Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Chùa Bồ Đề (Cự Chính)

Chùa Cự Chính tên chữ Bồ Đề Tự, là ngôi chùa của làng Mọc Cự Chính xưa kia, tương truyền có từ trước thế kỷ 15. Xếp hạng: Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia (1990). Địa chỉ: số 190 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Toạ độ: 20°59’59"N 105°48’34"E, cách Hồ Gươm chừng 7km về hướng tây-nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: đoạn giữa phố Vũ Trọng Phụng (bus 29, 44), hoặc đoạn chợ Thượng Đình ven phố Nguyễn Trãi (01, 02, 05, 19, 21, 27).

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Theo “Quốc sử tạp lục”, khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long thì vùng đất phía nam sông Tô Lịch vẫn còn nhiều rừng, nên gọi là Kẻ Mọc, tên chữ Mộc Cự, sau đổi là Nhân Mục. Rồi dân số tăng lên đông đúc, phải chia đôi thành xã Nhân Mục Cựu (gồm 2 thôn Thượng Đình, Hạ Đình) và xã Nhân Mục (gồm 4 thôn Quan Nhân, Cự Lộc, Chính Kinh, Giáp Nhất). Đến nay, dù đã đô thị hóa nhưng những thôn này vẫn thường được gọi trong dân gian với tiếng Mọc kèm vào đầu.
Từ tam quan chùa Bồ Đề. Panorama ©2014 NCCong
Chùa Cự Chính tên chữ Bồ Đề Tự, là ngôi chùa của làng Mọc Cự Chính xưa kia, tương truyền có từ trước thế kỷ 15. Khi tiến về bao vây thành Đông Quan vào năm 1426, một cánh nghĩa quân Lam Sơn đã đóng bản doanh tại chùa Bồ Đề và đình Cự Chính bên cạnh. Ngày 28-9-1990, chùa Bồ Đề cùng đình Cự Chính và gò Đống Thây đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

Kiến trúc

Chùa Bồ Đề trải qua mấy thế kỷ đã nhiều lần được sữa chữa. Đến năm 1998 rồi 2009—2012, chùa lại tiếp tục được trùng tu, tôn tạo trên nền cũ. Dáng vẻ ngày nay vẫn còn một phần mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, nhưng di tích xưa thì không còn bao nhiêu. Cái ao bên hông chùa có hàng rào sắt và tường ngăn với phố Quan Nhân ở mé đông, tam quan ngoại sơn màu nâu cũng mở ra phố này.
Chùa quay hướng nam, tam quan nội có gác chuông cao. Sân trước du khách bước lên thềm rồng dẫn vào tòa tiền đường 5 gian 2 chái, song song với thượng điện xây kiểu 2 tầng 8 mái, kết nối với hậu cung thành hình chuôi vồ. Thượng điện có hàng hiên cột đá bên hông dẫn vào cửa chùa trong. Sân bên có vườn cây, tiểu cảnh và cầu dẫn ra một thủy đình nhỏ, xa hơn là vườn tháp mộ và mấy dãy nhà mới.
Sau chùa chính có nhà bia xây kiểu 2 tầng 8 mái, gác treo quả chuông đồng lớn đúc năm 1822, dưới dựng một tấm bia lớn khắc bài Bồ Đề tự thuật bi ký, ghi niên đại ngày 5 tháng Chạp năm Bính Tý, Bảo Đại 11 (1936); phía sau bia treo khánh đá. Chùa trong gồm 2 hành lang đối diện và 2 hậu đường song song, xây làm nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Ni, nhà khách, tất cả nhìn ra một sân nhỏ có lối thông ra cổng sau.
Sân bên chùa Bồ Đề. Panorama ©2014 NCCong

Lưu ý

Trong chùa Bồ Đề hiện nay còn lưu giữ được một số tấm bia đá và các bức cửa võng, hoành phi, đại tự, câu đối cổ... Ngoài những đồ thờ tự thông dụng bằng đồng còn có quả chuông đúc năm 1822 và một đại hồng chung đúc vào đầu thời Nguyễn mang niên hiệu Gia Long thứ 13 (năm 1814). Về những di tích xây gạch thì đáng kể nhất có lẽ là 6 ngôi tháp mộ. Chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật giáo, được tạo tác từ nhiều loại vật liệu khác nhau, bài trí theo kiểu Bắc tông và tất cả đều mới tô lại trong đợt trùng tu gần đây.

