Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

Răng huyền của phụ nữ Co Ngựu


(Dân Việt) - Có một nơi trên đất nước này mà tất cả những người phụ nữ trung niên hoặc lớn tuổi vẫn hằng đêm cặm cụi bên bếp than hồng thổi thuốc nhuộm để giữ cho hàm răng mình luôn được đen nhánh hạt huyền.

Tập tục từ xa xưa của cộng đồng người Lào ở bản Co Ngựu (xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu) truyền rằng, cứ nhìn vào hàm răng đen của phụ nữ là có thể đánh giá được nết đảm đang, chịu khó.
Những người cao tuổi trong bản đều bảo, tục nhuộm răng có từ bao giờ thì không ai nhớ nổi chỉ biết rằng khi một đứa trẻ sinh ra đã nhìn thấy mẹ và các bà, các cô trong bản có hàm răng đen nhưng nhức.
Hàm răng đen nhưng nhức chính là một cách để đánh giá sự đảm đang của phụ nữ dân tộc Lào.
"Cũng như một số cộng đồng dân tộc khác, người Lào có những quy ước riêng để đánh giá trai tài, gái đảm. Đàn ông Lào trước đây chỉ thích lấy người con gái nào có hàm răng đen đều tăm tắp vì theo quan niệm, những người ấy sẽ là người vợ đảm đang, chung thủy..." - già Lò Thị Rơi.
Ngày trước, phụ nữ dân tộc Lào thường học nhuộm răng từ thuở mười hai, mười ba. Mỗi nhà, mỗi người phụ nữ đều trang bị cho mình một chiếc bàn nhuộm răng riêng, có thể làm bằng mảnh gang từ chiếc lưỡi cày vỡ cũng có khi chỉ là một con dao cùn uốn hình lòng mo khéo léo.
Cây nhuộm răng tiếng Lào gọi là mạy tửu, còn theo tiếng Kinh thì đó là cây thành ngạnh mọc hoang dại khắp nơi. Bà con chặt những cành nhỏ mang về phơi khô, đốt hơ vào chiếc bàn nhuộm, khói phụt vào bàn nhuộm mang theo một lớp nhựa màu đen họ dùng tay quệt lớp nhựa màu đen đó bôi vào răng.
Già Rơi bảo, lớp trẻ bây giờ do được tiếp xúc nhiều với các luồng văn hóa nên không chịu nhuộm răng nữa. Nhưng theo những người lớn tuổi ở Co Ngựu thì tục nhuộm răng đen vẫn phải được trân trọng, gìn giữ vì "cái khoảng thời gian ngồi nhuộm răng chính là khi người vợ, người mẹ lắng lòng mình lại để kiểm điểm xem những việc mới làm trong ngày đã tốt, đã phải chưa? Từ đó mới có hướng để sửa mình...".

Cũ mới đan xen nơi thị trấn mang tên "Gặp gỡ"


Dân Việt - Thị trấn Phùng - trung tâm của Tổng Phùng xứ Đoài xưa, nay là “thủ phủ” huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Những người cao niên giải thích theo nghĩa chữ Hán: Phùng là sự gặp gỡ, giao thoa…

Thị trấn được hình thành từ lâu đời, dân quanh vùng thường gọị là Phố Phùng.
Thị trấn nằm trên quốc lộ 32, cách trung tâm thành phố 21 km về phía Tây và là trung điểm, chia đôi lộ trình Hà Nội - Sơn Tây. Phùng còn gần một “ngã ba sông”- nơi con sông Hồng phân lưu nước cho sông Đáy, để vào mùa lũ, Hồng Hà trở nên hiền hòa hơn khi về với đất Thăng Long.
Phố mới ở thị trấn Phùng hôm nay
Ở khu vực Phùng bao đời nay, sức người dân lao động đã tạo dựng nên mộthệ thống “đê trong - đê ngoài” dày đặc dọc các triền sông. Có thể nói, hệ thống đê ở đây đa dạng và đẹp nhất trong mạng lưới đê điều miền Bắc.
Nơi đây đã từng đựợc coi như một vị trí chiến lược quan trọng của người Pháp thời cai trị nước ta. Hiện vẫn còn di tích những lô cốt án ngữ các vị trí quan trọng của cả tuyến bộ và tuyến thủy…
Cầu Phùng nhìn từ phía hạ lưu
Thị trấn Phùng từ xưa đã có món nem Phùng đậm đà nổi tiếng. Được sở hữu một dải đất phù sa sông Đáy dịu ngọt, nơi đây còn hình thành nên một “miền thương hiệu” truyền thống từ những cây mía kéo mật, cây dâu chăn tằm và cây dong riềng làm miến…
Từ khi Cầu Phùng xây mới thay thế cho Đập Tràn cũ qua sông Đáy trên quốc lộ 32 (tháng 9.2010), nơi đây đã có thêm nhiều điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn về phía hạ lưu cây cầu.
Phía trên và phía dưới Đập thủy lợi sông Đáy
Là quê hương của thi sĩ tài hoa xứ Đoài xưa Quang Dũng, nơi “phát tích” phong trào “Phụ nữ Ba đảm đang” thời chống Mỹ, thị trấn Phùng hiên nay đang hàng ngày đổi thay với tốc độ đô thị hóa rất nhanh, nên mãi còn mong một Phố Phùng đậm đà, dịu ngọt.
Bến sông và đường Rặng Nhãn ven thị trấn
Dong riềng ngoài bãi và miến phơi trên đê
Tượng đài “Phụ nữ Ba đảm đang”
Một cổng làng mới xây ven thị trấn
Mùa gặt trên đồng và hoa màu nơi đất bãi
Mãi còn gợi lại câu thơ của Quang Dũng: “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc/ Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng…”

Đến Huế khám phá vườn "treo" trên hoàng thành


Nhắc đến Huế, người ta thường nghĩ ngay đến sông Hương, núi Ngự, cầu Tràng Tiền, chợ Đông Ba, những lăng tẩm….


Hoàng thành hóa ra ngó vậy mà không phải vậy!
Đặc biệt, rất nhiều khách du lịch khi đến Huế đã không thể bỏ qua tour tham quan Đại Nội với hệ thống hoàng thành được xây dựng từ thời nhà Nguyễn.
Được xây dựng bên bờ Bắc sông Hương, vòng thành có chu vi gần 10km, cao 6,6m, dày 21m, được xây khúc khuỷu với những pháo đài. Kinh Thành Huế có lẽ là công trình kiến trúc đồ sộ, quy mô nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại.

Nhưng với những người sống tại Huế, đặc biệt là những người trẻ, đôi khi sự trầm mặc lại khiến người ta có cảm giác nhàm chán.

Chủ nhật rảnh rỗi, đi lòng vòng, kiếm mấy chỗ bình thường chỉ chạy qua mà không chú ý lắm để coi thử cho biết. Chạy hoài thì đến mấy bức tường thành. Những bờ thành kiên cố, đứng sừng sững, đôi khi nhìn lên chỉ thấy cũ kĩ, buồn buồn, cây cỏ mọc um tùm, nghĩ chắc trên đó hẹp mà hoang tàn ghê lắm!

Nhưng nhìn vậy mà không phải vậy. Đặt chân lên trên thành, tôi chợt choáng ngợp trước khung cảnh hữu tình của những khi "vườn treo" thanh bình, lãng mạn.

Lối dẫn lên mặt trên của tường thành
Ở đây người ta trông rất nhiều cây và hoa, đặc biệt là boa rô, thì là, cải xanh, cả loại cải hay mua để muối dưa nữa… Mấy luống rau đều tăm tắp, trổ hoa, nhìn nguyên một vạt thật đẹp!
 
Cảnh đẹp lung linh



Hoa boa rô

Hoa thì là
Đến đây, du khách sẽ bắt gặp những người nông dân đang cào đất, tưới nước chăm chỉ mỗi ngày. Khi thấy có người giơ máy ảnh ra chụp, họ đều cười rất thân thiện. 

