Vườn bách thảo, còn gọi là Sở Thú, một năm sau, mở rộng thành 20 ha. JB Luis Pierre (1833-1905), là giám đốc đầu tiên của Sở Thú lớn nhất và sớm nhất Đông Nam Á thời đó. Từ tháng 7.1869, TCV mở cửa cho dân chúng vào xem. Năm 1926, Sở Thú có thêm đền thờ các vua Hùng và Bảo tàng Lịch sử (1929). Từ 1956, Vườn bách Thảo đổi tên thành Thảo cầm viên. Đây là khu bảo tồn động và thực vật nhiệt đới vào loại cổ xưa của nhân loại, xếp thứ 7 trên toàn thế giới.
    Các vườn thú đàn anh là Chonbrunn (Áo-1752), Paris (Pháp-1793), London (Anh-1828), Dublin (Ireland-1830), Berlin (Đức-1844), Moscow (Nga-1863). Dù chỉ làm giám đốc 12 năm nhưng  Pierre đã dồn hết tâm huyết cho việc phát triển TCV và để lại nhiều dấu ấn sâu đậm. Hơn 100.000 phiên bản đang lưu giữ trong Bảo tàng Thực vật thuộc Viện Sinh học nhiệt đới do ông sưu tập.
    Những hàng cây cổ thụ ở Tao Đàn và khắp thành phố đều mang dấu ấn của ông. Ghi nhận công lao đó, kỷ niệm 130 tuổi, TCV Sài Gòn đã đặt tượng bán thân của ông bằng đá hoa cương hồng trên cột bia khắc dòng chữ: “Tôi đã nghỉ hưu nhưng còn quá nhiều việc để làm cho ngành thực vật. Chỉ tiếc là không còn thời gian và cuộc sống thì quá ngắn ngủi”.
    TCV hiện có 18 loài bò sát, 45 loài chim, 57 loài thú, 308 loài thực vật; mỗi loài lại có nhiều họ và chi. Đây là bảo tàng sống của các loài động thực vật nhiệt đới. Đến TCV, tôi mới vỡ lẽ, một số loài thú dữ thường dùng nước tiểu để xác định lãnh thổ của mình. Rùa thuộc loài bò sát. Gà nước họ trích. Sáo đuôi cờ họ quạ. Cò ruồi, cò ngàng nhỏ họ diệc. Hạc cổ trắng, gà đẫy Java họ cò chính... Có nhiều loại cây mang tên rất ngộ như bọ chét, cơm rượu, cơm nguội, cánh chuồn, mò cua, ổi bom, trứng cút, nón cụ, cây thúi...
    Những loại cây hiếm như kim giao (vua chúa ngày xưa dùng làm đũa khử độc tố), bao báp (ở châu Phi), mã tiền (dân gian gọi là củ chi), phượng tím, sưa, súng nia, đầu lân... TCV còn là bảo tồn cây thuốc với nhiều loại như trầm hương, đại phong tử, đào tiên, bách bệnh, long não, kim ngân, sắn dây, huyết rồng, chùm ngây... Hàng chục cây đại thụ lớn tuổi hơn cả TCV. Là trung tâm bảo tồn và nhân giống thành công nhiều loài động vật quý hiếm như trĩ sao, báo lửa, vượn má vàng, rái cá lông mượt... TCV cũng đã bổ sung và thực hiện gần 400 mẫu của hơn 100 loài thực vật. Đặc biệt 21 loài chỉ có quả, 22 loài chỉ có hoa.
    Diện tích chuồng trại từ 8.500 m2 trước 1975 được mở rộng gấp 3 lần, hơn 25.000 m2. Các song sắt tù túng cổ xưa được thay thế bằng kính cường lực trong suốt, tạo cảm giác thoải mái cho cả thú và người xem. Có thể đi bộ vừa tham quan vừa rèn luyện thân thể. Mỏi chân thì lên xe điện, xe lửa ngao du và hít thở không khí trong lành, nghe chim hót líu lo, vượn hú hoang dã.