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh

Chùa Ái Mộ

Chùa Ái Mộ tên chữ là “Thiên Định tự”, tọa lạc tại phía đông đoạn đê Long Biên cạnh đầu cầu Chương Dương bên bờ tả sông Hồng. Chùa được các Ni sư Bắc tông tổ chức quyên góp trùng tu, hoàn thành năm 2015. Địa chỉ: 31 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Toạ độ: 21°2’28"N 105°51’57"E. Điểm dừng xe bus gần nhất: đường Long Biên (bus 11), cách Hồ Gươm hơn 3km về hướng đông-bắc.

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Làng Ái Mộ cũ nằm phía trong đê sông Hồng, đoạn giữa hai đầu cầu Chương Dương và Long Biên. Thời Nguyễn, chùa Ái Mộ thuộc địa phận xã Ngọc Lâm, tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Sau năm 1945 mang số nhà 38 trên đường xã Ái Quốc (tức xã Hồng Tiến, sau đổi là xã Bồ Đề), thuộc về quận 8, ngoại thành Hà Nội. Nay chùa thuộc tổ 5, mang số 31 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Chùa Ái Mộ được thành lập từ rất sớm, nhưng chưa ai rõ đích xác là ở thời điểm nào. Chỉ biết chùa đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần nhờ các tấm bia đá còn sót lại. Bài văn “Thiên Định tự bi ký” ghi rằng năm Cảnh Hưng thứ 33 (1772) đã tu sửa lại toàn bộ ngôi chùa; năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) trùng tu tòa thượng điện; tháng 4 năm Quý Mùi (1823) dựng lại hành lang phía tây; năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) xây dựng gác chuông, tam quan và dãy hành lang bên phải; năm Thành Thái thứ 6 (1894) tiếp tục sửa lại chùa và tô tượng.
Ngoài ra, chùa từng có những đợt tu bổ nhỏ vào những năm Gia Long thứ 8 (1809), Minh Mệnh thứ 21 (1840), Tự Đức thứ 11 (1858), Tự Đức thứ 21 (1868), Bảo Đại thứ 12 (1937).
Sân chùa Ái Mộ. Panorama ©2014 NCCong

Kiến trúc

Trải qua rất nhiều sự đổi thay tự nhiên và biến động xã hội, ngôi chùa Ái Mộ cũ đã không còn nguyên vẹn. Dáng dấp chùa hiện nay mang đậm phong cách của nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn do lần trùng tu lớn vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 để lại. Đặc biệt lần đại trùng tu hoàn thành năm 2015 đã đưa ngôi chùa lên một quy mô và màu sắc mới.
Du khách ngày nay thăm chùa Ái Mộ sẽ thấy từ xa một tam quan kiểu gác chuông nhìn về hướng tây, nổi bật trên bức tường dài và khá cao. Sau cổng ngoại là vườn tháp mộ bên tay phải và khu chùa chính ở bên tay trái. Qua cổng nội là hành lang đi giữa hai sân dẫn vào tòa Tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu và các dãy nhà khác. Mỗi hạng mục được khởi dựng ở những thời điểm khác nhau, nhưng nhìn chung đã tạo thành một công trình có sự thống nhất và phù hợp với nhu cầu mới.
Tam bảo quay hướng nam, gồm 7 gian tiền đường và 4 gian dọc của thượng điện kết nối thành hình chuôi vồ. Bộ khung làm theo kiểu “thượng giá chiêng, kẻ nách, hạ bẩy hiên”, phần trang trí gỗ khá đơn giản, chủ yếu là bào trơn, kẻ soi chỉ, có chạm nổi một họa tiết hình lá đề cách điệu trên các đầu xà, đầu bẩy, con rường… Kết cấu các bộ vì của thượng điện giống như ở tiền đường. Tại các gian của thượng điện có trang trí các bức y môn chạm đề tài tứ linh, tứ quý rất công phu. Đặc biệt là bức y môn với các đề tài tùng trúc cúc mai, văn hình học và văn chữ triện mềm mại mang những nét đặc trưng của phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Lưu ý