Đứng đây nhìn ra xung quanh, sẽ thấy Huế rất lạ, sảng khoái đón làn gió nhẹ trong lành mang theo hương thơm thoang thoảng của vườn rau. Chợt thấy đất trời giao hòa.
Nếu nói lăng tẩm, hoàng thành là “đặc sản” của Huế, thì giờ đây, với nhiều người trẻ, Huế còn có thêm một “đặc sản” nữa, đó chính là những khu vườn "treo"!
Theo iHay

Đuối không em?


“Tan tầm rồi đuối không em?- Đuối lắm anh ơi!- Vậy anh mời em đi ăn cá đuối cho khỏe ra”... Có món ngon, anh bạn "a lô" rủ rê “đồng bọn” nghe thật vui tai.

Thoáng nhìn chú cá đuối bông xanh lợn lờ dưới đáy biển, thân hình lúc giống con diều khi giống cánh bướm và chiếc đuôi uốn lượn trông thật dễ thương. Song bạn sẽ giật mình nếu biết, đuôi loại cá đuối độc - nhỏ hơn ngón tay út - có thể giết chết một lực sĩ trong chớp nhoáng.
Có con, đuôi lại phát ra điện giật tê cả người. Có đuối nạnh (tựa nanh) khoái ủi những chướng ngại vật trước mặt... Mới biết, biển “mẹ” không chỉ bao la mà ẩn chứa bao kỳ thú!
Thiếu nước cốt khế, món đuối nướng sẽ kém ngon.
Song nói về chất lượng thịt, ngoài đuối đen (hắc cáy) dùng làm khô ngon số một, thì cá đuối nước lợ mới ngon nhớ đời!
Nấp bụi hành
So với cá đuối biển, đuối nước lợ nhỏ hơn, nặng trung bình khoảng 2 - 3 kg/con. Khu vực Nam bộ, vùng biển Vàm Láng - Tân Thành, Gò Công Đông, Tiền Giang và Cần Giờ, TP.HCM có nhiều cá đuối này.
Có dịp du ngoạn đến đây, bạn có thể tận mắt thấy những chú cá đuối mắt long lanh, đuôi ngoe nguẩy do ngư dân giăng câu kiều (câu không mồi ở tầng đáy), cào... bắt được.
Cá tươi, đem nhúng giấm nuôi pha ít nước hèm hoặc cơm rượu thôi ăn cũng đủ ghiền. Tuy nhiên, phần khử tanh cá đuối cực hơn các loại cá biển khác. Bởi ống thận cá xương sụn có khả năng tái hấp thu các chất urê và oxyt trimethylamin gây mùi khai. Do vậy phải khử tanh bằng nước ấm pha ít ớt hiểm giã và muối.
Đã "đuối" mà còn khoái... hành
Hãy làm sạch phần gan và giữ lại để pha vào nước chấm, nhằm tăng độ béo tự nhiên mới ngon thượng thừa.
Gia vị đồng điệu không thể thiếu ít củ hành tím, hành tây và củ sả bào. Quyện trong mùi thơm thanh của giấm vẫn nổi bật hương ngất ngát của sả cùng chút hăng nồng của hành.
Tất cả như khuyến dụ khứu giác, kích thích tuyến nước bọt hoạt động mãnh liệt hơn... Tức thì, thần kinh não bộ phát nhanh tín hiệu: thèm quá đi!
Món này có thể ăn kèm ít bún, rau mùi các loại cộng với nước mắm chua ngọt. Với những ai thích “gói gém” có thể cuốn bánh tráng, khế, chuối chát... chấm mắm nêm. Kiểu nào cũng say mồi!
Còn nhiều món đuối không thể thiếu hành như hấp, nấu cà ri, xào lăn... Đồng thời, đuối còn "nặng nợ" với khế.
Đuối ngon lụy... khế
Thịt cá đuối có thể chữa một số bệnh hiệu quả
Với dân “kẻ chợ”, hồn đuối đã lìa xác ít nhất một buổi, thế nên độ khai còn báo động hơn. Trăm sự cũng phải nhờ quả khế lủng lẳng sau hè. Chính xác hơn là quả khế chua vừa chín tới (hườm).
Theo đông y, thịt cá đuối có thể chữa các bệnh đau âm hộ, bạch trọc, đái vặt.
Lúc này, hỗn hợp nước khử tanh vừa kể trên phải gia thêm ít nước cốt khế. Chưa hết, bạn thử quét ít nước cốt khế cùng nước cam vào món đuối nướng muối ớt, lúc gần chín, sẽ tuyệt diệu hơn. Quả là thơm thanh thoát, như cô bé lọ lem thoáng chốc trở thành công chúa xinh đẹp.
Ngoài ra, công trạng lớn nhất của khế là giúp người ăn ngừa chứng dị ứng hải sản, theo dược sĩ Bùi kim Tùng.
Tương tự, các món lẩu đuối, xào dưa cải... có thêm năm mười lát khế sẽ cuốn hút hơn. Thịt đuối vốn mềm dẻo lẫn ngọt dịu, chứa chút dư vị biển cả, nay uống chút chua thanh, thơm mát của khế khác nào gái ngoan gặp trai tài!
Ngẫm lại, dường như giữa biển cả và đồng bằng luôn có duyên nợ với nhau trong ẩm thực Việt. Hải sản giàu đạm, khoáng chất nhưng cũng chứa không ít rủi ro như dị ứng, ngộ độc... Bù lại, những tinh dầu trong trong rau gia vị cũng chính là những hoạt chất sinh học có thể hóa giải những rủi ro ấy.
Và đó là cả một quá trình thử nghiệm, đúc kết gian nan, bền bỉ... của cha ông nhằm đạt ngưỡng ăn thay thuốc, tức y thực.
Theo iHay

Phát hiện hang động tuyệt đẹp ở Quảng Trị


(Dân Việt) - Đây là hang động lớn với những khối thạch nhũ nhiều màu sắc tuyệt đẹp. Vào sâu trong hang có rất nhiều trảng rộng với những bãi đá ngầm và những mạch nước như những dòng suối nhỏ.

Ngày 14.8, Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá (tỉnh Quảng Trị), cho biết vừa phát hiện một hang động tuyệt đẹp tại một dãy núi hiểm trở thuộc thôn A Sóc, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hoá.
Những hình ảnh ghi nhận được tại hang động này cho thấy đây là một hang động lớn, bên trong có những khối thạch nhũ nhiều màu sắc tuyệt đẹp.
Vào sâu trong hang động còn phát hiện rất nhiều những trảng rộng với những bãi đá ngầm và những mạch nước ngầm như những dòng suối nhỏ.
Hang động này được gọi là động BRai, nếu được đầu tư sẽ là một điểm du lịch lý tưởng.

Động Brai - điểm du lịch mới ở Quảng Trị

Đoàn Thắng

VTV.vn - Tỉnh Quảng Trị vừa phát hiện một hệ thống hang động thuộc địa bàn thôn A Sóc, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa.

Từ thị trấn Khe Sanh đi theo đường Hồ Chí Minh nhánh Tây khoảng 70km, qua khỏi đèo Sa Mù đến cầu Sê Păng Hiêng, động Brai chỉ cách đường Hồ Chí Minh chưa đầy 400m. Cửa vào động không quá cao nên khá thuận lợi cho việc khám phá vẻ đẹp kỳ vĩ, nguyên sơ của hang động này.
Càng vào sâu, vòm động càng rộng với những cột thạch nhũ hình thù sinh động. Nhiều khối nhũ đá đủ màu sắc với các hình dáng khác nhau, huyền bí bởi kiến tạo của tự nhiên. Theo phán đoán của cán bộ Khu bảo tồn bắc Hướng Hóa, hang động này còn rất sâu và có thể nằm trong hệ thống đá vôi nối liền với Quảng Bình.