    Hoặc ngoạn cảnh hồ sen, hồ suối mơ, đảo tiên... Mỗi sáng chủ nhật có xiếc thú. Các bạn nhỏ tha hồ đùa vui với dê lùn, cừu con, thỏ... Nếu các giờ học sinh vật lý thuyết được tổ chức trong TCV thì hiệu quả sẽ nhân lên gấp bội. Học và hành tại chỗ, lại có thêm phim ảnh hỗ trợ, học sinh sẽ nhớ đời. Sẽ thật thiếu sót và lãng phí nếu các giáo viên sinh vật, các hướng dẫn viên du lịch chưa biết tận dụng TCV để bổ sung những kiến thức thực tiễn phong phú về động, thực vật mà không trường lớp nào dạy được.
    Dù chưa thể hấp dẫn bằng Vườn thú Safari các nước nhưng TCV vẫn có những thế mạnh riêng của mình. Đến với TCV và trở về với thiên nhiên giữa lòng thành phố, để hiểu thêm rằng loài vật và cả cỏ cây cũng có tâm hồn, biết buồn vui và thích được yêu thương chăm sóc.
    Nếu không tin các bạn có thể xin gặp Giám đốc Phan Việt Lâm, người có thâm niên hơn 30 năm bầu bạn cùng cỏ cây muông thú. Ông có cả kho tàng chuyện lạ về thú, chuyện bí mật về cây, kể cả tháng chưa hết. Trong khi chờ đợi nên tìm đọc ngay Chuyện lạ Thảo cầm viên và Thảo cầm viên những bí mật lạ lùng của ông (Nhà xuất bản Kim Đồng). Đảm bảo hấp dẫn, cả trẻ em lẫn người lớn.
    Theo Thanh niên

    Chuyện lạ kỳ về những ngôi đền thiêng xứ Nghệ


    (Dân Việt) - Rú Đền từng tập trung 11 ngôi đền lớn, nhỏ, nhưng rồi tất cả đã biến mất trong chớp mắt song song với những câu chuyện lạ kỳ liên tiếp xảy ra...

    Xứ Nghệ vốn nổi tiếng với rất nhiều những địa danh linh thiêng từ trong quá khứ lịch sử thời phong kiến cho đến những năm kháng chiến. Trong đó Rú Đền nằm trên một quả đồi thấp ở mảnh đất Đông Sơn, Giang Sơn Đông, Đô Lương được người đời truyền tụng nhau rằng nơi đây rất linh thiêng. Rú Đền từng tập trung 11 ngôi đền lớn, nhỏ, nhưng rồi tất cả đã biến mất trong chớp mắt song song với những câu chuyện lạ kỳ liên tiếp xảy ra...
    Nơi quần cư của những ngôi đền thiêng
    Ngay lần đầu nghe đến cái tên Rú Đền, mọi người đều có chung cảm nhận được về một nơi linh thiêng, kỳ bí mang đậm vẻ tâm linh. Theo các cụ cao niên ở Đông Sơn, cái tên Rú Đền bắt nguồn từ đặc trưng của một ngọn đồi có sự tập trung hơn chục ngôi đền thiêng san sát nhau. “Rú” là cách gọi của người dân địa phương để chỉ những ngọn đồi thấp, nhiều cây cối, có thể coi nó như một cánh rừng nhỏ.
    Ngôi miếu thờ được ông Khe xây dựng, ngay cạnh ngôi đền bị phá ngày xưa. Hiện nay ngôi đền được vợ và các con ông hương khói.
    Đồi Rú Đền rộng khoảng trên 3ha, được bao quanh bởi khe nước uốn lượn, và những bãi đầm lầy, quanh năm không bao giờ cạn. Bà Nguyễn Thị Bình, năm nay đã gần 70 ở Đông Sơn cho chúng tôi biết: “ Tôi được ông bà, bố mẹ kể lại rằng những ngôi đền này ngày trước là do người Tầu lập ra. Những ngôi đền này ít khi thờ cúng một người cụ thể, mà phần nhiều là đền giữ của” .
    Nhiều người cao niên ở làng kể lại ở các ngôi đền có hình con chó được đúc ra. Khi người ta đổ nước, nước sẽ chảy ra từ miệng của con chó và đổ xuống đất ở chỗ nào, thì đó là điểm chôn vàng bạc, châu báu của người xưa.
    Bà Bình cho chúng tôi biết thêm: “Ngày trước, Rú Đền chỉ toàn là đền thôi, không có một ngôi nhà dân nào cả. Cảnh vật hoang sơ lắm. Ngày đấy, chúng tôi đi học vỡ lòng thường vào ban đêm, qua Rú Đền, chỉ thấy trong các ngôi đền, hương và đèn dầu sáng trưng cả một dãy dài. Sợ lắm, cả đoàn chỉ biết co chân mà chạy”
    Ông Nguyễn Văn Giáp, 75 tuổi, một người rất am hiểu và đã gắn bó gần trọn cuộc đời với ngôi làng Đông Sơn cho biết: “Khu vực Rú Đền trước kia có tổng cộng 11 ngôi đền. Trong số đó có 7 đền được người dân chuyển từ cánh đồng Lối Riềng, cách đó tầm 600 mét về”.
    Cũng theo ông Giáp, khu vực Lối Riềng có địa thế khá bằng phẳng, lại là nơi quần cư của khá nhiều ngôi đền cổ, mộ cổ. Thời phong kiến người dân khai khẩn đất hoang, nhận ra địa thế của khu vực này có thể trở thành một cánh đồng trồng lúa, ngô. Vì thế mà người ta đã quyết định chuyển những ngôi đền tại đây về khu vực Rú Đền.
    11 ngôi đền quần cư tại khu vực Rú Đền, trong số ấy có một ngôi đền lớn nhất, được gọi là đền Cả (hay đền Ông Cả), 10 ngôi còn lại nhỏ hơn.
    Ông Bùi Văn Phúc chỉ về phía cánh đồng Lối Riềng
    Các ngôi đền nhỏ đều có dạng hình ô vuông, cao tầm 2 mét, được làm bằng gỗ lim và gỗ mít, phía trên lợp ngói, được chia làm hai phần, tương tự như kiểu nhà sàn. Phần dưới chỉ có bốn cột để chống đỡ. Phía trên được đóng ván kín 3 phía, phía trước cửa mở, bên trong đặt bài vị, bát hương… Ngoài ra các đền nhỏ còn có hai thanh đao, hai trái cù to được đục và chạm trổ một cách tỉ mỉ, đẹp mắt.
    Đền Cả là ngôi đền lớn nhất, có 2 gian, phía trên và dưới đều kẻ bẩy, không có bục, tức là không có ván đóng 3 bên, phía trước để cửa thông cho mọi người có thể bước vào thắp hương. Hai gian của đền Cả cũng có diện tích không quá lớn, chỉ đủ để đặt bàn thờ. Đền có bốn cột, phía trên có bẩy cong cong và khum lại, hai bên cũng có bẩy hướng ra. Kiến trúc của đền Cả được thực hiện khá tinh vi và điêu luyện, đặc biệt là trong việc chạm khắc những hoa văn, họa tiết trên các thân cột, diềm và bẩy.
    Chuyện lạ kỳ quanh Rú Đền
    Trong kháng chiến chống Mỹ, người dân Đông Sơn chưa biết chiến tranh là như thế nào, thậm chí họ không biết đào hầm mà ẩn lấp. Thấy bom Mỹ dội xuống, ai cũng hoảng loạn, chỉ biết tìm chỗ kín mà trốn. Vùng Rú Đền trước đây còn hoang sơ, cây cối um tùm, có những cây cổ thụ to và rất cao.
    Hơn nữa, bao quanh Rú Đền là khe nước và đầm lầy toàn cây lác, cây lau rậm rạp. Chính vì thế dân Đông Sơn khi thấy tiếng bom đạn là cứ ra đó nằm dọc theo cả một bờ khe, nép vào những hang hốc giao nhau giữa vùng nước và đồi ấy để mà trốn, cả một hàng dài lên đến hàng cây số.
    Ông Giáp vẫn có tâm trạng rất ngạc nhiên dù chiến tranh đã lùi xa hàng chục năm: “Có điều kì lạ là dẫu bom mìn của bọn Mỹ có dội ác liệt đến mấy, chúng oanh tạc có khủng khiếp đến nhường nào thì có thể trúng ở đâu đâu, còn không bao giờ dội trúng vào Rú Đền này”. Cũng chính vì thế mà Rú Đền từng là vùng mà bộ đội ta chọn làm căn cứ trú ngụ một thời trong chiến tranh.
    Theo Thế Giới & Hội Nhập