Chùa Ái Mộ có hệ thống các tượng Phật giáo bài trí đầy đủ theo phái Bắc tông, phần lớn được làm bằng gỗ và đồng. Đáng lưu tâm nhất là bộ Tam thế Phật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 19 được tạc ngồi trong tứ thế bán kiết già, 2 tay đặt giữa lòng đùi. Tượng cao 65cm, tóc bụt ốc khá cao, nổi rõ một khối nhục kháo (Unisa) ở đỉnh đầu, khuôn mặt trái xoan, mũi thẳng, mắt khép nhìn xuống, tai chảy dài xuống vai ở giữa thót lại…
Trong chùa còn lưu giữ được 18 tấm bia đá ghi việc trùng tu, sửa chữa chùa, 2 quả chuông đồng đúc năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), cùng với hệ thống hoành phi, câu đối, y môn, cuốn thư, nhang án, long ngai, khám thờ… với các đề tài chạm khắc tứ linh, tứ quý, rồng chầu, hổ phù… đều được tạo tác bằng gỗ và sơn son thếp vàng.

Di tích lân cận

Chùa Giàn (Thiên Phúc Tự)

Chùa Giàn có niên đại thế kỷ 18, tên chữ Thiên Phúc Tự, là ngôi chùa của làng Giàn, tức thôn Cáo Đỉnh. Địa chỉ: ngõ 165 Phạm Văn Đồng, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Toạ độ: 21°04’32"N 105°47’13"E, cách Hồ Gươm chừng 13 km về hướng tây-bắc. Điểm dừng xe bus gần nhất: đối diện 88 Phạm Văn Đồng (bus 07, 14, 25, 28, 35, 45, 46, 53).

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Chùa Giàn là tên nôm của Thiên Phúc Tự, một ngôi chùa của thôn Cáo Đỉnh, tức làng Giàn, nay thuộc phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Trong làng còn một cái giếng cổ được ghép bằng những khối đá lớn chồng khít lên nhau, nghe nói từ thời Hai Bà Trưng. Chùa có niên đại từ thế kỷ 18 tuy chưa rõ được xây năm nào, chỉ biết mới đây đã có một đợt đại trùng tu kéo dài tới gần 4 năm (2008—2011).
Theo các bô lão sở tại, vào thế kỷ 17 có lần chúa Trịnh Tạc đến thăm làng Giàn là quê ông Dương Công Uẩn làm quan hầu cận của mình. Chúa thấy địa thế rất đẹp nên đã cho người đào đất đắp lên nhiều gò đống giả núi để thỉnh thoảng về nghỉ ngơi. Ngôi đình làng này cũng đã có từ lâu đời, bên trong thờ Lý Phục Man, võ tướng và phò mã của Lý Nam Đế, được xếp hạng Di tích quốc gia năm 1990.
Chân tháp chùa Giàn. Panorama ©2015 NCCong

Kiến trúc

Từ ngoài đường Phạm Văn Đồng đi vào ngõ 165 giữa hai hàng cau cao, ta sẽ lên cây cầu đá cong cong rồi chui qua một ngọn tháp bát giác để vào sân theo lối đi dưới bóng cây mít cổ thụ. Tháp này và 2 cửa giả với bia công đức dựng hai bên tạo thành một cổng tam quan độc đáo với phong cách nghệ thuật kiến trúc cuối thời Nguyễn. Tháp cao 13 tầng, tại tầng 2 có treo một quả chuông đồng lớn và tầng 3 đặt tượng Quán thế âm Bồ tát. Bên ngoài cửa sổ còn có các tượng Kim Cương và hình rồng ở đầu đao.
Chùa Giàn được xây dựng lại vào tháng 5-2008 và đến năm 2011 thì hoàn thành. Sân trước chùa bị thu nhỏ do có thêm một thềm đá rất lớn, gồm 25 bậc dẫn khách lên tòa tam bảo hoành tráng ở tầng trên. Tiền đường rộng 5 gian 2 dĩ, mặt nhìn về hướng tây, xây 2 tầng 8 mái và kết nối với hậu cung sâu 5 gian thành hình chuôi vồ. Hai bên lại có nhà thờ Tổ và nhà thờ Mẫu. Tầng dưới gồm có nhà khách, học đường, nhà tăng. Hai bên tả hữu là nhà ăn, nhà xe và khu phụ với vài cây nhỏ.