Xông khói, điêu hồng không kém Điêu Thuyền


Nhờ được ướp với nhiều loại rau mùi phương Tây, lại được xông khói bằng những loại củi thơm, thịt cá điêu hồng săn lại, mỡ tươm ra da, miếng thịt cá điêu hồng thoang thoảng hương...

Tuy có cùng họ với một trong tứ đại mỹ nhân, nhưng điêu hồng có thể nói là thứ cá hạng bét, may ra chỉ nhỉnh giá hơn rô phi. Người ta cố chế biến ra nào là điêu hồng nấu ngót, điêu hồng nướng giấy bạc, điêu hồng xốt ớt, điêu hồng hấp rượu vang, điêu hồng hấp nấm, điêu hồng ăn sống chấm mù tạt.
Có thể nói cá điêu hồng xông khói ngon hạng nhất
Các món vừa nêu đều không ngon, vì con cá được chăm sóc, cung phụng trên mức tình cảm, thịt nhão. Cái món ăn sống là tào lao nhất hạng, vì điêu hồng vốn là cá nước ngọt. Chỉ những người coi giun sán như pha rề mới lấy làm vui thích với món điêu hồng chấm mù tạt.
Nhưng có một món điêu hồng nhứt hạng mà ít người biết đến. Số là trong một chuyến lang thang xuống Vũng Tàu, lân la ở khu chợ du lịch, ông chủ nhà hàng Hải Hòn Chồng tình cờ phát hiện món ăn có thể đưa cá điêu hồng lên hàng khanh tướng: cá điêu hồng xông khói.
Quả vậy, nhờ được ướp với nhiều loại rau mùi phương Tây, lại được xông khói bằng những loại củi thơm, thịt cá săn lại, mỡ tươm ra da. Theo các cô gái bán món cá này ở chợ du lịch Vũng Tàu, cá do người Nga tẩm ướp theo công thức của họ và xông khói.
Miếng thịt cá điêu hồng thoang thoảng hương, săn chắc chớ không còn nhão như đã nói, bên dưới lớp da tươm mỡ. Những người biết thưởng thức cũng cất công ngồi nhấm nháp miếng da, cảm nhận được cái béo của cá, cái thơm của khói. Bên trong cá là các loại rau mùi được nhồi chặt. Nên thịt cá mằn mặn vừa ăn, ngoài cái hương của khói còn có vị hương xa mà ta vẫn bắt gặp trong các món cá xông khói của người Nga.
Lần đầu tiên ăn món cá này, những thực khách được mời đều gật gù. Quả vậy, nếu như các món cá điêu hồng vừa nêu trên đều ở hạng “lọ lem”, thì điêu hồng xông khói có thể nói là “đẹp” ngang với Điêu Thuyền về nét ngon.
Nếu có dịp dạo chợ du lịch Vũng Tàu, mua món cá này đem về, bạn nên chọn con cá cũng roi roi cỡ Điêu Thuyền, chớ đừng phốp pháp như Dương Quý Phi, hay to như Lữ Bố. Cỡ đó mới ngon “ba chê”.
Theo Sài Gòn Tiếp thị

Bún cá ngừ: Vừa ngon, vừa đậm đà


Người miền Trung nói chung, bà con ngư dân La Gi-Bình Thuận nói riêng hầu như ai cũng thích món bún cá ngừ. Món ăn đơn giản này vừa ngon vừa đậm đà.

Cách chế biến không có gì cầu kỳ. Cá ngừ tươi mua ở chợ cá biển về làm sạch, cắt từng lát dày khoảng 2,5cm, ngâm nước muối, rửa sạch, cho vào rổ để ráo nước rồi ướp đều gia vị ở hai mặt lát cá (muối, bột ngọt). Khi cá vừa thấm thì dùng dầu chiên sơ.
Cá sau khi chiên thì bỏ vào nồi nước đã có gia vị (cà, hành, tỏi, ớt, nước mắm, bột ngọt...) sao cho vừa xăm xắp mặt cá. Vặn lửa to, cho nước trong nồi sôi bung lên rồi vớt bọt, hạ lửa để cá thấm. Vậy là đã có món cá ngừ kho đậm đà hương vị. Rau sống ăn kèm chủ yếu rau thơm, cải xanh, bắp chuối xắt mỏng, tía tô. Bún tươi đã có sẵn ở lò bún hoặc chợ chỉ mua về là dùng ngay.
Người Quảng Nam cầu kỳ hơn trong món bún cá ngừ mà họ gọi bún cá ngừ um. Cũng chừng ấy nguyên liệu nhưng thêm thịt ba chỉ và thời gian “um” kéo dài đến vài giờ đồng. Um đồng nghĩa sử dụng lửa nhỏ, để nguyên liêu tự thấm, làm thịt cá săn lại. Theo kinh nghiệm dân gian, cá ngừ um càng lâu càng ngon.
Hiện nay món ăn này chưa phổ biến lắm ở các nhà hàng, quán ăn, chủ yếu gia đìnhtự chế biến để ăn.
Theo Bình Thuận Online

Ăn cá ồ quên đường về


Từng con cá ồ hấp được người ăn gỡ đều từng bên, hết bên này đến bên kia. Dùng bánh tráng cuốn cá cùng rau sống dưa leo và mắm ngon, thì chỉ việc ngồi ăn đến no, quên... đường về.

Mùa này, vùng biển miền Trung liên tiếp được mùa cá ồ. Đặc biệt những hôm trời thuận gió nam, các ghe đi mành trúng đậm, mỗi đêm một ghe đánh được hàng tấn cá ồ là chuyện bình thường. Những buổi sáng như vậy, trên các làng chài gần khu bến cá, ngư dân í ới gọi nhau ra biển rộn ràng tấp nập.
Được mùa cá ồ, từ đầu bến đến cuối bến, đầu chợ đến cuối chợ, những con cá màu nâu xanh, bụng trắng, thân bằng cườm tay, con to bằng bắp tay người lớn, dài hơn gang tay nằm trên khoang thuyền, trên bờ cát la liệt.
Khắp truông làng ngõ xóm, tiếng nói tiếng cười rổn rảng của các chị các cô làm cả thôn xã vui lây. Được mùa, trong mỗi bữa ăn ở các nhà làng biển, nhà nào cũng có món cá này.
Ngư dân thường chọn loại cá ồ nhỏ cỡ bằng cán dao, nắm tay (gọi là cá ồ kẹo) để trụng cho cá có độ tươi rồi chuyển đi các nơi khác tiêu thụ. Cá ồ loại to bằng bắp tay trở lên không trụng mà muối đá rồi bán nguyên con. Dù loại nào đi nữa, cá ồ mới vớt lên từ biển cũng đều tươi ngon.
Ngoài những món thông thường, gia đình bạn hữu thường tập trung quây quần bên nhau làm món khoái khẩu cá ồ hấp để cùng nhau ăn một bữa cho đã đời. Cá ồ hấp ngon thường là những con cá tươi mập. Khác với nướng, cá ồ hấp mộc nhưng buộc phải hấp cách thủy mới tuyệt. Đơn giản vậy thôi nhưng khi hấp chín con cá ồ còn nguyên hình, mùi thơm lựng tỏa lan trong gió, mới nhắc xoong ra, nhìn thấy ở chỗ khứa trên thân con cá nở bung, những sớ thịt trắng, nâu có lấm tấm mỡ bóng nhẫy, bụng dạ cứ nôn nao thòm thèm.
Từng con cá ồ hấp được người ăn gỡ đều từng bên, hết bên này đến bên kia. Để thưởng thức món cá này một cách “đúng bài”, đậm đà vừa ngon vừa lạ, dùng bánh tráng cuốn cá cùng rau sống dưa leo và mắm ngon, thì chỉ việc ngồi ăn đến no, quên... đường về.
Nếu thích còn bộ xương nướng vàng ăn lại cũng rất thơm ngon. Đầu cá ồ cũng được nhiều người thích, vì thế ai ăn cá hấp mà bỏ đi phần đầu thì chưa phải là người sành ăn cá.
Theo Thanh Niên


Nhớ mùa điên điển say mê...