Lưu ý

Chùa Giàn có những tạo tác mới hơn, được thực hiện bằng đá hoặc vẫn kết hợp gỗ, gạch, ngói ta với bê tông. Ngoài chiếc cầu đá với tượng rồng chầu ở cả 2 đầu, còn có phiến đá lớn đặt nghiêng chính giữa thềm và cũng chạm các hình rồng. Song dễ gây chú ý là hàng hiên với nhiều cột đá chạm rồng cuốn mây lửa và những phù điêu bằng đá với hình chư Phật che kín các bức tường xung quanh tiền đường.
Mặt trước tòa tam bảo có 5 cửa bức bàn bằng gỗ quý. Bên trong là hệ thống tượng thờ đầy đủ và được bài trí theo kiểu Bắc tông. Trước chính điện có dựng một pho tượng bằng đá quý khá lớn tạc hình Phật ngồi thiền. Chính điện gồm 5 lớp cửa võng rất cao và tất cả đều được chạm trổ cầu kỳ. Phần chạm khắc còn xuất hiện nhiều ở khắp các mảng kiến trúc lộ diện của những tòa nhà thờ mới xây.

Di tích lân cận

Không xa chùa Giàn là ngôi đền Sóc được xếp hạng Di tích quốc gia. Theo truyền thuyết, trên đường về Sóc Sơn sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng đã nghỉ chân tại đây. Lễ hội đền Sóc diễn ra vào mùng sáu tháng giêng âm lịch hàng năm và hội lớn được tổ chức 5 năm một lần. Ngoài ra, cùng phường Xuân Đỉnh còn có các di tích như chùa Táo, miếu Vũ, đền Thanh Vân và nhà thờ quận công Nguyễn Công Cơ.

Bài và ảnh: Đông Tỉnh

Am Cây Đề (Thanh Ninh Tự)

Chùa Am Cây Đề tên chữ là Thanh Ninh Tự, tương truyền có từ thời Lý, xây lại vào đầu thế kỷ 18. Xếp hạng: Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (năm 1981). Địa chỉ: số 2 phố Lê Trực, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội. Toạ độ: 21°01’57"N 105°49’57"E; cách Hồ Gươm khoảng 3km về hướng tây. Điểm dừng xe bus gần nhất: các phố Trần Phú (bus 22, 32, 34, 50), Nguyễn Thái Học (18, 22, 32, 33, 34, 38, 50), Lê Hồng Phong (09, 18, 33).

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Tương truyền chùa Thanh Ninh Tự thành lập từ năm Thiên Thành (1031) đời vua Lý Thái Tông, dấu tích ban đầu nay không còn nữa, tên chùa gọi theo tên làng cổ ở đây. Năm Cảnh Hưng (1739) chùa được dựng lại bằng tranh tre nứa lá nên có tên là “Chùa Cỏ”. Sau gọi là chùa Am Cây Đề, do năm 1746 có một viên quan họ Trịnh cúng tiền xây một am nhỏ dưới gốc cây bồ đề trước cửa chùa.
Từ thời Lê về trước, quanh đây là nghĩa trang nên viên quan kia mới xây am để cúng các cô hồn. Dân sở tại truyền rằng sau năm Nguyễn Huệ đại phá giặc Thanh (1789) nhiều thi hài nghĩa quân Tây Sơn đã được mai táng quanh chùa. Đến năm Khải Định thứ 8 (1923) chùa lại được sửa chữa, tôn tạo. Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị giặc đốt phá. Năm 1949 sư cụ Đàm Thìn đã cho xây lại chùa và đền Ngọc Thanh thờ Đức Thánh Trần, vì vậy dấu tích cũ cũng không còn gì.
Ngày 22-7-1981 chùa Thanh Ninh Tự đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

Kiến trúc

Chùa được xây trên một khu đất cao, trước đây khuôn viên chùa rộng rãi, có nhiều cây cổ thụ, về sau bị lấn chiếm một phần. Hiện nay chùa mang dáng vẻ kiến trúc cuối thời Nguyễn do lần trùng tu năm 1949 định hình. Cổng chùa xây kiểu tam quan, cửa chính có 4 mái nhỏ đắp ngói ống giả, cửa bên hữu đi vào nhà dân, cửa bên tả bịt kín gắn bảng đá khắc tên chùa, cạnh đó là lò hóa vàng.
Kiến trúc chính gồm đền Ngọc Thanh và tòa tam bảo. Đền Ngọc Thanh nhìn ra hướng đông, cách sân nhỏ là đến cổng tam quan. Tam bảo quay về hướng nam, sân trước cũng bị bít, chỉ còn một ngôi tháp mộ ở bên hữu, đi vào phải qua cửa ngách từ điện thờ Mẫu.
Đền và chùa gồm bái đường 5 gian kết nối với hậu cung 3 gian thành hình chuôi vồ. Cả hai đều lợp ngói ta và xây kiểu tường hồi bít đốc. Đền có các vì làm theo kiểu kèo cầu quá giang, tường gạch quây quanh. Tại tiền đường chùa, vì kèo làm theo kiểu “thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”; trang trí bằng chạm các hình hoa lá, vân mây xoắn, tứ linh, tứ quý.

Lưu ý

Trong chùa hiện nay lưu giữ được 35 pho tượng tròn, 12 pho đặt ở đền Ngọc Thanh. Ngoài ra còn có nhiều cổ vật khác như: 3 đôi lộc bình sứ, 1 đôi chóe sứ trắng vẽ lam, 4 long ngai, 2 cửa võng, 5 hoành phi, 1 ống bút, 1 quả chuông đồng đúc năm Cảnh Thịnh thứ 6 (1797) mang tên “Thanh Ninh Tự Hồng Chung”.
Năm Gia Long thứ 7 (1808) vị sư trụ trì là Thích Tịch Quang đã cho trùng tu, tô tượng và đúc chuông. Văn bia “Thanh Ninh Tự Bi Ký” do tiến sĩ Phạm Quý Thích soạn năm 1779 ghi rằng “Bên ngoài cửa tây thành Thăng Long nước ngọt mà đất thì hoang vu, chùa Thanh Ninh ở đó”.

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh

Chùa Phổ Giác

Chùa Phổ Giác tức chùa Tàu Tượng hay chùa Tàu Voi. Xếp hạng: Di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật quốc gia (1991). Địa chỉ: số 80 phố Ngô Sĩ Liên, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, Hà Nội. Toạ độ: 21°1’35"N 105°50’16"E, cách Hồ Gươm 2 km về hướng tây. Điểm dừng xe bus gần nhất: các phố Nguyễn Thái Học (bus 02, 18, 23, 32, 34, 38, 45), Tôn Đức Thắng (02, 23, 25, 41, 49), Cát Linh (23, 25, 49), Quốc Tử Giám hoặc Nguyễn Khuyến (38).