Vào mùa nước nổi, chúng tôi thường bơi theo con nước oằn những cành điên điển trĩu bông xuống hái. Bông điên điển mang về được mẹ tôi làm bánh xèo hay chấm mắm kho. Vị ngòn ngọt, giòn giòn của bông trở thành món ăn đặc sản...

Về quê lần này, tôi thấy hàng điên điển trước nhà trổ bông vàng rực. Ba nói đó là giống điên điển Thái được ba sưu tầm về trồng vì chúng cho bông quanh năm.
Ba hái những chiếc bông vừa hé nụ cho vào rổ, đưa chị Tư nấu canh chua với mớ cá sặc mà chị giăng lưới đầu hôm. Ba còn ra ruộng hái thêm mớ rau ngổ, rau dừa. Trưa hôm ấy, cả gia đình tôi quây quần bên mâm cơm với nồi canh chua cá sặc nấu cùng bông điên điển và dĩa cá rô kho tộ chấm các loại rau đồng.
Bông điên điển vàng rực trong mùa nước nổi. Ảnh: Internet
Mãi đến bây giờ, ba tôi vẫn yêu bông điên điển. Những chiếc bông vàng rực luôn giúp ba nhớ lại buổi đầu quen má. Thời ấy, ba tôi rất tài tử, một chiếc xuồng cùng cây đàn ghi ta ngao du khắp miền Tây sông nước. Ba gặp má trong một lần tình cờ chống xuồng vượt qua cánh đồng trong mùa nước nổi nơi mà má mặc chiếc áo bà ba đứng hái những bông điên điển đầu mùa. Thoáng thấy má, ba tôi hò: “Hỡi cô má đỏ hây hây, cô bao nhiêu tuổi mà nay chưa chồng”.
Nghe điệu hò của người con trai lạ, má tôi đỏ mặt, nhanh tay lấy chiếc khăn rằn đang quấn trên cổ che miệng cười.
Ba cưới má cũng trong mùa bông điên điển. Đám cưới ba có thêm món lẩu hoa đồng nội mà trong đó không thể thiếu bông điên điển. Ngày cưới, má tôi mặc chiếc áo vàng rực như màu vàng của bông điên điển. Sau ngày cưới, ba cất ngôi nhà sàn bên sông và trước nhà luôn có những hàng cây điên điển dập dềnh theo con nước. Chúng tôi lần lượt chào đời, lớn lên theo từng mùa bông vàng rực.
Còn nhớ, ngày xưa sau mỗi ngày đi học, tôi thường rủ bạn bè đi tắm sông. Khúc sông trước nhà nước không chảy xiết nên chúng tôi tha hồ thả nổi trôi theo con nước lững lờ. Vào mùa nước nổi, chúng tôi thường bơi theo con nước oằn những cành điên điển trĩu bông xuống hái. Bông điên điển mang về được mẹ tôi làm bánh xèo hay chấm mắm kho. Vị ngòn ngọt, giòn giòn của bông trở thành món ăn đặc sản quê tôi chỉ có trong mùa nước lũ.
Rời quê, chúng tôi lên Sài Gòn, thỉnh thoảng mới gặp được bông điên điển. Nhưng bông điên điển ở chợ thường giập nát, héo úa cũng không giòn ngọt như bông ở quê nhà. Tôi chợt nghĩ, có lẽ bông điên điển ở quê ngon hơn không chỉ vì chúng tươi mà trong đó có hình ảnh của những người thân, bạn bè từng gắn bó với tôi suốt thời thơ ấu.
Theo Người lao động

Quốc kỳ khổng lồ hiên ngang ở Trường Sa


Từ trực thăng, vệ tinh hay tìm kiếm trên trang Google Earth, lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở trung tâm Trường Sa lớn, nổi bật giữa mênh mang đại dương và màu xanh trù phú của cây cối trên đảo.


Đài tiếng nói Việt Nam sẽ chính thức công bố những hình ảnh quý giá chụp từ trực thăng lá quốc kỳ bằng gốm khổng lồ trên đảo Trường Sa lớn vào tối 2.9 trong chương trình truyền hình trực tiếp Trường Sa – Biển đảo Việt Nam mến yêu trên VTV1, hệ phát thanh có hình VOVTV.
Từ trực thăng, vệ tinh hay tìm kiếm trên trang Google Earth, lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở trung tâm Trường Sa lớn, nổi bật giữa mênh mang đại dương và màu xanh trù phú của cây cối trên đảo.
Lá cờ bằng gốm trên mái nhà hội trường của đảo có kích thước 12,40m x 25m (diện tích 310m²) được ghép từ 310.000 viên gốm mosaic nhỏ, cỡ 3 x 3cm. Xung quanh đó có 4 bức tranh gốm hướng về phía đường băng trung tâm đảo thể hiện lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam gắn bó với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ca ngợi vẻ đẹp hiên ngang của người chiến sĩ hải quân nơi đầu sóng ngọn gió. Hai bức tranh phía sau là cảnh làng quê Việt Nam thân thuộc; một bức là hoa sen, hoa đào, hoa mai, gợi những hình ảnh thân quen hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của các chiến sĩ.
Theo Ban tổ chức, việc vận chuyển 310.000 viên gốm rất kỳ công. Gốm được sản xuất tại Hà Nội, xếp chồng lên nhau, được đóng gói kỹ trong các bao ni lông và thùng gỗ. Các tác phẩm gốm phải vượt gần 2.000km đường bộ sau đó tập kết tại hai điểm lớn là Cam Ranh và Cát Lái trước khi xếp lên tàu ra đảo. 94 kiện với hàng trăm tấm gốm đã được ghép công phu từ Hà Nội được đưa dần ra đảo trên 5 chuyến tàu hải quân.
Cờ tổ quốc tại Trường Sa. Ảnh: VOV cung cấp
Những người thực hiện lá cờ này đã nghiên cứu về độ bền của men gốm khi tiếp xúc với muối biển qua các cuộc khai quật khảo cổ những con tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Hòn Cau (Vũng Tàu), Hòn Dầm (Kiên Giang), Bình Thuận. Sau nhiều thể nghiệm, gốm phủ men nặng lửa màu đỏ tươi sẽ đảm bảo chịu được mưa nắng ngoài trời, độ mặn của muối biển và không bị bay màu. Họ cũng sử dụng loại xi măng chịu mặn của Bộ Quốc phòng để có được độ bền tốt nhất.
Lá cờ cũng được sử dụng như một bề mặt thu nước mưa khổng lồ góp phần tích trữ nước ngọt trên đảo.
Theo Đất Việt


Giải mã một kỳ tài trong lịch sử nghề gốm Việt


(Dân Việt) - Từ một lá thư của ông Makoto Anabuki, Bí thư văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản gửi Bí thư Tỉnh ủy Hải Hưng (cũ) vào năm 1980, nhờ tìm xuất xứ một chiếc bình gốm đặt tại Bảo tàng quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, mà sự thật lịch sử bắt đầu hé lộ.

Theo thư, lúc ở Thổ Nhĩ Kỳ, ông Makoto được chiêm ngưỡng một bình gốm được coi là bảo vật tại Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul. Chiếc bình được mua bảo hiểm 1 triệu USD, trên có khắc 13 chữ Hán: "Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút" (dịch: Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, nghệ nhân Bùi Thị Hý viết).
Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành
Chiếc bình triệu đô và lá thư từ Đại sứ quán Nhật Bản
Chuyện bắt đầu từ lá thư của ông Makoto Anabuki, Bí thư văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản gửi Bí thư Tỉnh ủy Hải Hưng (cũ) vào năm 1980, nhờ tìm xuất xứ một chiếc bình gốm đặt tại Bảo tàng quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ.
Cũng từ một bản tin trên tạp chí chuyên ngành của tỉnh, mà một dòng họ xác định được công lao của bà tổ cô kỳ tài, từng giả trai đi thi, từng cưỡi thuyền vượt biển xuất cảng đồ gốm. Hơn thế, một dòng họ khác từng được vua đổi họ, qua việc này, đã tìm được những người anh em cùng cội nguồn từ… hơn 700 năm trước.
Theo thư, lúc ở Thổ Nhĩ Kỳ, ông được chiêm ngưỡng một bình gốm được coi là bảo vật tại Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul. Chiếc bình được mua bảo hiểm 1 triệu USD, trên có khắc 13 chữ Hán: "Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút" (dịch: Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, nghệ nhân Bùi Thị Hý viết).
Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành được bí thư tỉnh ủy giao thực hiện việc này. Đó là nhiệm vụ khó khăn, khởi đầu từ dịch chính xác 13 chữ Hán. Ông Hoành nhớ lại: "Lúc đó, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đọc là "Bùi thị, hý bút" (ông họ Bùi vẽ chơi). Tức là chữ "hý" được coi như tính từ, chứ không phải danh từ chỉ tên riêng như cách hiểu của tôi.
Chiếc bình gốm cổ tại Bảo tàng Hoàng gia Thổ Nhĩ Kỳ và ấm rượu Phượng Hoàng - một tác phẩm nghệ thuật gốm Chu Đậu đặc sắc
Họ cho rằng ở thế kỷ XV phụ nữ không dùng tên riêng và không có tiền lệ phụ nữ được khắc tên trên sản phẩm thủ công. Nhưng dù hiếm, tôi vẫn tìm ra những phụ nữ được ghi tên trên đồ gốm với tư cách tác giả như trường hợp bà Nguyễn Thị Đỉnh, vợ ông Đặng Huyền Thông, một nghệ nhân cùng chồng làm đồ gốm rất nổi tiếng ở Nam Sách. Vì vậy, tôi nghĩ người làm chiếc bình gốm đó là một phụ nữ ở Nam Sách vào năm 1450".
Nhưng làng Chu Đậu (xã Thái Tân, huyện Nam Sách) chỉ có nghề chiếu cói. Nhờ quá trình tìm hiểu nghề chiếu cói ở Chu Đậu, các nhà khảo cổ vô tình tìm được những con kê gốm hình vành khăn. Được tin, lập tức ông có mặt. Ở ao làng, ông tìm được một chiếc tước (cái chén có chân) bằng gốm méo mó dính với một chiếc bao nung. Qua đó, ông khẳng định Chu Đậu từng có nghề gốm.
Năm 1986, ông xin phép UBND tỉnh cho khai quật địa điểm trên và phát hiện hàng nghìn cổ vật gốm ở độ sâu 2m trên diện tích 36m2. Ông hân hoan: "Đó là công lớn của khảo cổ học. Ngay người làng Chu Đậu cũng không biết làng từng có nghề gốm nổi tiếng ".
Từ đó đến năm 1991, ông tổ chức 7 lần khai quật cùng một địa điểm và đều thu được đồ gốm cổ. Năm 2003, khi phát hiện 1 trong 5 con tàu cổ chìm tại vùng biển Cù Lao Chàm (Hội An) sâu 72m so với mặt biển, có hàng vạn đồ gốm cổ xuất xứ Chu Đậu, thì gốm Chu Đậu trở nên lừng danh khắp thế giới. Dòng gốm này đã trưng bày tại bảo tàng của hơn 40 nước và vùng lãnh thổ.
Sau đó, khi làm Giám đốc Bảo tàng Hải Dương, ông Hoành bắt đầu nghiên cứu sâu về dòng gốm này. Theo ông, căn cứ vào hoa văn, có thể nói gốm Chu Đậu ra đời đầu thế kỷ XV thời kháng chiến chống quân Minh và kết thúc cuối thế kỷ XVI với niên đại cuối ghi năm 1592. Từ đó, có thể suy luận, năm 1593, khi quân Lê - Trịnh tấn công quân Mạc ở Hải Dương, vùng Nam Sách bị đốt phá, xóa sổ luôn làng gốm Chu Đậu. Riêng dòng họ Vương chạy thoát lên Bát Tràng, hậu duệ còn làm gốm ở đó.
Người đàn bà giả trai trong gia phả họ Bùi
Nhà thờ tổ gốm Chu Đậu
Ông Hoành ra sức dò hỏi khắp nơi về một người phụ nữ tên Bùi Thị Hý. Chưa được manh mối gì thì năm 2001 ông về hưu, nhưng tiếp tục tham gia biên tập cho Tạp chí Khoa học và Ứng dụng của tỉnh. Trong số tháng 6.2005, ông đăng mẩu tin nhận định chủ nhân của chiếc bình gốm trưng bày tại Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) là một phụ nữ tên Bùi Thị Hý. Vài ngày sau, có 2 người tên Bùi Xuân Nhạn và Bùi Đức Lợi đến tìm, cho biết nhân vật ông nêu trùng tên với bà cô tổ của dòng họ, nên mang 2 trang gia phả viết bằng chữ Hán nhờ ông đọc hộ.
Nhưng làng Chu Đậu (xã Thái Tân, huyện Nam Sách) chỉ có nghề chiếu cói. Nhờ quá trình tìm hiểu nghề chiếu cói ở Chu Đậu, các nhà khảo cổ vô tình tìm được những con kê gốm hình vành khăn. Đây là manh mối đầu tiên, dẫn đến hàng loạt phát hiện sau đó, khẳng định Chu Đậu từng có nghề gốm.
Ông kể: "Những gì tôi đọc được cho biết bà cô tổ Bùi Thị Hý của dòng họ là cháu ngoại cụ Bùi Quốc Hưng, khai quốc công thần đời Lê. Bà Hý có tài viết chữ và vẽ đồ gốm rất đẹp. Bà từng giả trai đi thi đến tam trường thì bị phát hiện là nữ. Sau, bà lấy ông Đặng Sỹ, chủ lò gốm Chu Trang (tức gốm Chu Đậu bây giờ) giàu nổi tiếng đương thời".
Lập tức, ông theo họ về nhà ở thôn Quang Tiền, xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc để dịch nốt phần gia phả còn lại. Theo đó, bà Bùi Thị Hý sinh năm 1420, mất ngày 12.8.1499. Từ những phát hiện này, năm 2006, ông tổ chức hội thảo khoa học về dòng gốm Chu Đậu và bà Bùi Thị Hý, gây tiếng vang lớn. Sau hội thảo, ông Bùi Đức Lợi tiếp tục mang đến 1 cái đĩa và 1 con nghê có thủ bút của bà Bùi Thị Hý vào năm 1454 và 1460, là những phế phẩm tìm được ở lò gốm cũ, giống hệt thủ bút trên chiếc bình tại bảo tàng Thổ Nhĩ Kỳ.
Tại kho đồ gốm tổ tiên truyền lại cho họ Bùi, ông đọc được trên một mâm đồng toàn bộ bản sao văn bia mộ chí của bà Bùi Thị Hý, gồm 379 chữ, chép lại thời Bảo Đại. Dòng đầu tiên ghi rõ "Kỳ tài phu nhân Bùi Thị Hý chi mộ". Nội dung văn bia cho biết chồng bà Hý là Đặng Sỹ trong một lần đi giao hàng bị tai nạn trên biển thiệt mạng.
Rồi bà Hý tái giá với ông Đặng Phúc cũng ở Chu Đậu, cùng chồng sau đi biển xuất khẩu gốm Chu Đậu sang các nước phương Tây. Cuối đời, bà về góp của làm đình và chùa Viên Quang. Nội dung văn bia nêu rõ: Lò gốm Chu Đậu có 3 nhiệm vụ là cống hoàng triều, xuất cảng sang Nhật quốc, Bắc quốc và xuất cảng sang phương Tây.
Ông Hoành đến chùa Viên Quang mới biết đình và bia tiểu sử bà Hý bị phá từ lâu. Tại cây thiên đài trong chùa, ông tìm thấy dòng chữ Hán ghi: "Tín chủ Bùi Thị Hý đồng dân tạo dựng". Bên kia ghi "Đặng Phúc lập bia" với niên đại Hồng Đức Nhâm Tý niên (1492).
Rồi ông phát hiện dòng chữ Hán trên ngai thờ ở nhà thờ họ ghi "Mộ ở xứ Thượng Đường" (nay là thôn Quang Tiền, xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc). Ngày 10.1.2009, hậu duệ bà Hý đào tìm, phát hiện một số vật yểm và viên gạch đất nung màu hồng nhạt, nhẹ lửa, mẻ một góc có ghi những thông tin quan trọng về mộ chí của bà Bùi Thị Hý.
Ông Hoành đã tận mắt đọc 2 mặt văn bia. Mặt một nói nơi để mộ, dịch: Mộ Tổ cô ban đầu táng tại Gò Thổ Thư, nhìn về hướng bắc. Tổ tiên truyền lại rằng, hậu duệ của đại thương gia Trịnh Hòa, triều Minh, niên hiệu Thiên Thuận (1457 - 1464), là bạn nữ, tặng Tổ cô một chiếc chén sứ quý. Khi Tổ cô qua đời, chôn theo chiếc chén sứ gia bảo. Sau có bọn trộm đào lấy hết.
Lại gặp giặc phá hủy. Mộ được chuyển đến khu đất Rồng. Cấm tuyệt đối mọi người trong dòng họ vi phạm lời truyền (của tiền nhân). Vị , Nhuận, Cần (tên trưởng 3 chi họ đương thời). Mặt hai nói về nơi để bia, dịch: Tấm bia cổ lớn sau di về đất Hình Nhân, đó nguyên là lò gốm cổ. Tổ tiên có nói lại rằng, Tổ cô có yểm một con rồng lớn tại ngã ba sông Định Đào.
Hóa giải những bí ẩn
Ông Hoành tới ngã ba sông Định Đào thì nơi đó đã thành ao. Tìm hỏi những người đào ao thuở trước, họ cho biết đào thấy một con rồng bằng đất nung, cao khoảng 70cm, nay để ở nhà một người dân trong xã Quang Tiến. Ông chụp ảnh để đối chiếu thì đúng là mẫu rồng Nam Sơn.
Ngày 4.4.2009, ông Bùi Đức Lợi tổ chức khai quật và tìm thấy bia mộ chí của nữ tài và một số hiện vật quý tại gò Hình Nhân nổi giữa ao. Bia mộ chí dài 39,7cm, rộng 37cm, dày 11cm, giập mất phần trên và dưới, tuy mờ nhưng vẫn đọc được những chữ y như bản sao trên mâm đồng.
Cạnh bia có những vật yểm như lọ sành da chu, 9 viên đá màu và 9 đồng tiền cổ yểm bên mộ chí. Trên lọ đậy một viên gạch, kích thước 15,5x13x3,5cm. Mặt trước có 3 dòng chữ ghi "Hình nhân linh địa cấm", "Tiền nhân linh trấn yểm", "Kế Tổng cẩn trọng yểm". Mặt sau ghi "Hình nhân địa tổ linh, phù tử tôn Bùi tộc, phúc lộc thọ hưng trường. Kế cao pháp đồng tộc chủ Vị, Nhuận, Cần yểm tế".
Cách bia chừng 3m có vật yểm thứ 2, lâu đời hơn, gồm một đĩa, một bát, một chén và một hộp sứ nhỏ, úp lên một đĩa nhỏ. Trong đĩa có đồng tiền cổ. Xung quanh gò và ao có nhiều phế tích gốm theo truyền thống Chu Đậu, cùng bao nung, xỉ lò, con kế, song, ắc, bàn xoay, chứng tỏ ở đây có một lò gốm cổ vào thế kỷ XV - XVI.
Ông Hoành chia sẻ: "Thường thì bia đâu mộ đó. Vì thế tôi đoán mộ của nữ tài Bùi Thị Hý nằm ngay trên mảnh đất Hình Nhân của gia đình ông Lợi. Đúng lúc đó, có một sự trùng hợp đáng kinh ngạc, ban liên lạc dòng họ Phí toàn quốc từ Hà Nội xuống tìm tôi nhờ giúp nhận họ hàng với họ Bùi ở Gia Lộc.
Ngược dòng lịch sử, năm 1304, cụ Phí Mộc Lạc làm quan triều Trần rất được trọng dụng, nhưng Thượng hoàng Trần Nhân Tông nói họ Phí ít người biết, còn chữ "Mộc Lạc" nghĩa là cây đổ gãy nên không tốt. Vì thế Thượng hoàng đổi Phí Mộc Lạc thành Bùi Mộc Đạc. Từ "mộc đạc" nghĩa là cái mõ, ý là nổi tiếng. Từ đó, nhiều chi họ Phí chuyển sang họ Bùi. Cụ Bùi Quốc Hưng, ông ngoại của bà Bùi Thị Hý, chính là hậu duệ của cụ Bùi Mộc Đạc. Sau khi nhận họ, dòng họ Phí toàn quốc đã quyết định tài trợ cho gia đình ông Lợi xây lăng mộ tổ cô Bùi Thị Hý".
Ngày 26.10.2009, dòng họ Bùi khởi công, cho tát cạn nước ao và mời cán bộ bảo tàng tỉnh xuống chứng kiến. Đến 12g thì tìm thấy mộ phần của bà Bùi Thị Hý cạnh nơi tìm được bia mộ chí. Hòn gạch đậy mộ có ghi "Tẫn cốt tổ cô Bùi Thị Hý nội bình đồng Vọng Nguyệt bảo kiếm" (dịch: Tro xương tổ cô Bùi Thị Hý trong bình cùng thanh kiếm của bà - Vọng Nguyệt là tên hiệu bà Hý). Dòng cuối ghi "Vị Nhuận Cần mật táng" (dịch: 3 ông Vị, Nhuận, Cần chôn bí mật). Mộ nằm trong nhiều tầng lớp đồ gốm, xây theo đúng hình nhân.
Ngày 14.4.2009, ông Lợi còn cung cấp cho ông Hoành một khối đá nhỏ có chữ Hán, lẫn trong đống đá tảng đầu nhà. Ông Hoành xác định đó là chiếc la bàn của bà Bùi Thị Hý, hình khối vuông 17x17x7cm, trên có chữ "Châm bàn chu hải khứ, Bùi Thị Hý" (dịch: Bàn kim chỉ đường đi cho thuyền biển của Bùi Thị Hý). Giữa la bàn gạch chữ thập, ghi chữ Bắc, Đông, mất chữ Nam, Tây. Giữa la bàn có 1 lỗ rộng 1,4cm, sâu 1,5 cm, giữa lỗ còn có một lỗ nhỏ 2mm, khoét sâu xuống để đặt nam châm. Đây là hiện vật quan trọng xác nhận bà Bùi Thị Hý là người đi biển.
Ông Hoành khẳng định: "Tất cả không chỉ là bảo vật gia đình ông Lợi mà còn là bảo vật quốc gia. Cùng với hai dòng họ Bùi và Phí, chúng tôi sẽ tổ chức hội thảo khoa học để công bố toàn bộ tư liệu khảo cổ quan trọng này".

U Va - Bí ẩn chưa từng biết về nền văn hóa Tây Bắc


Cùng với hang Thẩm Khương (Tuần Giáo), Thẩm Púa (Mường Ảng) - nơi tìm thấy dấu vết của người Việt cổ, U Va thuộc xã Noong Luống, huyện Điện Biên là một trong không nhiều di tích khảo cổ hiếm hoi của tỉnh Điện Biên.

Những phát hiện gây xôn xao dư luận về khảo cổ hồi tháng 8.2003 tại U Va làm địa danh này thêm nổi tiếng. Bởi từ lâu lắm rồi, cái tên U Va đã xuất hiện trong những câu chuyện dân gian, sử thi và truyền thuyết của dân tộc Thái.
Nhưng, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả sự vô trách nhiệm và thiếu hiểu biết của con người, khu di chỉ khảo cổ độc nhất vô nhị miền biên viễn này dường như đã thực sự biến mất...
Vùng đất nhiều bí ẩn
Dãy cọc cổ được phát hiện nằm dọc theo bờ ruộng. Khu vực này nay đã chìm dưới lòng hồ U Va.
Mường Thanh, đọc theo âm Thái là Mường Then, dịch theo tiếng Kinh có nghĩa là Mường Trời - là vùng đất đẫm màu huyền thoại, tương truyền đây là một trong những nơi phát tích của tổ tiên con người. Có một chi tiết thú vị, nếu như người Việt (Kinh) có truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, thì người Thái cũng có câu chuyện tương tự giải thích về sự ra đời của con người.
Vùng đất Mường Then huyền thoại có đến 2 địa danh gắn với sự xuất hiện của tổ tiên người bản địa Tây Bắc. Đó là bản Tẩu Pung thuộc xã Nà Tấu ở phía Đông Bắc, và hồ U Va thuộc xã Noong Luống ở phía Tây Nam huyện Điện Biên. Tẩu Pung tiếng Thái là quả bầu.
Theo truyền thuyết, từ quả bầu đó, người Thái và người Xá, người Kinh, người Lào và các dân tộc khác cùng các loài muông thú, hạt giống được sinh ra. Đáng chú ý, hiện nay ở xã Nà Tấu vẫn có bản Tẩu Pung, tọa lạc trên một ngọn núi có hình dáng rất giống như quả bầu. Còn hồ U Va thuộc địa phận xã Noong Luống, huyện Điện Biên là nơi hai sông Nậm Rốm và Nậm Núa gặp nhau...
Trong các câu chuyện dân gian, sử thi và truyền thuyết dân tộc Thái, ngày xưa, trời (Then) và mặt đất chỉ cách nhau vài sải tay, việc đi lại cũng thuận tiện qua cái thang làm bằng dây sắn rừng (Khau Cát). Và địa điểm để đặt chiếc thang dùng làm đường lên xuống giữa cõi trời và cõi người đó chính là U Va.
Sau này Then chặt đứt thang Khau Cát, cây đa nhà trời hùng vĩ, che lấp cả bản mường, nên các dũng sĩ đã đốn hạ. Cây đổ xuống tạo ra vết trũng hình thành nên hồ U Va. Dấu vết đường lên trời giờ chỉ còn lại hồ U Va, nơi có hai dãy núi Tạo Nón (chàng ngủ) và Náng Nón (nàng ngủ) sừng sững in bóng xuống mặt nước long lanh của hồ U Va đẫm màu huyền tích đến tận ngày nay...
Theo ông Trương Hữu Thiêm, một nhà nghiên cứu văn hóa Thái ở Điện Biên Phủ cho biết, thì hồ U Va còn có một giai thoại khác khá lãng mạn và mang tính nhân văn sâu sắc. Chuyện kể rằng, một cặp vợ chồng yêu thương nhau hết mực, chẳng may người vợ bị bệnh mất sớm phải trở về Mường Trời.
Nhớ vợ, người chồng hằng ngày theo lối đường cây đa và dây leo Khau Cát lên thăm vợ. Sợ chồng hay lên thăm sẽ bỏ bê công việc ruộng nương và để con bị đói, người vợ đã gạt nước mắt dùng rìu chặt đổ cây đa, cắt đứt đường lên trời. Khi đổ xuống, gốc cây đa biến thành hồ nước trong xanh, còn phần ngọn thì bay lên hóa vào mây trắng...
Địa danh U Va ẩn chứa nhiều bí ẩn, với nhiều câu chuyện được thêu dệt huyễn hoặc. Ngoài những giai thoại kể trên, U Va còn được coi là nơi tiễn biệt hồn người chết lên trời, với hai bãi đất bí ẩn, là “Khuống xao phi nọi” và “Khuống xao phi nhớ”. Hai bãi đất này theo người dân trong vùng thì nó rất... "thiêng", mỗi bãi rộng gần 1.000m2, điều kỳ lạ là hầu như chẳng có cây cỏ gì mọc được. Đàn trâu bò đi qua đây bao giờ cũng vội vã, dường như có một thứ gì đó vô hình thúc giục, xua đuổi chúng(?).
Cách trung tâm TP Điện Biên Phủ hơn 15km, hồ U Va hiện nay rộng chừng 7,3ha, mặt hồ bốn mùa bảng lảng sương khói bởi hơi nóng từ khe Bó Nậm Hòn. Hồi chưa san lấp, xây dựng khu du lịch suối khoáng U Va, nước từ khe Bó Nậm Hòn khá nóng, có thể luộc chín được trứng gà!
Phát hiện ra "mỏ vàng" có thể sinh lợi, năm 2003 Công ty Xổ số kiến thiết Điện Biên Phủ đã lập tờ trình và được UBND tỉnh Lai Châu cấp giấy phép cho xây dựng khu du lịch suối khoáng U Va. Và cũng từ khi khu du lịch nghỉ dưỡng này đi vào hoạt động, vùng đất nhiều huyền tích cùng với những di chỉ khảo cổ độc đáo vừa được phát lộ này lại tiếp tục chìm sâu dưới lòng hồ và bị vùi lấp dưới các công trình đồ sộ phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí (!?)
Những phát hiện khảo cổ gây chấn động
Cách đây hơn 8 năm, vào tháng 8.2003, những phát hiện mới của các nhà khảo cổ học ở U Va đã làm chấn động dư luận, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học. Như đánh giá của TS Vũ Thế Long, nguyên Trưởng Ban Nghiên cứu con người và môi trường - Viện Khảo cổ học Việt Nam thì: "Chấn động ở chỗ hóa ra vùng đất này xưa nay không chỉ tồn tại với những huyền tích, những câu chuyện cổ dân gian hay truyền thuyết của người dân tộc Thái mà nó thực sự hé lộ một nền văn minh ở vùng Tây Bắc nước ta".
Trong khi mở rộng diện tích, san lấp mặt bằng Khu du lịch suối khoáng U Va, những công nhân ở đây đã phát hiện nhiều hiện vật "lạ" tại 2 bãi đất có tên là “Khuống xao phi nọi” và “Khuống xao phi nhớ”.
Cuối tháng 8, nhóm chuyên viên khoa học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) gồm các nhà nghiên cứu Vũ Thế Long (khảo cổ học), Đinh Khắc Thuân và Nguyễn Ta Nhí (nghiên cứu Hán Nôm) đã phát hiện nhiều mảnh gốm có trang trí hoa văn lạ, một số mảnh sứ màu men ngọc tương tự như những mẫu sứ men ngọc đời Lý cùng một số mảnh chì nung chảy.
Tại rìa của bãi “Khuống xao phi nọi”, các nhà khoa học phát hiện một lớp đất màu đen có độ dày trung bình 50-60cm, bên trong có nhiều mảnh gốm sứ, là địa tầng của một nền văn hóa cổ. Phía chân đồi gần bãi “Khuống xao phi nhớ”, trong một chiếc giếng nước được đào sâu 5m, có nhiều đám thóc cháy, bình vò cổ bằng đất nung, cọc gỗ có chốt tre, lưỡi cày sắt. Ngoài ra, các công nhân còn phát hiện được nhiều dây chuyền, vòng và trâm cài tóc bằng kim loại đã bị gỉ sét, cái còn nguyên vẹn, cái đã bị đứt vỡ...
Trong lần trả lời phỏng vấn phóng viên mới đây, TS Vũ Thế Long, người có mặt trong lần khảo sát hồi tháng 8.2003 cho biết: "Khảo sát bước đầu ở U Va, chúng tôi cho rằng đây là di chỉ nơi cư trú của một nhóm cư dân cổ xưa lần đầu tiên được phát hiện ở Điện Biên; lại nằm trên một vị trí đặc biệt của vùng biên giới ba nước Việt - Lào - Trung Quốc nên nó không chỉ có ý nghĩa khoa học, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc gìn giữ cương vực quốc gia.
Các hiện vật cho thấy nhóm cư dân ở U Va xuất hiện khá sớm, trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau; họ đã ở vào trình độ phát triển cao và có thể có những hoạt động giao thương với cả bên ngoài". Đặc biệt, theo TS Vũ Thế Long: "Những mẫu thóc cháy tại U Va là những hiện vật rất quý giá để tìm hiểu sự có mặt của cây lúa ở Mường Thanh, góp phần làm sáng tỏ lịch sử phát triển cây lúa ở Điện Biên cũng như lịch sử cây lúa vùng Đông Nam Á".
Hiện nay, ngoài một số được đưa về Bảo tàng tỉnh Điện Biên, dưới lòng hồ U Va vẫn còn nhiều cột gỗ bằng đầu chưa thống kê được (có thể là hàng trăm cái), cắm sâu xuống lòng đất, theo một đường thẳng hướng Đông - Tây.
Theo truyền thuyết thì đấy là "con đường" người xưa làm cho voi vượt qua đầm lầy. Nhận định này theo các nhà khoa học là có cơ sở, vì nó dựa trên 2 yếu tố: Một là theo truyền thuyết, thì đoàn quân do dũng sĩ Khun Bo Rom chỉ huy được Then (Trời) phái xuống trần đã hành quân bằng voi. Thứ hai, lật lại lịch sử, chính nghĩa quân Hoàng Công Chất (thế kỷ XVIII) cũng có cả một đội voi chiến tinh nhuệ, từng làm cho lũ giặc Phẻ thất kinh bát đảo, quân triều đình cử đi đánh dẹp phải nhiều lần thua trận...
Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Lai Châu (cũ) gồm 2 tỉnh Điện Biên và Lai Châu người ta đã tìm và phát hiện được 16 chiếc trống đồng cổ. Số trống này hiện đang được cất giữ trong Bảo tàng tỉnh Điện Biên. Nhưng điều đặc biệt, chỉ trong bán kính khoảng vài ba cây số quanh U Va, thuộc xã Noong Luống, người ta đã tìm được 5 trống (chiếm hơn 31%).
Một số trống đồng được tìm thấy ở khu vực U Va, xã Noong Luống, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Điện Biên.
Cách đây chưa lâu, trong khi đào giếng lấy nước tưới trên núi Náng Nón (nàng ngủ), thuộc dãy Pú Chom Chảnh, ông Quàng Văn Cương đã vô tình phát hiện một cái trống đồng còn khá nguyên vẹn. Đây cũng là chiếc trống đồng được phát hiện gần đây nhất ở Điện Biên. Cái trống này nặng 17 kg, cao 44 cm, đường kính mặt 60 cm, đường kính đáy 50 cm; sau này được các nhà khoa học giám định và xếp vào giai đoạn chuyển tiếp giữa Hêgơ II và Hêgơ III, thuộc thời đại đồ đồng Đông Sơn.
Cách đây vài năm, người dân quanh khu vực thi thoảng vẫn đào được những vò, chum (có thể là đồ tùy táng), đập ra bên trong còn thu được nhiều hiện vật, như: trâm cài tóc, vòng bằng kim loại. Một người dân ở U Va đã từng vô tình đào được và đem bán đến 4 - 5 kg bạc trắng.
Đáng chú ý, khi trò chuyện với chúng tôi, TS Vũ Thế Long cũng tiết lộ rằng, thời điểm các nhà khoa học lên khảo sát khu di chỉ U Va, các thành viên trong đoàn đã được tiếp cận "kho" tư liệu sách cổ quý giá viết theo kiểu chữ Thái cổ của một số người dân trong vùng.
Lần giở những thư tịch cổ, trong quá khứ cánh đồng Mường Thanh từng là sa trường của nhiều cuộc chiến tranh liên miên, trước họa ngoại xâm cũng như những cuộc xung đột giữa các bộ tộc trong vùng.
Khu vực U Va là địa điểm giao giữa sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa, là nơi luyện tập thủy quân của nghĩa quân Hoàng Công Chất, là địa điểm diễn ra nhiều trận huyết chiến giữa nghĩa quân Hoàng Công Chất và triều đình, với nhiều cuộc tàn sát đẫm máu diễn ra ở đây. Chính vì thế mà người ta đồn thổi rằng 2 bãi đất trống “Khuống xao phi nọi”, và “Khuống xao phi nhớ” có quá nhiều hồn ma lảng vảng, và cỏ thì không bao giờ mọc được(?!).
Bảo vệ di chỉ U Va: Muộn rồi nhưng không thể không làm?
Như các nhà khoa học đánh giá, khu di chỉ khảo cổ hiếm hoi U Va là một tài sản quý giá, góp phần khẳng định giá trị lịch sử ở Điện Biên Phủ, làm sáng tỏ nhiều huyền tích, truyền thuyết dân gian của người Thái ở Mường Thanh.
Từ các câu chuyện truyền miệng trong dân gian, đến các thư tịch, rồi các công trình nghiên cứu; từ việc phát hiện tình cờ đến những cuộc tìm kiếm chủ động... đều chứng tỏ một điều rằng khu vực Noong Luống (mà trung tâm là hồ U Va), là điểm khảo cổ tập trung, chứa đựng vô số những bí ẩn thời trung - cận đại.
Việc phát hiện các di chỉ khảo cổ - văn hóa ở U Va, thêm một bằng chứng khẳng định chủ quyền cương vực của nhà nước phong kiến Việt Nam, đối với vùng Tây Bắc trong quá trình cha ông ta dựng nước và giữ nước.
Tuy nhiên, vì sự thiếu hiểu biết, hay vì chạy theo lợi ích kinh tế, một số cơ quan và hữu quan của tỉnh Lai Châu (cũ) đã "bỏ qua" những khuyến nghị của các nhà khoa học, để rồi vội vã triển khai xây dựng Khu du lịch suối khoáng U Va. Khu di chỉ nhanh chóng bị lãng quên, một số hiện vật phát hiện và thu thập được đem về "đắp chiếu" và dường như đang bị lớp bụi thời gian bao phủ tại Bảo tàng tỉnh đến tận bây giờ.
Theo bà Trịnh Thị Mai, Phó Giám đốc phụ trách Bảo tàng tỉnh Điện Biên thì đến tận thời điểm này (11.2011), do chưa có điều kiện và kinh phí nên khu di chỉ U Va vẫn chỉ dừng ở những phát hiện ban đầu.
Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cũng như Bảo tàng tỉnh Điện Biên cũng chưa có thêm động thái mới về "số phận" khu di chỉ này, ngoài việc bảo quản và cất giữ hiện vật. Ngoài một số chiếc cột được đưa về cất giữ ở Bảo tàng tỉnh, những cây cột cổ cắm sâu dưới lòng đất giờ đây lại im lìm chìm sâu dưới lòng hồ khu du lịch suối khoáng.
Để phát huy thế mạnh du lịch, thiết nghĩ bên cạnh một loạt những việc phải làm, thì việc khoanh vùng, đầu tư nghiên cứu và trả lại cho U Va tồn tại đúng với những giá trị của nó là việc nên làm, dù biết đến thời điểm này xem ra cũng đã muộn.
Theo VTC News