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Chùa Phổ Giác còn gọi là chùa Tàu Tượng hay chùa Tàu Voi. Ban đầu (khoảng năm 1770-1774 dưới thời Lê Trung hưng), chùa được khởi dựng tại phường Phục Cổ (ở quãng giữa phố Nguyễn Du bây giờ). Nơi đó trước kia từng tập trung các tàu voi của đội tượng binh nhà Trịnh, có cả ngôi miếu Dương Võ với tấm bia Dương Võ bi kí, dựng vào tháng 8 năm Canh Dần, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 31 (1770), thờ ba vị có công luyện tập voi chiến như tổ sư công tượng. Đến thời Nguyễn, miếu bị đổ nát, bia này mới di dời sang chùa Phổ Giác.
Sau khi chiếm Hà Nội, thực dân Pháp đã lấy đất chùa xây tòa đốc lý (nay là Trụ sở UBND thành phố) và Ngân hàng Đông Dương, chùa phải dời xuống khu vườn của Viện Thái Y ở thôn Lương Sử (quãng dưới phố Ngô Sĩ Liên ngày nay). Chùa giữ nguyên tên cũ và dân vẫn quen gọi là chùa Tàu. Tấm bia Dương Võ cũng được chuyển theo, hiện vẫn còn trong chùa. Chùa Phổ Giác có ý nghĩa là phổ cập và giác ngộ Phật pháp cho Phật tử và nhân dân. Ngoài thờ Phật và thờ Mẫu, trong chùa còn thờ Phan Cảnh Điệp, một người luyện voi giỏi thời Lê Trung hưng.
Chùa Phổ Giác đã qua nhiều lần trùng tu và sửa chữa, các bia dựng năm 1856-1876 còn ghi rõ việc này. Đôi câu đối đắp trên trụ biểu cho biết năm Bính Tuất 1886 đã tô lại tượng Phật, năm Kỷ Sửu 1889 sửa các nội thất, tiền đường, hậu cung, nhà thờ Tổ. Năm 1951, chùa được trùng tu và đợt xây lại năm 2014 đã định hình kiến trúc như hiện nay. Ngày 2-10-1991 Bộ Văn hóa và Thông tin đã xếp hạng chùa là Di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật quốc gia.

Kiến trúc

Chùa Phổ Giác hiện còn nguyên cổng tam quan cũ được xây dựng theo kiểu đá vòm cuốn dưới bóng các cổ thụ, trông khá đẹp và độc đáo. Cổng này không cao rộng mà sử dụng những hòn đá để mộc tạo thành hình một con sư tử lớn đang há miệng quỳ về phía vương phủ thời chúa Trịnh ở kinh thành Thăng Long. Các cánh cửa được ghép bằng những thanh gỗ đẽo tròn, mô phỏng hình dáng cây tre. Có thuyết cho rằng kiến trúc trên ngụ ý chùa Phổ Giác là một trong những sơn môn lớn nhất thuộc thiền phái Tào Động được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17, vì biểu tượng núi gợi nhớ về việc tu trên núi vốn gắn với phái này.
Du khách từ cổng vào sân trước rồi bước lên thềm cao của tòa tam bảo. Tiền đường gồm 7 gian cửa bức bàn được xây kiểu 2 tầng, 8 mái lợp ngói ta. Thiêu hương và thượng điện cũng cùng kiểu, nối với tiền đường thành hình “chữ Công”, bên ngoài có hàng hiên và cột đá vây quanh. Lại có 3 tấm bia và đôi ngựa đá đặt ở sau lưng hậu cung. Tại khoảng sân hẹp ở ngoài hiên chùa chính còn có thêm mấy ban thờ nửa lộ thiên
Hai bên tam quan có tượng voi và ngựa. Nhà thờ Mẫu gồm 3 gian, nằm ở bên hữu sân trước, ngay sau một tháp mộ, bên tả sân là tháp mộ khác và một phương đình kiểu 2 tầng 8 mái, nơi đặt pho tượng Quan Âm. Bên hữu thiêu hương, thượng điện là nhà khách và nhà thờ Tổ rộng 5 gian, cũng có hàng hiên và cột đá, bên tả dành cho ăn ở. Tất cả các tòa nhà đều được tôn trên nền cao.
Sân trước chùa Phổ Giác. Panorama ©2014 NCCong

Lưu ý

Hiện nay trong chùa Phổ Giác có một hệ thống 37 tượng tròn gồm 20 tượng bài trí ở Phật đường, 11 pho ở nhà thờ Mẫu và 6 pho ở nhà thờ Tổ. Ngoài ra còn có tượng chân dung Phan Cảnh Điệp và cuốn thần phả ghi công đức của ngài ở hậu cung, một tấm bia nói về nghề thuốc và việc dựng Y Miếu.
Trong số cổ vật lại có 13 tấm bia đá, 3 chuông đồng, 1 đôi ngựa đá, ngai thờ, bài vị, khám thờ, nhang án, cửa võng và gần 30 hoành phi, câu đối phong phú về mọi mặt. Phần gỗ được trang trí bằng các hoa văn, điển tích Phật giáo và các đề tài tứ linh, tứ quý. Chùa còn giữ được nhiều đồ thờ tự quý giá với chất liệu đồng, gỗ, gốm sứ...

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh

Chùa Thiên Phúc

Chùa Thiên Phúc còn gọi chùa Tây Cú, gọi theo tên thôn là chùa An Trung. Xếp hạng: Di tích kiến trúc, nghệ thuật quốc gia (1992). Địa chỉ: số 94 phố Hai Bà Trưng, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Toạ độ: 21°1’38"N 105°50’35"E, cách Hồ Gươm hơn 1km về hướng tây. Điểm dừng xe bus gần nhất: các phố Trần Phú (bus 18, 23), Tràng Thi (02, 09), Lê Duẩn (01, 32, 38, 40), Lý Thường Kiệt (49).

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Chùa Thiên Phúc tên chữ Thiên Phúc Tự, tên khác là An Trung Tự, một trong hai dấu vết còn sót lại của thôn An Trung, một ngôi làng Việt cổ ở phía nam kinh thành Thăng Long. Di tích thứ hai là đình An Trung, nay cũng thuộc phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Từ năm 1992, chùa đã được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận Di tích kiến trúc, nghệ thuật quốc gia.
Năm thành lập chùa đến nay vẫn chưa ai biết đích xác. Tương truyền chùa và đền Lý triều Quốc sư cùng được đặt móng một ngày, tức là vào nửa đầu thế kỷ 11. Tư liệu lịch sử thì cho biết rằng chùa đã từng được bà Nguyễn Thị Bốn, vợ một người Pháp, tổ chức trùng tu lớn vào những năm 1920, cũng vì thế mà dân gian gọi là chùa Tây Cú. Các công trình chính đều mang phong cách nghệ thuật kiến trúc cuối thời Nguyễn và được bảo toàn cho đến nay sau mấy lần tôn tạo.

Kiến trúc

Cổng chùa Thiên Phúc là một ngũ môn quan đồ sộ với 3 lầu kiểu 3 tầng 8 mái và 2 ngọn tháp lớn hai bên, trên gác treo chuông và chiêng trống, 5 cửa dưới mở ra phố Hai Bà Trưng ở hướng tây-nam. Mặt bằng của chùa gồm 3 tòa nhà đều xây 2 tầng và bố trí theo hình “chữ Môn” (門). Hai cổng phụ dẫn khách đến các điện thờ Bồ tát Quan Âm và Địa Tạng Vương ở cuối 2 tòa nhà hành lang.
Sau 3 cổng chính là sân gạch với hòn non bộ và các tháp nhỏ chắn trước cầu thang dẫn lên tòa tam bảo, nơi có hàng hiên nối Phật đường ở giữa với Tổ đường ở nhà bên tả. Từ hàng hiên nhà Tổ đi tiếp sẽ ra tháp lớn và gác tam quan ăn thông sang hàng hiên nhà bên hữu Phật đường. Nơi đây thì có điện thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo và điện thờ công chúa Liễu Hạnh, ngoài ra còn có điện thờ ông Hoàng Ba, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười và Động Sơn Trang thờ Mẫu Nhạc, người cai quản 36 cửa rừng theo tín ngưỡng dân gian.

Lưu ý

Ngày nay, trong chùa Thiên Phúc vẫn giữ được nhiều cổ vật có giá trị nghệ thuật cao, phong phú về nội dung thể loại, chất liệu, tiêu biểu là các pho tượng, phản ánh nghệ thuật điêu khắc dân gian nổi tiếng của thế kỷ 18-19. Nơi đây in đậm dấu ấn sùng kính đạo Phật, đồng thời đan xen tín ngưỡng truyền thống trong dân gian với văn hóa làng xã đặc trưng của nông thôn miền Bắc Việt Nam.
Thờ Mẫu và thờ Thánh là một hình thức tưởng niệm ghi ơn những người có công với nước, với dân. Truyền thống uống nước nhớ nguồn này cũng được gìn giữ tại chùa Thiên Phúc, dù rằng thôn An Trung từ hàng trăm năm nay đã đô thị hóa hoàn toàn. Ngôi chùa được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận và xếp hạng Di tích kiến trúc, nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh