Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Một ngày trên sông Hồng

Sống ở Hà Nội nhiều năm nay, nhưng chưa một lần tôi được khám phá cuộc sống của người dân hai bên bờ sông Hồng đỏ nặng phù sa.
Thế là chọn một ngày rảnh rang, trời mát, rủ thêm vài người bạn, chúng tôi theo thuyền du lịch ở bãi Phúc Tân (TP.Hà Nội) ngao du một ngày trên sông Hồng. Chuyến dã ngoại ngắn, nhưng đầy thú vị.

Ngao du trên bến, dưới thuyền

Tùy sở thích, khách du lịch du thuyền sông Hồng có khá nhiều lựa chọn gói tour. Đọc qua thì thấy nhiều gói khá hấp dẫn như điền dã, đạp xe trekking hoặc du lịch tâm linh (thăm đền chùa...). Sau một hồi đắn đo, chúng tôi quyết định bỏ ra mỗi người 300.000đ và chọn các điểm đến gồm: Đền Dầm, đền Tiên Dung – Chử Đồng Tử và làng gốm Bát Tràng. Những địa danh này quá quen thuộc bởi tôi đã từng đến thăm theo đường bộ, bằng xe máy. Song đi du lịch theo đường thủy thì quả là lần đầu. Mang tâm trạng phấn chấn đó, 7 giờ sáng, chúng tôi lên tàu.

Sông Hồng mùa này nước cạn và trông xác xơ hơn ngày thường. Chuyến du lịch dù ít khách, nhưng không vì thế mà kém sôi nổi. Anh hướng dẫn viên trẻ măng dõng dạc thông báo tình hình thời tiết, nhiệt độ, mực nước sông Hồng cùng những điểm mà chúng tôi sẽ đến. Buổi sáng, gió mát mơn man da thịt. Nhiều trẻ em lần đầu được đi tàu thủy nên tỏ ra thích thú, đùa cười khanh khách. Cô bạn thân quay sang tôi thủ thỉ - “Biết thế rủ lão người yêu đi cùng nhỉ, gió mát thế này mà có anh chàng bên cạnh rủ rỉ thì cũng thú phết mày ạ!” - khiến tôi phịch cười khi nhìn vẻ mặt hớn hở của nó.

Hai bên bờ bãi sông Hồng dần hiện ra với những mái nhà liêu xiêu, những chiếc thuyền con nằm ven mép. Nhiều bến đỗ tàu thuyền chở gốm sứ, vật liệu xây dựng... Người bốc vác thuê lam lũ miệt mài chuyển từng sọt hàng vào bờ khi cái nắng đầu hè dần hửng lên. Bác chủ thuyền cho biết: “Hàng hoá vận chuyển theo đường thủy thì chi phí vận chuyển thấp hơn và dễ vận chuyển hơn. Mùa này sông cạn nước nên cũng thưa người hơn, chứ lúc nước nổi, thuyền bè tấp nập, đông vui lắm”.

Khoảng 9 giờ, chúng tôi đến điểm đầu tiên là đền Dầm (xã Ninh Sở, huyện Thường Tín - ảnh). Tàu cập bến, đưa du khách lên đền theo con đường mòn râm mát. Con đường làng ngát hương hoa bưởi khiến mọi người nhận thấy ngay vẻ thanh tịnh của làng quê. Không ngờ nơi cách trung tâm thành phố không xa này vẫn giữ được nhiều nét cổ kính như giếng nước, sân đình, cây đa. Đền Dầm cũng là điểm du lịch tâm linh lý tưởng với không gian rộng rãi, thoáng mát. Chúng tôi dạo chơi quanh khu đền, thưởng thức chè xanh cùng những đặc sản tại đây như bánh giầy, bánh lá... Tất cả tạo nên một cảm giác yên bình đến nao lòng!

Sau hơn nửa tiếng ngao du khắp làng, chúng tôi lại đến Khoái Châu (Hưng Yên) - nơi có đền Tiên Dung – Chử Đồng Tử. Ngôi đền nằm khá cao và ngạo nghễ ở ngay bến sông Hồng. Vẻ cổ kính của ngôi đền cũng khiến chúng tôi đỡ hẳn cảm giác mệt mỏi và oi nồng của ban trưa. Tiếng nói nhẹ nhàng của hướng dẫn viên khi kể về mối tình cảm động của Tiên Dung – Chử Đồng Tử khiến không ít bạn trẻ tròn mắt thích thú. Thu – một du khách cùng đoàn đi chơi cùng bạn trai - cứ cười bẽn lẽn: “Thật sự là bây giờ em mới hiểu rõ gốc tích của câu chuyện tình này, chứ ngày trước nghe cô giáo giảng bài cũng chỉ nhớ và hiểu mang máng. Không ngờ là có nhiều chi tiết ly kì đến vậy!”.

Bữa cơm trưa được ăn ngay trên tàu. Thấm mệt vì đã quá trưa, tuy vậy mọi người ăn uống vẫn rất ngon miệng và hỉ hả. Gió từ bến sông thổi vào mát rượi khiến bữa ăn càng trở nên gần gũi hơn. Bạn tôi lại thì thầm: “Không có gì đặc biệt, nhưng mà vẫn thú vị. Được hiểu thêm một chút về cuộc sống ven bờ sông Hồng cũng thú vị lắm!”. Sau đó, thuyền lại nhẹ nhàng rời bến, tiếp tục đưa chúng tôi vòng về làng gốm Bát Tràng và rong chơi ở làng suốt buổi chiều. Nhiều người hỉ hả xách về nhiều món gốm xinh xắn, đặc biệt là những du khách nước ngoài. Khoảng thời gian này cũng đủ để trẻ con thử sức nặn gốm, tô tượng, người lớn thì dạo chợ mua đồ. Bốn giờ chiều, tàu đưa du khách về lại Hà Nội sau một ngày ngao du trên bến, dưới thuyền đã thấm mệt.

Để níu chân du khách thì… chưa

Với số tiền 300.000đ cho một ngày đi chơi với lịch trình như trên, hẳn là không ít người dân sẵn sàng bỏ tiền để đổi lấy một chuyến dã ngoại lý thú trên sông Hồng. Tôi và bạn tôi đều cảm thấy khá hài lòng ở những nơi được đặt chân đến, cả những cảm nhận về cuộc sống thường nhật của người dân ven sông mà không phải lúc nào cũng có cơ hội được chiêm nghiệm.

Tuy vậy, để có thể níu giữ chân du khách khiến họ sẵn sàng quay lại tiếp tục khám phá những hành trình khác dọc bờ sông Hồng có lẽ vẫn là điều khó. Lý do duy nhất là chính là chất lượng phục vụ. Ngay từ đầu, điểm đón du khách đã không mấy bắt mắt khi con đường dẫn vào bãi vẫn nhếch nhác, bẩn thỉu đầy rác. Đội ngũ phục vụ đón du khách với một vẻ điềm nhiên, không xúc cảm khiến tôi thấy ái ngại cho những du khách nước ngoài. Thuyền du lịch vốn đã cũ, nay cũng chẳng tân trang gì thêm. Bữa cơm trưa tuy nấu rất ngon, nhưng bát đũa đã cũ kỹ nên du khách khó lòng cảm nhận trọn vẹn chất lượng của bữa ăn.

Nhiều người chép miệng: “Chừng ấy tiền thì cũng chỉ đến thế thôi!” khiến tôi cảm thấy chạnh lòng. Du khách trong nước phải chăng nhiều lúc hơi dễ dãi với chất lượng dịch vụ vốn dĩ xưa nay yếu thế. Những điều dường như nhỏ nhặt nhưng chính là mấu chốt của chuyến đi. Giá như chị phục vụ viên trên tàu niềm nở hơn, vui vẻ hơn thì du khách hẳn sẽ rất hài lòng. Bữa cơm trêu tàu hẳn sẽ ngon lành hơn nếu bát đũa không quá cũ kỹ, khăn trải bàn không quá nhàu nhĩ... Bạn tôi vốn tính xuề xoà nên cứ cằn nhằn: “Mày hơi khó tính nên mới để ý như vậy chứ tao thấy cơ bản là cũng được! Đi chơi thoải mái tinh thần, lại được tập thể dục, quen thêm bạn bè. Vậy là vui rồi!”.

Hay là tôi cũng hơi khó tính thật nhỉ!
Hải Minh

Huyền thoại trong lòng đất

“Như một toà lâu đài cổ nằm im lìm trong lòng đất, giấu kín bao kỳ lạ về những con người đã làm ra nó và của một thời đại mà nó đã được sản sinh ra...” - đó là lời giới thiệu sang trọng về địa đạo Vịnh Mốc (huyện Vĩnh Linh) – làng hầm có quy mô lớn nhất Quảng Trị - nơi hàng trăm con người đã ăn, ở, sinh hoạt an toàn.
Đây cũng là căn cứ kháng chiến quan trọng, nơi tập kết và vận chuyển lương thực, vũ khí cho đảo Cồn Cỏ trong những ngày chiến tranh “Phải kéo được biên giới Mỹ đến tận vĩ tuyến 17 - ranh giới giữa hai bên bờ cầu Hiền Lương” của đế quốc Mỹ.
Một lối vào ở khu địa đạo.     Ảnh: Bích Hường
Một lối vào ở khu địa đạo. Ảnh: Bích Hường
Từ bãi biển Cửa Tùng, đi về phía bắc khoảng 7km là tới địa đạo Vịnh Mốc. Con đường nhựa đi vào khu di tích len lỏi giữa rừng thông ngút ngàn, những vườn tiêu xanh đến đậm đà trong cái nắng đỏ rực của tiết trời miền Trung. Phía bên phải là biển xanh gợn sóng. Mọi người đều mở cửa xe để đón những cơn gió mát rượi, hưởng cảm giác khoan khoái, dễ chịu đến lạ kỳ. Cách bờ khoảng 30km, đảo Cồn Cỏ hiện ra như một chấm xanh đậm trên mặt đại dương...

Địa đạo Vịnh Mốc đây rồi... Bước xuống xe, đất dưới chân như bị rang lên bởi nắng nóng ủ lâu. Toàn không gian bốc hơi nóng ngùn ngụt. Khi ấy, thời tiết Hà Nội vẫn đang mát mẻ, thì ở đây đã nắng gay gắt, giờ mới biết cái khắc nghiệt của thời tiết miền Trung.

Một quả đồi đất đỏ bazan phủ kín màu xanh của tre, trúc... Người hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi men theo con đường rộng chưa đầy 2m trong khu vực địa đạo được lát bằng đá xanh, quanh co men theo những giao thông hào đã được tôn tạo. Còn đây những di tích hố bom lớn, những chiếc giếng khô – khi xưa là nơi để chứa hàng hoá, lương thực vận chuyển thật nhanh vào địa đạo...

Phải đặt chân đến đây, được tận mắt xem những bức ảnh thể hiện sự tương phản giữa sự trù phú của Vịnh Mốc trước năm 1965 và sự san bằng phá huỷ của làng quê ấy sau đó chỉ mấy tháng mới thấy được sức sống mãnh liệt của người dân trên mảnh đất lịch sử này.

Ngay sau khi hiệp định Genève được ký kết năm 1954, Vĩnh Linh trở thành mảnh đất địa đầu của miền Bắc XHCN và trở thành mục tiêu số một của đế quốc Mỹ. Người dân Vịnh Mốc đứng trước 2 lựa chọn hoặc bỏ làng đi, hoặc bám trụ. Và cuối cùng họ đã lựa chọn ở lại và tồn tại. Họ đã tồn tại không phải chỉ cho riêng họ mà cho cả một dân tộc...

Biết đến địa đạo Vịnh Mốc từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, giờ được tận mắt thấy, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng và kính phục...

Chúng tôi xuống địa đạo, mò mẫm theo từng bậc hầm, cái nóng rát của tháng tư Quảng Trị bỗng biến mất, thay vào đó là mùi đất ẩm bốc lên ấm ấm. Lòng địa đạo loang loáng sáng những ánh đèn pin, đủ để những người đi ngay cạnh nhìn lối, còn những người khác phải bám vào nhau. Vì tưởng trong hầm thấp, chúng tôi lom khom bước theo hướng dẫn viên, nhưng đến khi chị cho biết đường hầm cao hơn 1,7m... lại vươn người đứng thẳng.

Khi được biết người ta đã chuyển hơn 6.000m3 đất đá ra khỏi nơi đây giữa mưa bom lửa đạn, cả hệ thống đường hầm nối liền thành một “lâu đài” khép kín, công trình địa đạo được khởi công từ đầu năm 1965 và hoàn thành vào ngày 18.2.1966, 250 người dân đã thay phiên nhau đào bằng những dụng cụ hết sức thô sơ, chúng tôi hết sức ngạc nhiên.

Chúng tôi đi qua từng căn phòng nhỏ trong tầng hầm thứ nhất – nơi sinh sống của các gia đình: Hội trường lớn là nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim..., 3 giếng nước đủ vài trăm người sử dụng, đặc biệt bếp được thiết kế với nhiều ống khói nhỏ tản mát tránh sự phát hiện của địch, kho gạo, trạm phẫu thuật, trạm gác, điện thoại... Đi hết tầng 1, chúng tôi xuống tầng hầm thứ hai sâu tới 20m.

Đó là nơi đóng trụ sở của Đảng ủy, ủy ban, ban chỉ huy các lực lượng vũ trang. Rồi tiếp đến là tầng hầm sâu nhất cách mặt đất tới 25m là kho hậu cần cất giữ hàng hoá cho đảo Cồn Cỏ và miền Nam cũng như phục vụ chiến đấu tại chỗ. Ai nấy đều thán phục trước cấu trúc hợp lý đến hoàn hảo của địa đạo. Càng nể phục hơn khi biết rằng vị chỉ huy công trình này lúc bấy giờ là ông Lê Xuân Huy học vấn chỉ vừa hết tiểu học.

Trong khu vực địa đạo, việc tổ chức phòng tránh, bảo vệ địa đạo rất phức  tạp, không chỉ đạn bom trút xuống mà còn gián điệp tìm cách xâm nhập. Vậy mà trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại, không một người nào bị thương, đặc biệt, 17 đứa trẻ đã ra đời an toàn, hàng trăm chuyến thuyền nan tiếp vận lương thực hàng hoá an toàn cho đảo Cồn Cỏ đã nói lên sự tích kỳ diệu về mảnh đất và con người nơi đây.

Chúng tôi trở về Hà Nội, trong lòng còn vương vấn bao suy nghĩ... Chiến tranh đã lùi xa, nhưng vẫn còn đó một làng hầm huyền thoại với bao điều kỳ lạ về những con người ở thời đại nó đã sinh ra.
Bích Hường

Mỹ Sơn, Hội An - “phượt” bằng bus

Đến Đà Nẵng, không muốn gò vào khuôn của nhà “tua”, có trong tay hai cuốn sách, với tôi, rất hữu ích là “Điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ” của tác giả Huỳnh Thị Được (NXB Đà Nẵng, 2005), “Đi về phía an lạc” của nhà báo Nguyễn Trung Hiếu (Phương Nam Book, NXB Hội Nhà văn, 2011), gọi 0511... hỏi về tuyến bus số 1: Đà Nẵng - Hội An, tuyến số 6: Đà Nẵng - Mỹ Sơn, tôi “phượt” một chuyến rẻ và nhiều... tự chủ...
Qua đêm ở Mỹ Sơn
Tuyến bus số 6, cứ 30 phút, có một chuyến. Bến cuối ở Mỹ Sơn, nhà chờ xe cách cổng khu di tích chừng trăm mét. 70km Đà Nẵng - Mỹ Sơn, đi chừng tiếng rưỡi, bác tài phóng bus veo veo, nhấn còi hơi bị to, lượn xe hơi bị “lụa”… Người Đà Nẵng vẻ như không là những người “mặn” chuyện, lên xe, ít chuyện với nhau, mà có nói, cũng rì rầm, không làm ồn tai hành khách.
Muốn qua đêm ở Mỹ Sơn, tất nhiên nên đi chuyến bus chiều. Và chỗ nghỉ, không có sự lựa chọn nào khác, ngoài “Làng Chăm” (Cham village) ngay gần cổng khu di tích. Làng, được xây nên, ngoài việc đón du khách đến trong ngày, cũng có dãy nhà gồm ba phòng dành cho khách muốn qua đêm ngắm hoàng hôn, bình minh ở Thánh địa, nhưng quá lâu rồi, chẳng ai “rỗi hơi” ở lại, khách du lịch vù xe đến, tham quan hai ba tiếng, quay ngay ra xe về lại Hội An, Đà Nẵng trong ngày, nên làng hoang vắng, thiếu mùi người.
Nắng sớm trên đường Cửa Đại, Hội An.     Ảnh: T.L.T
Nắng sớm trên đường Cửa Đại, Hội An. Ảnh: T.L.T.
Cái cách bày biện của làng cho thấy, chủ làng (nghe nói đang sống ở Sài Gòn), hình như là một người, tính khí cũng có phần lập dị, gu thẩm mỹ cũng không nhất quán: Tượng nhiều thể loại đặt vương khắp vườn, trên nóc căn nhà dựng chỗ cao nhất trong làng, sừng sững trồng một cái linga cao 5 - 7m cách điệu ghép từ những cọc sắt xám.
Làng đêm thanh vắng, khách tha hồ hưởng sự thinh lặng, mùi ngái ngát của bạch đàn, của cỏ cây, của đất sau bất ngờ trận mưa to lúc cuối chiều, ngắm những tàu lá chuối như “phản quang” bên những bụi cây lấm chấm hoa sau khung cửa nhỏ... Để sớm hôm sau, trở dậy thật sớm, tràn đầy phấn chấn, lững thững đi bộ vào Thánh địa ngắm lại những tòa tháp cổ điêu tàn…
Thánh địa Mỹ Sơn hồi chiều như u mặc hơn Thánh địa Mỹ Sơn hồi sáng? Những tòa tháp, những pho tượng, tấm bia… bây giờ khác nhiều những năm xưa. Hết thảy đều bị thời gian, thời tiết mài mòn. Điều này thấy rõ khi so sánh, đối chiếu giữa vật thực với những bức ảnh in hình vật ấy trong cuốn sách của Huỳnh Thị Được, và thêm cuốn “Mỹ Sơn - Di sản thế giới” - UBND huyện Duy Xuyên ấn hành 2001.
Jatalinga ở tháp F1 - Mỹ Sơn (ký hiệu 03MSF1: 01 950/D9536).     Ảnh: T.L.T
Jatalinga ở tháp F1 - Mỹ Sơn (ký hiệu 03MSF1: 01 950/D9536). Ảnh: T.L.T.
Ví dụ nhỏ, tại cụm tháp F1 - nhóm tháp bị bom đạn tàn phá nặng nhất, linga có tên Jatalinga, “được thể hiện bằng một nghệ thuật cách điệu cao: Đỉnh linga tạc đầu tóc của thần Shiva mà theo miêu tả của nhà khảo cổ học người Pháp Jean Boisselier là “rất hiện thực và với một sự tinh tế cao,...” (sách của Huỳnh Thị Được), thì nay, vân hoa búi tóc chỉ còn là những đường vân lờ mờ… “Mỹ Sơn đang thấp đi và nhỏ lại. Nhóm tháp F1 vẫn chờ… đổ sập” (sách của Nguyễn Trung Hiếu)…
Trong các cụm tháp, cụm G hiện đang được trùng tu với sự giúp đỡ của chuyên gia Italia. Điểm nổi của tháp này là những mặt nạ Kala - thần thời gian đồng nghĩa với thần chết, thần của sự điêu tàn, hủy hoại, trang trí xung quanh tháp với nhiều kiểu khác nhau, còn khá nguyên vẹn.
Tôi đến và rời Mỹ Sơn cũng với “búi” câu hỏi như khi đến nhiều nơi khác. Có những điều tìm được câu trả lời, và vẫn còn nhiều những điều chưa…
Từ Hội An thẳng ra Cửa Đại
Từ Mỹ Sơn ngược xe số 6, tới ngã ba Vĩnh Điện, xuống, rẽ về Hội An là 9km. Không có tuyến bus, chỉ có thể bắt xe ôm hay taxi.
Hội An hè nườm nượp khách. Nghe giọng, thấy người phía Bắc nhiều hơn người phía Nam. “Mùa này khách Tây ít, khách ta nhiều”, ông chủ quán hiệu cao lầu ở 16C Phan Chu Trinh nói. Không có “thổ địa” để vẽ chỗ nào ăn cao lầu ngon nhất Hội An, nhưng tôi có cảm tưởng, cao lầu dù ai nấu, thì ngon nhất lại là ở lớp rau xếp đáy tô - trộn rối từ ba loại rau tươi non: giá, rau đắng, húng Trà Quế nổi tiếng. Dùng xong bữa, ngó bên trong nhà, thấy ngay tủ đồ chén dĩa cổ toàn đồ men lam, được khóa niêm phong cẩn thận. Vợ chồng ông chủ quán cố ra vẻ khiêm tốn: “Đồ cổ, nhưng không cổ hung. Rất quý, của cha ông để lại”.
Du khách nước ngoài chiêm ngưỡng vẻ đẹp của di tích Mỹ Sơn.     Ảnh: T.L.T
Du khách nước ngoài chiêm ngưỡng vẻ đẹp của di tích Mỹ Sơn. Ảnh: T.L.T.
Hội An cho người ta vô vàn những lựa chọn để ngắm nhìn, để thăm thú để “sóp - ping”… Cứ bước đi, không định trước, lang thang dọc ngang những con phố, ngó nghiêng, sẽ bất đồ thấy những cái lặt vặt bật cười, ví dụ trước cổng một ngôi nhà cổ có tán lá xanh um, gắn một biển đề: “Ông X - Nha sĩ quốc gia”, hay bờ tường trên đường Nguyễn Duy Hiển, gần hội quán Triều Châu gắn chặt một tượng thạch cao bán thân đúng là nhạc sĩ người Đức… Beethoven; khó nhìn nhầm cho được bởi mái tóc bồng, cái nhìn đăm chiêu và cái khăn thít ở cổ rất đặc trưng Beethoven. Chẳng hiểu sao, trước mặt tượng đặt một bát nhang to ụ chân nhang…
Cửa Đại lộng gió biển. Đứng trên cầu Phước Trạch cả tiếng đồng hồ lúc sáng sớm xem trên vài ba thuyền mỏng rải rác trên sông, hai ba người đàn ông lưng nâu trần khoan thai rút lưới từ lòng sông, gỡ cá. Những người đàn bà xách giỏ khoan thai đi chợ. Đoạn từ cầu Phước Trạch chạy thẳng ra biển, là đoạn đẹp nhất của đường Cửa Đại dài gần 4 cây số, bởi hai bên vỉa hè, trồng xen kẽ một hoa sữa, một bằng lăng.
Trụ đá trang trí - cụm tháp H1.     Ảnh: T.L.T
Trụ đá trang trí - cụm tháp H1. Ảnh: T.L.T.
Giữa hè bằng lăng tím rịm. Hai cây hoa sữa và bằng lăng trước cửa nhà số 40 thì hơi lạ. Hoa muồng vàng leo bám vào bằng lăng tím. Còn hoa sữa bị trùm kín bởi cây hoa giấy hồng tươi. Tò mò hỏi, bác chủ nhà cười, kể: “Cây nhà nước trồng, mình không dám bứng. Nhưng mùi hoa sữa nó “héc” (hắc) quá, chịu không thấu, bác nghĩ ra kế trồng ôm vào nó cây hoa giấy. Hoa giấy không leo ngang mà dông thẳng lên, quấn bọc lấy hoa sữa. Hoa sữa vẫn tươi nhưng chẳng ra hoa… Thế là hết “héc”.
Cửa Đại, nơi sông tiếp biển, nên hình như trong không khí cũng toát lên một vị gì đó lửng lơ khá lạ...
Đi qua mỗi một vùng đất, người ta thường giữ lại cho mình những vẻ đẹp của người và cảnh. Những nơi trên xứ mình tôi từng có dịp đi qua, vẻ đẹp của tình người, tôi xếp đầu tiên là người Côn Đảo, sau là người Hội An - Cửa Đại. Cầu giời, những nét đẹp của họ không mai một đi, dù vì bất cứ lý do gì…
    Lâm Tuyền

Hè về trên biển Hội An

Hè về, biển Hội An luôn là sự lựa chọn của rất đông người. Không chỉ tránh nắng, tắm biển còn là dịp để nghỉ ngơi, thư giãn, thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên tạo của biển quê nhà. Có lẽ vì vậy mà bắt đầu sáng sớm hoặc đầu giờ chiều các bãi biển Cửa Đại, An Bàng đã đông nghịt người.
Trong lành và dịu nhẹ là cảm giác trước tiên khi đặt chân đến Cửa Đại. Du khách có thể nằm trên cát, lắng nghe tiếng gió biển vi vu, tiếng sóng vỗ rì rào bên tai. Một  chút thơ mộng đó đủ để cho con người ta cảm thấy thư thái, an nhàn.
Dọc theo bờ cát trắng trải dài, khuất trong hàng dương liễu xanh biếc  là những khu  nhà  nghỉ, khách sạn  vừa mang phong cách cổ điển, sự tao nhã của nghề thủ công kết hợp với sự tiện nghi hiện đại. Đấy chính là điểm dừng chân lý  tưởng của du khách phương xa muốn đợi thời gian trôi đi để được chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền ảo và lắng nghe những lời thì thầm của biển khi màn đêm dần buông.
Đặc biệt, buổi sáng thức dậy sớm, thả đôi chân trần  lang thang trên cát biển, ngắm bình minh tuyệt đẹp nhô lên từ  đảo Cù Lao Chàm,  …rồi không ít du khách phải ồ lên ngạc nhiên khi thưởng thức các món hải sản tươi ngon ngay bên bờ biển.
Trong các loại sản vật xứ biển bên cạnh cá, mực, tôm, cua.. không thể thiếu các loại đặc sản từ đảo Cù Lào Chàm: ốc vú nàng, mực một nắng,… Sự phong phú của các loài hải sản cùng với cách chế biến khéo léo đã tạo nên nét độc đáo trong ẩm thực biển xứ Quảng, có sức hấp dẫn thôi miên cả với những du khách khó tính nhất. Ngoài ra còn có nhiều hình thức giải trí lôi cuốn ở Cửa Đại như trượt sóng, câu cá…
Không lộng lẫy tiện nghi như biển Cửa Đại, An Bàng lại thu hút khách với vẻ đẹp  hoang  sơ, mộc mạc. Mặc cho cái nắng oi ả, mới 3 giờ chiều  bãi biển An Bàng  trở nên đông nghịt người. Thật sảng khoái khi được tung tăng trong sóng biển, tha hồ thỏa mình trước bờ biển xanh và bãi cát dài mênh mông. Sóng nhẹ, êm và đặc biệt bãi biển khá sạch vì thế An Bàng còn là sự lựa chọn cho các gia đình có con nhỏ đi cùng. Ở đây, các bé tha hồ chơi bóng, nô đùa trên cát hoặc thả diều… .
 Khách không có nhu cầu tắm biển có thể  ngồi hóng mát, cùng bạn bè thưởng thức các món mực cơm, chem chép, hàu, cháo nghêu, …Đêm xuống  ngồi  trên bãi cát ngắm trăng sao với những tàu ghe câu mực, đèn đuốc lung linh như một thành phố nổi, du khách sẽ thấy nhẹ nhàng, thanh thản, quên đi những bận bịu, lo toan đời thường…
Biển luôn là thiên đường, điểm đến  đối với nhiều người để bắt đầu hoặc kết thúc một ngày làm việc, học tập căng thẳng, nóng bức. Nếu được hỏi nơi nào thú vị nhất cho một kỳ nghỉ hè thì có lẽ rằng biển Hội An sẽ là nơi được nhiều người nghĩ tới đầu tiên.
Thanh Ly

Nhộn nhịp chợ đêm Hạ Long

Nằm bên bờ biển Bãi Cháy xinh đẹp, phía trên là công viên giải trí quốc tế Hoàng Gia, dưới là bến phà cũ, có cầu Bãi Cháy bắc qua sông Cửa Lục sang trung tâm thành phố, chợ đêm Hạ Long mở cửa từ 6h chiều cho tới tận đêm khuya.
Mỗi dịp hè về lại hấp dẫn du khách với nhộn nhịp những sắc màu mang màu sắc rất Hạ Long, chợ đêm Hạ Long trở thành một địa chỉ không thể bỏ qua khi đến thành phố biển xinh đẹp này.
Nằm trong quần thể khu du lịch Hoàng Gia- Bãi Cháy, chợ đêm Hạ Long là một địa điểm thú vị khi du khách sau một ngày dạo chơi, tắm biển Bãi Cháy thỏa thích, ăn hải sản ở Cái Dăm, Hòn Gai, có dịp đến chợ đêm chọn những đồ lưu niệm mang về.
Chợ đêm Hạ Long gồm hơn một trăm gian hàng, bày bán nhiều nhất là đồ lưu niệm, thủ công mĩ nghệ, nữ trang, và không thiếu từ áo tắm, ba lô, mũ nan, đến những chiếc túi xách ngọc trai long lanh
Đồ lưu niệm mà du khách hay chọn nhất ở chợ đêm Hạ Long là những món quà mang hương vị biển. Những móc chìa khóa xinh xắn, những chuỗi dây chuyền làm từ vỏ ốc biển, những con tàu tuyệt đẹp, những chiếc áo phông in hình biển Hạ Long, Tuần Châu.
Du khách nước ngoài đến với chợ đêm Hạ Long phần nhiều là khách châu Á, Thái Lan, Trung Quốc. Một số ít đến từ Mỹ, Hà Lan, Pháp…
Người bán hàng niềm nở, nói tiếng Anh lưu loát, khách du lịch đến với chợ đêm không ngại mặc cả, tha hồ tạo dáng, chụp ảnh vui vẻ.
Đi chợ đêm Hạ Long một lần, đến lúc chia xa Hạ Long, khó có thể quên những sắc màu của thành phố biển xinh đẹp ấy!
Thế giới đồ lưu niệm rực rỡ sắc màu.
Thế giới đồ lưu niệm rực rỡ sắc màu.
Những cô bán hàng niềm nở, nói tiếng Anh rất trôi chảy.
Những cô bán hàng niềm nở, nói tiếng Anh rất trôi chảy.
Những móc chìa khóa từ ốc biển.
Những móc chìa khóa từ ốc biển.
Con tàu giá 1.500. 000 đồng này đang chờ đóng gói cho một du khách Thái Lan.
Con tàu giá 1.500.000 đồng này đang chờ đóng gói cho một du khách Thái Lan.
Khách du lịch vui vẻ chụp ảnh ở chợ đêm Hạ Long.
Khách du lịch vui vẻ chụp ảnh ở chợ đêm Hạ Long.
Chợ đông vui với các bạn trẻ phần đông đến từ Đài Loan, Trung Quốc.
Chợ đông vui với các bạn trẻ phần đông đến từ Trung Quốc.
Những chiếc áo phông in chữ Hạ Long bán khá chạy.
Bên cạnh những đồ lưu niệm, những bưu ảnh vịnh Hạ Long cũng được bày bán.
Em bé Hà Lan đang phân vân không biết nên lấy đôi guốc nào giữa mênh mông thế này?
Em bé Hà Lan đang phân vân không biết nên lấy đôi guốc nào giữa mênh mông thế này?
Thúy Hằng

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Thăm Bạch Long Vỹ

Nếu bạn là tín đồ của du lịch khám phá, thì đảo Bạch Long Vỹ không phải là nơi thâm sơn cùng cốc, nhưng lại cho bạn cảm giác như đến một vùng đất đầy những nét hoang sơ.
Nằm trong vịnh Bắc Bộ, đảo Bạch Long Vỹ trở thành đảo thanh niên sau khi có 56 hộ dân là những thanh niên xung phong và dân làm dịch vụ hậu cần nghề cá tới đây lập nghiệp. Hòn đảo có cái tên huyền bí này ẩn chứa những bãi cát trắng, dải xương rồng và bãi đá với cơ man ốc biển.
Cảng Bạch Long Vỹ nhìn từ hải đăng.
Cảng Bạch Long Vỹ nhìn từ hải đăng.
Bạch Long Vỹ là hòn đảo thuộc TP.Hải Phòng rộng khoảng 2,5km2. Dân cư trên đảo chỉ có 56 hộ dân, nhưng đảo luôn nhộn nhịp với cầu cảng dài tới 3km đón nhận hàng trăm tàu đánh cá của ngư dân ra - vào. Rất dễ để tìm một ngư dân từ tận Quảng Ngãi, Thanh Hóa đánh bắt cá xa bờ cập vào cầu cảng Bạch Long Vỹ.

Hòn đảo xinh đẹp này có khả năng tự cung cấp được nước ngọt và điện sinh hoạt nhờ hệ thống máy phát. Dịch vụ trên đảo tuy không phong phú như những đảo du lịch khác, nhưng bù lại cho những người ưa vẻ hoang sơ có được cảm giác tự do. Để tới được đảo Bạch Long Vỹ, cần đi tàu thủy cao tốc từ Hải Phòng với giá 500.000 đồng vé khứ hồi, chỉ mất từ 4 – 5 tiếng đồng hồ là tới. Một chút say sóng để cảm nhận thế nào là biển khơi, nhưng những cảm giác nôn nao này sẽ tan nhanh khi bước chân lên đảo. Nhà khách trên đảo đủ chỗ cho  khoảng 40 người với đủ tiện nghi sinh hoạt.

Khi đã đến được Bạch Long Vỹ, cảm giác chung nhất là tự do hòa nhập với thiên nhiên nơi đây. Có 2 bãi cát không dài, nhưng sạch sẽ, với nước biển trong mát để tha hồ tắm biển. Bạn có thể đi dạo ở những bãi đá ven bờ, nhặt cả rổ ốc để tự thưởng cho mình món ốc luộc đặc sắc của biển khơi. Hãy cẩn thận khi chơi ở bãi đá hay bãi xương rồng nhưng những quả xương rồng, đỏ sậm lại là thứ lạ miệng nhất ở đây. Trước kia, khi lang thang trên đảo Bạch Long Vỹ, du khách thường thấy những bụi cam thảo với chùm hạt đỏ mà người ta hay gọi là hạt chi chi. Nhưng giờ đây, cam thảo lẫn với bạt ngàn hoa ngũ sắc, dứa dại. Món ăn đặc sản của Bạch Long Vỹ chính là bào ngư tươi hấp gừng hoặc ngâm rượu. Thiên nhiên nơi đây ưu đãi cho Bạch Long Vỹ loại bào ngư tốt nhất với số lượng dồi dào.

Đêm buông trên đảo Bạch Long Vỹ thường có những buổi giao lưu văn nghệ với những đơn vị đóng trên đảo như bộ đội hải quân, cảnh sát biển, hải đăng, khí tượng, thanh niên, ngư dân và rất đông trẻ em. Đi chơi tối trên đảo Bạch Long Vỹ cho bạn cảm giác phiêu lưu của thời chiến vì phải biết “mật khẩu”. Nhưng đừng lo, bởi sẽ có lực lượng bộ đội đưa bạn đi tham quan Bạch Long Vỹ về đêm, để được ra sát bờ biển ngắm nhìn những chiếc tàu câu mực bật đèn sáng trưng cả một dải biển phía chân trời.

Sáng sớm tinh mơ trên đảo, hãy dậy sớm để được tận mắt thấy bộ đội tập vũ trang với những sinh hoạt kỷ luật của nhà binh. Bạn có thể leo lên đỉnh cao nhất là ngọn hải đăng để ngắm nhìn bình minh trên biển Đông, ngắm nhìn toàn cảnh Bạch Long Vỹ với cầu cảng, bãi cát, bãi đá và con đường ôtô chạy vòng quanh đảo. Thú vị nhất trên đảo Bạch Long Vỹ là bất cứ ai gặp bạn cũng cất lời chào, nó đã thành tập quán đáng yêu nhất của nơi đây từ nhiều năm nay. Hãy tươi cười với bất cứ ai bạn gặp trên đảo Bạch Long Vỹ dù đó là một anh bộ đội, một chị thanh niên xung phong, một em bé hay một ngư dân quen “ăn sóng nói gió”. Tất cả những điều đó khiến cho những người ưa thích “dịch chuyển”, khám phá một cảm giác yên lành, tự do tình cảm yêu thương với một hòn đảo được mệnh danh là “Đuôi của con rồng trắng”.
Lê Hồng Quang

Tràng An - một nét sơn thuỷ

Không chỉ từng là vùng cố đô của VN với những di tích lịch sử nổi tiếng, những lễ hội lâu đời gắn liền với ba triều đại phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của dân tộc: Đinh, tiền Lê và Lý, Ninh Bình còn được mệnh danh là “Hạ Long cạn” với vẻ tuyệt mỹ của phong cảnh núi non, hang động, thung nước và rừng cây.
Thật không gì thú vị hơn khi được trải lòng mình với non nước sơn thuỷ hữu tình ấy trên những con đò thong dong giữa trời thu nắng đẹp để khám phá Tràng An – khu danh thắng của vùng đất đặc sản “thịt dê, cơm cháy” (ảnh).
Nằm cách Hà Nội hơn 90km về phía nam thuộc các huyện Hoa Lư, Gia Viễn và TP.Ninh Bình, Tràng An có diện tích hàng nghìn hécta được bao bọc bởi hệ thống dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra các đầm hồ, thung nước thông nhau bởi 48 hang động xuyên thủy và nhiều hang động khác.

Mỗi hang mang một vẻ đặc trưng như tên gọi như: Địa Linh, Sinh Dược, Mây... Ấn tượng nhất là hang Rượu và hang Cơm với  ông khổng lồ nấu rượu ở đây, sau đó mang rượu và cơm ra  ngồi ăn. Trong hang Rượu có mạch nước ngầm sâu hơn 10m. Tương truyền, các bậc tiền nhân xưa đã vào đây lấy nước để nấu rượu tiến, khi nạo vét lòng hang các nhà  đã phát hiện rất nhiều bình gốm, hũ, vại và các dụng cụ để nấu rượu. Đặc biệt, trong một số hang động còn phát hiện được nhiều di vật, dấu tích của người tiền sử có niên đại hàng chục nghìn năm. Vì thế, nơi đây còn được coi là “bảo tàng địa chất ngoài trời”.

Ngoài ra, Tràng An còn được biết đến với sự đa dạng về sinh học của hệ sinh thái trên cạn, dưới nước đan xen bao gồm những động - thực vật độc đáo, phong phú ít nơi nào có được. Trong đó có nhiều loài quý hiếm cần được bảo vệ nằm trong Sách đỏ Việt Nam.

Trong hành trình tham quan danh thắng này, du khách còn có cơ hội đến với nhiều đền đài như: Đền Trình - nơi thờ 2 công thần cai quản kho vàng, két bạc của vua Đinh; đền Trần - nơi thờ vị thần trấn cửa ải phía nam Hoa Lư tứ trấn; phủ Khống - nơi thờ 7 vị quan trung thần triều Đinh, gắn với các truyền thuyết khi vua băng hà, 7 vị quan trong triều đình mang nhiều quan tài chôn theo các hướng rồi cùng tự sát để giữ kín những bí mật về ngôi mộ thật. Một vị tướng trấn giữ thành nam vô cùng cảm kích trước nghĩa khí của 7 vị trung thần liền lập bát nhang thờ cúng ở đây. Sau khi vị tướng này mất, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và trồng cây thị ngay trước cửa phủ để tưởng nhớ các bậc trung thần. Cây thị nghìn năm tuổi nay vẫn xanh tốt và ra quả đều. Điều đặc biệt là cùng một cây mà quả có 2 loại tròn và dẹt.

Đến Tràng An du khách không thể không viếng thăm một nơi mang nhiều kỷ lục của Phật giáo VN như: Chùa có diện tích lớn nhất; tượng phật bằng đồng lớn nhất; chùa có nhiều tượng la hán nhất và nhiều  nhất... Đó là khu văn hóa tâm linh chùa Bái Đính, gồm chùa Bái Đính mới và cũ nằm trên quốc lộ 1A vào bến đò Tràng An.

Hiện nay, mặc dù quảng bá chưa rộng, nhưng mỗi năm Tràng An thu hút hàng trăm ngàn lượt khách trong nước và quốc tế. Du khách đến với Tràng An thường tham gia hành trình khám phá bằng thuyền nan kéo dài khoảng 3 giờ qua 3 đền, 12 hang khác nhau và rất nhiều thung nước trong xanh – nơi núi non hùng vĩ, hoang sơ và mây trời hòa quyện.

Ẩn chứa những vẻ đẹp mà tạo hóa ban tặng, khu sinh thái Tràng An đang được lập hồ sơ để UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh thái và kiến tạo địa chất. Vì thế, trong tương lai không xa, nơi đây chắc chắn sẽ là một điểm du lịch tuyệt vời không thể bỏ qua với lữ khách bốn phương.
Nguyễn Hồng Nguyên

Người anh hùng làng chài - Kỳ cuối:

TT - 1.Ông Bùi Văn Thạnh, nguyên giám đốc Sở Văn - hóa thông tin tỉnh Kiên Giang, trong một bài viết về vụ Nguyễn Trung Trực đã bày tỏ niềm tin vào truyền ngôn về những ngày cuối cùng của cụ ở Phú Quốc: “Gặp phải lúc gian nguy, khó lòng địch nổi với giặc, cụ Nguyễn gom mọi người lại bảo: Ta tổ chức mọi người đi đánh giặc, giờ ta cho phép mọi người được tự do về với gia đình, còn ta quyết sống chết với quân thù một trận cuối cùng.
Ta không thể vì lý do gì mà đầu hàng quân giặc, ai cùng lòng với ta thì hãy xách gươm đứng dậy, chúng ta đi”. Số nghĩa quân còn khỏe mạnh sau trận ác chiến ở bến đồn không quá 20 người, tất cả cùng đi với cụ. Trong trận chiến đấu này cụ tả xung hữu đột, chặt biết bao đầu giặc, cuối cùng cụ bị thương nặng, bất tỉnh, bị giặc bắt...”.

Lễ giỗ cụ Nguyễn Trung Trực tại TP Rạch Giá là ngày hội lớn của người dân miền Tây - nh: Tấn Thái


Trong khi đó ông Trần Lam, người cũng từng là giám đốc Sở Văn hóa - thông tin tỉnh Kiên Giang, trước khi về làm phó chủ tịch tỉnh, có cách lý giải khác: Khi đối phương dùng thủ đoạn bắt, giết hại dần những người dân Phú Quốc để buộc cụ xuất hiện, cụ Nguyễn Trung Trực đã chủ động ra đối mặt với kẻ thù. Đối mặt chứ không phải “nạp mình”, không phải “ra hàng” để cầu sự sống cho riêng mình.
Đó là thái độ của người quân tử, dám chịu trách nhiệm, dám đối mặt với kẻ thù để dùng cái chết của mình khích lệ tinh thần nhân dân. Những câu nói bất hủ của cụ khi đối mặt với kẻ thù ở khám lớn Sài Gòn, thái độ hiên ngang của cụ khi ra pháp trường ở Rạch Giá chẳng phải đã chứng minh cụ đã thắng kẻ thù trong trận chiến cuối cùng đó sao!
Một nhà nghiên cứu lịch sử ở Kiên Giang khi nghe chuyện này đã nói: “Nghĩ kỹ hai cách nhìn khác nhau, nhưng cùng xuất phát từ tình cảm hậu thế dành cho người anh hùng: chỉ biết kính phục, chỉ biết ngợi ca, chỉ biết noi gương ông”.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, ngoài đình Nguyễn Trung Trực (TP Rạch Giá) là nơi tổ chức cúng giỗ quy mô lớn nhất vào ba ngày (26 đến 28-8 âm lịch), tại nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau cũng có nhiều đình, đền thờ tổ chức cúng giỗ cụ Nguyễn Trung Trực, nhưng vào các ngày 12-9 và 16 đến 17-10 (âm lịch). Việc cúng giỗ khác ngày vì các nơi chưa thống nhất ngày ông mất theo âm lịch (ngoại trừ 10-3 là ngày ông ra đi cứu nước).
2. Trung tâm TP Rạch Giá có tượng đài Nguyễn Trung Trực và công viên mang tên cụ. Lúc 4-5 giờ sáng, mấy ông bà lão đến dâng hương trước khi đi thể dục. Các chị bán hàng ở đường Duy Tân, Huỳnh Tịnh Của, Đinh Tiên Hoàng, Hùng Vương... dù bận cỡ nào cũng ghé qua bày đĩa trái cây, cắm mấy cành hoa tươi trước khi dọn hàng. “Sắp tới giỗ cụ rồi, tui tính chiều nay về sớm vô đình coi đồ ăn, thức uống cái gì còn thiếu để góp thêm một tay cùng bà con” - chị Hoa, bán trái cây bên Trung tâm thương mại Rạch Giá, nói.

Nắng lên, khách du lịch, vãng lai ngày một đông, xếp thành vòng cung trước bàn thờ khói hương nghi ngút. Trưa, mấy chiếc xe 15, 24 chỗ mang biển số nhiều nơi trong mọi miền đất nước đến đỗ ở đầu công viên, thả khách lên viếng cụ. Cứ thế hôm nào cũng vậy, từ rạng sáng tới 20-21g đêm không lúc nào ngớt người đến viếng, thành kính dâng hương trước tượng đài cụ.
Cách đó non cây số, cạnh trụ sở UBND tỉnh Kiên Giang, đình Nguyễn Trung Trực còn rộn rịp gấp mấy lần. Theo các kỳ lão trong ban bảo vệ đình, ngôi đình này có trước năm 1852, ban đầu thờ Nam Hải đại tướng quân (cá voi). Khi cụ Nguyễn Trung Trực hi sinh, trong tình thế bị Pháp khủng bố, ngăn cấm, người dân không thể thờ công khai nên đã lén đưa linh vị ông vào thờ cùng thần Nam Hải.
Một chi tiết thú vị là trong khi Pháp ra sức trấn áp các cuộc khởi nghĩa và lòng dân tưởng nhớ cụ Nguyễn, có một viên chức người Pháp tên là Le Nestour làm việc tại Sở Thương chánh tỉnh Rạch Giá, đóng gần đình Nam Hải, tỏ ra rất mến mộ cụ Nguyễn Trung Trực. Năm 1881, khi nghe ban hương chức làng bàn định việc xây dựng lại ngôi đình để thờ Nguyễn Trung Trực và thần Nam Hải, Le Nestour liền hưởng ứng bằng cách đóng góp nhiều tài vật và tham gia ban xây dựng đình. Đến năm 1964, đình được đại tu xây dựng lần thứ hai và chính thức lấy tên “Đình thờ Nguyễn Trung Trực”.
Lần này có hai người mang họ Nguyễn là kiến trúc sư tài ba Nguyễn Văn Lợi và thầu khoán Nguyễn Văn Vui vì kính phục cụ Nguyễn mà bỏ công sức vô góp với dân. Về sau đình không chỉ thờ tự vị anh hùng dân tộc, mà còn tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo ở các tỉnh miền Tây. Từ sáng đến đêm, đình không lúc nào ngớt người đến dâng hương và trị bệnh.
3. Mấy hôm nay ông Bùi Văn Thành (Ba Thành, trưởng tiểu ban y tế - xã hội, ban bảo vệ đình Nguyễn Trung Trực) tất bật lo việc tiếp nhận củi, gạo, rau quả, đậu hũ do người dân các nơi mang đến chuẩn bị các buổi cơm chay phục vụ khách thập phương trong ba ngày lễ (23 đến 25-9). “Năm ngoái bà con mang tới 71.200kg gạo, 229.660kg rau quả các loại, 7.012kg đậu nành, 1.250 cây nước đá, 1.352m2 củi, 300 bao trấu... Nhờ đó đã có đủ thực phẩm làm cơm tiếp đãi hơn 700.000 lượt khách đến dâng hương cụ Nguyễn” - ông Ba Thành cho hay.
Đáng chú ý nhất là xưa nay lễ giỗ anh hùng Nguyễn Trung Trực đều do nhân dân đóng góp và tổ chức. Tất cả là sản phẩm “cây nhà lá vườn”, ai có gì mang nấy. Hôm chúng tôi đến, còn hơn tuần nữa mới vào chính giỗ, đã thấy mấy gia đình từ Ba Thê (xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, An Giang) chạy ghe cả nửa ngày đường, mang theo giạ gạo và mấy mụt măng vừa xắn trong vườn sang góp vào bếp ăn của đình. Một học sinh mặc đồng phục Trường THPT Nguyễn Trung Trực (TP Rạch Giá) chở đến bao đậu nành to bằng cái cặp, thưa: “Mẹ con gửi cúng ông cố”, rồi đạp xe đi vội... Người này đi, người khác tới, kho thực phẩm dành cho ngày giỗ cụ Nguyễn cứ đầy dần lên.
Dù ai buôn bán gần xa
Ngày giỗ cụ Nguyễn thì ta cứ về
Hằng năm, mấy trăm ngàn lượt người tựu về trong ba ngày lễ mà không phải lo chi chỗ ăn, chỗ ở. Ăn thì đã có gần 5.000 công quả (người phục vụ trong đình) lo. Ở thì cứ mái hiên, sân đình, hoặc ngay trên ghe đậu ở sông Kiên và mé biển Rạch Giá - nơi ngày xưa cụ Nguyễn hội quân tập kích Kiên Giang thành. Có thể nhiều người không quá khó khăn để tìm cho mình một bữa ăn, một chỗ nghỉ tốt hơn ở chợ Rạch Giá. Nhưng mọi người đến với cụ Nguyễn là đến bằng tấm lòng, ví như ở xa lâu ngày mới về thăm viếng ông bà mình vậy, nên không ai muốn phải rời xa phạm vi ngôi đình thờ tự cụ.
“Bây giờ ở miền Tây rất nhiều gia đình treo ảnh cụ Nguyễn Trung Trực cạnh bàn thờ gia tiên, coi cụ như một thành viên cửu huyền thất tổ của mình. Trong tâm thức của nhiều người, cụ đã hóa thần, vị thần luôn phù trợ, mang đến điều lành cho mọi người” - nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hữu Hiệp (An Giang) nói. Cụ đã chính là một phần trong tâm thức của người Việt vậy!
TẤN ĐỨC

Người anh hùng làng chài - Kỳ 4: Bảy ghe sáu gánh

TT - Việc tìm ra hài cốt cụ Nguyễn và đưa về lập mộ ở đình Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá, Kiên Giang) đã đưa đến một phát hiện mới: tại hai xã Tân Tiến và Tân Đức, huyện Đầm Dơi (Cà Mau) có hàng trăm hậu duệ cụ Nguyễn Trung Trực đang sinh sống. Song thân cụ Nguyễn và các em của cụ cũng được an táng ở đây.


Ông Lê Văn Thành, 82 tuổi, cháu đời thứ tư của cụ Nguyễn, ở xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, thắp nhang trên bàn thờ ông cố cả của mình - Ảnh: Tấn Đức


Ước nguyện dòng họ

Các tài liệu lịch sử ghi nhận Nguyễn Trung Trực chỉ có một con trai với bà Lê Kim Định (bà quan lớn tướng).
Khi vừa sinh con, bà quan lớn tướng lâm bệnh, qua đời (mộ hiện nay còn ở xã Cửa Cạn, Phú Quốc). Đêm đêm, Nguyễn Trung Trực một mình ôm con chưa đầy tháng vượt vòng vây của giặc, vào làng xin cho con bú thép.
Pháp truy bắt gắt gao, cách ly Nguyễn Trung Trực khỏi dân làng. Đường cùng, ông ôm con đặt vào một bọng cây, với hi vọng có người phát hiện cứu đứa bé, rồi quay lại chiến đấu cho tới lúc bị thương, sa vào tay giặc (có tài liệu nói ông tự mình ra đối mặt với giặc để cứu dân làng khỏi chết oan).
“Hồi tôi mới biết đọc, biết viết đã nghe má căn dặn mấy anh tôi: Ông cả Trực của tụi con vì đánh Tây mà bị chặt đầu ở Rạch Giá, dòng họ phải bỏ xứ Tân An vô Tà Niên (Rạch Giá) rồi về Đầm Dơi. Sau này nước nhà độc lập, con cháu phải ráng tìm cho ra xương cốt cụ cố cả mang về đây sum họp với ông bà. Dặn vậy, nhưng ở tuổi ngoài 80, má lại là người đầu tiên biết tin tỉnh Kiên Giang tìm ra di hài và lập mộ cụ tại đình Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá” - ông Trần Trung Thiện (Chín Thiện, 62 tuổi), con thứ 9 của bà Nguyễn Thị Sử ở ấp Tân Long A, xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi (Cà Mau), nhớ lại.

Thật ra từ trước năm 1945 bà Ba Sử (sinh năm 1908, mất năm 2004) đã biết ở Rạch Giá, cạnh dinh tỉnh trưởng có đền thờ cụ Nguyễn lớn lắm, nhưng hồi ấy còn chiến tranh, việc đi lại rất gian nan, từ Đầm Dơi đi tàu qua tới Rạch Giá có khi mất mấy ngày. Sau giải phóng miền Nam bà cũng đã nhiều lần dẫn con cháu sang cúng viếng cụ Nguyễn.
Bẵng đi một thời gian, tới khoảng đầu năm 1987, trong một lần sang cúng cụ, bà Ba Sử ngỡ ngàng khi nhìn thấy ở góc trái sân đình có ngôi mộ rất uy nghi (mộ lập xong ngày 15-11-1986). Đọc dòng chữ trên bia, biết sự tình, bà sụp xuống khóc nức nở. Thấy sự lạ, khách hành hương bái viếng đình thần cụ Nguyễn kéo tới xem rất đông.
Vụ việc được cấp báo lên ban bảo vệ di tích đình thần và ngành văn hóa tỉnh Kiên Giang. Đích thân bà Nguyễn Thị Mỹ Thu, giám đốc Bảo tàng tỉnh Kiên Giang, đã đưa đoàn công tác về gặp gỡ cháu chắt cụ Nguyễn Trung Trực ở hai xã Tân Tiến, Tân Đức, huyện Đầm Dơi, sưu tầm các tài liệu, hiện vật liên quan tới họ hàng cụ Nguyễn.
Tại cuộc hội thảo khoa học “Thân thế và sự nghiệp anh hùng Nguyễn Trung Trực” do tỉnh Kiên Giang tổ chức (tháng 8-1988) nhân 120 năm ngày mất của cụ, thông tin được công bố khiến những người sùng kính cụ Nguyễn trong cả nước không khỏi bất ngờ.
Cuộc di cư đặc biệt
Tại Cà Mau, chúng tôi tìm đến nhà ông Trần Văn Chính (Năm Nống, 92 tuổi) ở ấp Tân Đức, xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi. Ông là hậu duệ đời thứ ba và là nhân chứng duy nhất từng sống gần gũi hai người em ruột của Nguyễn Trung Trực là bà Nguyễn Thị Đào (bà ngoại ông) và ông Nguyễn Văn Thơ (ông út) trong thời gian khá dài.
Khi bà ngoại và ông út qua đời, ông Năm Nống đã 14, 15 tuổi nên vẫn còn nhớ nhiều chuyện ngoại và ông út kể về ông cả Nguyễn Trung Trực.
Trong căn nhà cổ kính bên con rạch Tân Đức, ông Năm Nống đưa chúng tôi trở lại thời khai hoang lập làng: “Bà ngoại tôi thuật lại sau khi ông cả Nguyễn Trung Trực bị Tây hại ở Rạch Giá, để tránh sự truy sát của giặc, ông Nguyễn Văn Phụng (cha Nguyễn Trung Trực) cùng với các ông cai Thoại, cai Kiển và nghĩa quân còn sống sót ở bãi luyện quân Tà Niên (Rạch Giá) hội ý, “Bảy ghe sáu gánh họ” đồng nhổ sào kéo buồm chạy ra biển tìm nơi lánh giặc. Họ Nguyễn đông nhất, đi trên hai ghe, còn lại năm kiến họ: Lâm, Lê, Trần, Trương, Trịnh mỗi họ đi một ghe, mỗi ghe đâu chừng 15, 20 người, nhắm hướng đồng hoang, rừng rậm mà chèo vô...”.
Theo lời kể của ông Năm Nống, gia tộc Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân cũng là những người đầu tiên khai phá vùng đất Tân Tiến, Tân Đức (Cà Mau).
Ngày ấy, “bảy ghe sáu gánh họ” sau khi rời Tà Niên thì cứ đi mãi từ ngày này qua ngày nọ mà chưa thấy nơi nào ưng bụng. Khi tới cửa Bồ Đề (Đầm Dơi) thấy con rạch nhỏ, hai bên cây cối rậm rạp, chưa có dấu chân người đã tấp vô. Đoàn người dựng dãy nhà ở chung, đùm bọc nhau qua ngày bằng nghề ăn ong (lấy mật ong), đặt nò, đắp bọng bắt cá tôm mang ra chợ Cà Mau bán cho thương buôn người Hải Nam, Triều Châu (Trung Quốc), rồi mua gạo, muối, quần áo, nồi niêu về dùng.
Đến năm 1872, mấy ông kỳ lão ra Cà Mau đổi hàng, thấy Tây lố nhố, sợ bị phát hiện tông tích, vội quay về nhổ sào, phá bụp dừa nước tiếp tục lần vô rừng sâu. Tới doi đình bây giờ thì không đi đặng nữa mới vác đồ lên bờ, vẹt rừng tìm chỗ khô ráo cất nhà sàn cao chót vót để ngừa cọp, cá sấu tấn công. Thấy có nhiều hóc sậy, máng chim lớn dữ dội nên hè nhau gọi là Đầm Chim cho dễ nhớ.
Khi xóm có nhà đông đúc, mọi người góp sức cất một ngôi đình, đặt tên là đình Tân An để vọng nhớ cố hương Tân An phủ. Năm 1946 Tây vô lấy đình làm bót, bị hậu duệ cụ Nguyễn đánh bật ra, bà con sợ chúng quay lại bèn phá luôn ngôi đình.
Tính đến nay, qua gần 150 năm sinh cư lập nghiệp trên vùng đất mới, hậu duệ cụ Nguyễn Trung Trực đã phát triển đến đời thứ 9, thứ 10, với hàng ngàn người sinh sống, tập trung tại hai xã Tân Tiến, Tân Đức thuộc huyện Đầm Dơi (Cà Mau). Trong số đó cả trăm người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, người nghỉ hưu, người vẫn đang công tác trong các ban ngành từ cấp huyện đến cấp tỉnh.
Dù đi đâu, làm gì, đến ngày giỗ ông Nguyễn Văn Phụng 20-11 âm lịch hằng năm, mọi người lại tựu về để tưởng nhớ tổ tông.
TẤN ĐỨC
_______________________
Anh hùng Nguyễn Trung Trực đã hóa thần trong lòng dân tộc. Bao truyền thuyết về ông vẫn không ngừng được kể. Hằng năm từ ngày 26 đến 28-8 (âm lịch) hàng trăm người khắp nơi lại về Rạch Giá để tưởng nhớ ông.

Người anh hùng làng chài - Kỳ 3: Trong ngôi mộ cổ

TT - Truyền thuyết về Nguyễn Trung Trực thật phong phú, riêng nơi Pháp chôn cất ông lại càng có nhiều lời đồn đoán khác nhau. Có người nói: “Sau khi thi hành án chém, Pháp chôn ông Nguyễn thân một nơi, đầu một chỗ, vì lo sợ nghĩa quân sẽ cướp xác”.
Lại có ý kiến: “Gia đình cụ Nguyễn đã lo cho tên đao phủ Bòn Tưa hai nén bạc để hắn xuống nhẹ tay, đầu không lìa khỏi cổ và sau đó giặc đã chôn cụ trong khu vực tòa bố (tòa hành chính) Kiên Giang”...

Lễ cải táng di hài người anh hùng Nguyễn Trung Trực về đình tại TP Rạch Giá, Kiên Giang năm 1986 - Ảnh: Nguyễn Văn Thuận.


Bí ẩn dưới gốc đa
Sau năm 1975, tỉnh Kiên Giang đã đặt ra yêu cầu tìm mộ Nguyễn Trung Trực. Ông Trần Lam (Bảy Lam), nguyên phó chủ tịch UBND tỉnh, nhớ lại: “Năm 1979 tôi về làm giám đốc Sở Văn hóa - thông tin, anh Hai Huỳnh (Lê Minh Huệ), lãnh đạo tiền nhiệm, lúc bàn giao công việc đã dặn đi dặn lại: Anh em cố gắng thu thập các thông tin truyền khẩu trong dân gian và các tài liệu lưu trữ của Pháp để tìm cho bằng được mộ cụ Nguyễn Trung Trực. Đó là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta”.
Để thực hiện yêu cầu này, Sở Văn hóa - thông tin Kiên Giang đã lập đội công tác, chia thành nhiều nhóm. Nhóm ở thị xã Rạch Giá, theo dư luận truyền khẩu “giặc chôn cụ Nguyễn dưới gốc đa gần tòa bố”, đã tiến hành khảo sát khu vực khuôn viên tòa hành chánh, xung quanh cây đa phía sau dinh tỉnh trưởng kéo dài tới giáp lộ qua khám lớn, và khu vực cây đa phía trước dinh tỉnh trưởng đến giáp lộ qua ngân hàng...
Suốt một thời gian dài tìm kiếm, đào thăm dò nhưng các nhóm khảo sát vẫn không phát hiện dấu tích gì. “Một bữa, sở đang tổ chức cuộc họp đánh giá kết quả công việc, mọi người đều căng thẳng vì mấy năm rồi mà chưa tìm được mộ cụ Nguyễn thì anh Sơn Nam từ ngoài cổng bước vô. Tôi biết anh từng có nhiều công trình sưu khảo về cụ Nguyễn Trung Trực nên hỏi cầu may: Anh xuống chỉ tụi tôi mộ cụ Nguyễn hả”, ông Bảy kể. Nhà văn Sơn Nam có vẻ ngạc nhiên, đáp: “Ủa, tưởng mấy ông biết rồi. Trước năm 1945 tôi làm thơ ký ở tòa bố Rạch Giá, có lần tình cờ biết chỗ Tây chôn cụ Nguyễn. Tôi còn nhớ chỗ đó ở sau tòa bố, cạnh cây đa lớn và đống gạch cũ...”.
Sau khi nghe nhà văn Sơn Nam nói, ông Bảy Lam đã cho ngừng cuộc họp, nhờ dẫn ra chỉ mộ ngay. Hơn 40 năm rồi nhà văn Sơn Nam mới quay lại nơi này. Cây đa ngày trước đã bị đốn, còn trơ lại cái gốc to, có mấy nhánh mọc lên. Nhưng cạnh đó, đồn lính cũ bằng đá do Pháp cất vẫn còn, nên nhà văn không khó để xác định vị trí ngôi mộ đã ăn sâu vào ký ức. Ông chỉ ngay vào phiến đá hình vòng cung, dài khoảng 1m, khẳng định: “Đây là mộ bia, phía dưới là di hài cụ Nguyễn Trung Trực”. Thấy nhà văn Sơn Nam chỉ, nhiều thành viên có mặt lúc ấy đã không khỏi sửng sốt vì trước đây do không biết, có người đã vô tình bó gạch, tráng ximăng làm chuồng nuôi heo ngay trên nền mộ.
Lúc 13 giờ ngày 19-4-1986, đội khai quật bắt đầu công việc. Sau bốn tiếng tỉ mẩn tìm kiếm từng nắm đất trong lòng huyệt mộ dài trên 2m, rộng 1m, sâu 1,8m, thu được một hộp xương sọ đã bể, ba cái răng mòn vẹt, một đốt xương cổ ở vị trí sát hộp sọ, một số xương sườn và xương ống chân. Không có thêm gì ngoài mấy miếng gỗ mục nát dùng để đóng quan tài.
Ngay tại hiện trường, đội khai quật gồm tám người, trong đó có nhà nhân chủng học - khảo cổ học Nguyễn Trung Khá, cán bộ Ủy ban Khoa học TP.HCM, đã đưa ra nhận xét bước đầu: “Đây là bộ xương tộc Việt, đàn ông, khoảng 40 tuổi. Người này cao khoảng 1,6m, đã chôn trên 100 năm. Người này ăn trầu và có lẽ nghèo vì mộ bằng đất, hàng bằng gỗ tạp và không có vật lễ mang theo...” (trích biên bản khai quật được lập lúc 17g ngày 19-4-1986).
Những bức thư nặng tình
Dựa vào những luận cứ có tính khoa học khi phân tích hài cốt, đồng thời tham khảo, đối chiếu những thông tin truyền khẩu trong dân gian, tỉnh Kiên Giang đã kết luận đây là hài cốt cụ Nguyễn Trung Trực và quyết định di dời về đình Nguyễn Trung Trực (TP Rạch Giá). Ngày 15-11-1986, ngôi mộ mới, khang trang hoàn thành trước nhà Tây lan, bên trái đình Nguyễn Trung Trực.
Vậy là sau 118 năm (1868-1986) thăng trầm dâu bể, xương cốt người anh hùng dân tộc mới được tìm thấy và đưa về nơi trang nghiêm. “Làm được việc này, bà con mình xúc động lắm. Nhiều người ở xa đến quỳ trước mộ cụ thắp hương mà cứ khóc ròng như người thân đi xa lâu ngày mới gặp lại” - ông Bùi Văn Thành, ủy viên ban bảo vệ đình Nguyễn Trung Trực, cho biết.
Ông Bảy Lam trầm tư: “Việc tìm mộ coi vậy chứ “sóng gió” lắm. Có người đã gửi thư tới các cơ quan cấp tỉnh nói rằng đó là mộ của người Tây nào đó, chứ không phải mộ cụ Nguyễn. Tôi nghĩ những ý kiến này nọ có lẽ xuất phát từ tình cảm sùng kính dành cho cụ, cũng như có những truyền khẩu khác nhau về nơi an táng cụ. Đó là trăn trở chính đáng và tỉnh Kiên Giang hồi ấy đã giải quyết rất cẩn trọng trên tinh thần dựa vào những luận cứ khoa học, cũng như tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn”.
Một trong những luận cứ mà chúng tôi tiếp cận được là “tờ cam kết” viết tay của nhà văn Sơn Nam đề ngày 15-10-1986, nguyên văn như sau: “Tôi ký tên dưới đây là Phạm Minh Tày, nhà văn bút hiệu Sơn Nam, tác giả quyển Nguyễn Trung Trực, anh hùng dân chài in tại Sài Gòn vào năm 1959.
Năm 1943-1944, tôi có làm thơ ký ở tòa bố Rạch Giá, vì thế mà tôi có tìm hiểu về Nguyễn Trung Trực, nhất là nơi chôn hài cốt. Tên phó tham biện bấy giờ là Roger Lucas có nhà riêng ở khuôn viên tòa bố nói nhiều lần với tôi rằng xác của Nguyễn Trung Trực chôn ở sát bên Tòa bố, tức là chỗ mà tôi đã chỉ rõ để khai quật. Tòa bố thời Pháp, từ năm 1880 về sau xây không chính xác đúng nền tòa bố cũ.
Vì vậy, tòa bố sau có vách đá kiểu đồn lính, lại sát kề bên mộ. Giặc giữ xác Nguyễn Trung Trực sát đồn, sợ trường hợp nghĩa quân lén đào xới, đem chôn nơi khác rồi khởi nghĩa lần nữa. Hoặc nghĩa quân cho rằng người bị giặc chém là Nguyễn Trung Trực giả, chẳng dám công khai để xác nhận sự thật. Thời Mỹ, một tên tỉnh trưởng đã cho lính thăm dò và mời tôi đến ăn lễ, tôi từ chối không đến. Xin trình với Sở Văn hóa - thông tin Kiên Giang những điều tôi biết và hoàn toàn chịu trách nhiệm”.
Cố giáo sư Trần Văn Giàu và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng khi được hỏi ý kiến về việc này đã bày tỏ tâm huyết qua bức thư viết chung đề ngày 8-1-1989, lúc đang giữ nhiệm vụ chủ tịch và phó chủ tịch Hội đồng khoa học xã hội TP.HCM. Thư có đoạn: “Có điều kiện, có lý do để các đồng chí ở Kiên Giang xác định di hài đó là của Nguyễn Trung Trực. Điều kiện thì có, tuy không đủ. Không đủ nhưng đã có tối thiểu. Không đủ thì còn có thể điều tra, khảo sát, nghiên cứu thêm cho đến khi nào có bằng cớ là không phải thì ta sẽ nhận định lại. Còn bây giờ hãy xem đó là di hài của ông Nguyễn Trung Trực và không được làm gì có thể làm giảm bớt lòng tôn kính của nhân dân với vĩ nhân lịch sử”.
TẤN ĐỨC
-------------------------------------------
Tìm ra di hài cụ Nguyễn và đưa về lập mộ ở đình Nguyễn Trung Trực (TP Rạch Giá, Kiên Giang) đã dẫn tới phát hiện mới về hậu duệ của cụ tại huyện Đầm Dơi, Cà Mau

Người anh hùng làng chài - Kỳ 2: Nghĩa khí xóm Nghề

TT - Xóm Nghề, nơi sinh ra người anh hùng làng chài Nguyễn Trung Trực, nay thuộc ấp 1, xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, Long An. Gọi xóm Nghề vì ngày trước cư dân ở đây chuyên sống bằng nghề đặt đáy, chài lưới, lái rổi (mua bán cá đường sông).

Ván tàu Espérance tại nhà trưng bày di tích chiến thắng Nhựt Tảo (xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, Long An) - Ảnh: T.Đức



Trải qua bao thăng trầm lịch sử, thế hệ cháu chắt của Nguyễn Trung Trực giờ sinh cư lập nghiệp khắp nơi, nhưng vẫn còn đó hàng chục gia đình từ đời này qua đời khác vẫn bám trụ trên mảnh đất thiêng. Tôi tìm đến nhà ông Nguyễn An Thọ (Mười Thọ, 72 tuổi), cháu đời thứ 4 của Nguyễn Trung Trực...
Người dân chài hào hiệp
Ông Mười Thọ dẫn tôi vòng qua con kênh nhỏ phía sau nhà, lần ra mé sông Bến Lức. “Nội tôi kể hồi xưa ghe thương hồ miệt dưới thường theo sông Vàm Cỏ Tây băng qua kênh Thủ Thừa, sông Bến Lức để vô Sài Gòn - Chợ Lớn. Cách xóm Nghề này không xa còn có bến đò Bình Nhựt, trạm thu phí đường sông, đối diện bên kia là chợ Phước Tú, hàng quán trù mật. Bối (từ xưa gọi trộm cướp đường sông - PV) tứ xứ tập trung về.
Họ thường chặn ghe tàu đi qua bắt phải cống nạp, hoặc đương đêm thình lình từ dưới sông trồi lên trấn lột tiền của, cưỡng hiếp đàn bà con gái. Dân thương hồ mỗi khi đến đoạn sông này đều phải tập hợp số đông chớ không dám đi riêng lẻ...” - ông Mười Thọ kể.
Theo truyền ngôn trong dòng họ, Nguyễn Trung Trực sinh vào khoảng năm 1838, lúc nhỏ có tên là Chơn, từ năm 1859 mới đổi sang tên Nguyễn Văn Lịch. Tuổi thiếu niên Nguyễn Trung Trực đã nối nghiệp cha, ông nội làm nghề chài lưới và có thời gian làm bạn nghề cho ông Trần Ngọc Tới (ông nội của hội đồng Trần Ngọc Lân ở Bến Lức sau này).
Rồi ông được cha cho đi học cả văn lẫn võ với một người thầy ở kênh Bảo Định. Thấy tính tình ông cương trực, thẳng thắn, hay giúp đỡ mọi người nên thầy mới đặt thêm cho ông tên Nguyễn Trung Trực. Ban ngày các môn sinh chia nhau đi làm ruộng, săn bắn, bắt cá, tối mới tập trung lại văn ôn võ luyện.
Nhờ bơi giỏi, lại rành nghề sông nước nên Nguyễn Trung Trực được thầy giao việc bắt cá. Là môn sinh xuất sắc nhất nên Nguyễn Trung Trực luôn được thầy cử đi giao lưu, thi triển võ công khắp các võ đường. Nơi nào ông đến đăng đài, các đối thủ đều dạt ra, không ai dám nghênh đấu.
Ông Mười Thọ cũng thuật lại câu chuyện lưu truyền tại xóm Nghề mà các bậc cao niên hay kể cho con cháu: ngày đi chài lưới, đêm Nguyễn Trung Trực và các bạn thường ngụy trang bằng cách lấy đất sét trét lên người, ẩn mình hàng giờ trên mé sông, hễ thấy có bối xuất hiện cướp ghe thuyền thì ra tay nghĩa hiệp.
Đám bối Bình Trinh Đông do cặp vợ chồng có tục danh “ông Hớn bà Hở” một thời làm mưa làm gió vậy mà đành thúc thủ, dạt qua nhập với bối Ba Cụm (gần Chợ Đệm, huyện Bình Chánh, TP.HCM bây giờ). Nguyễn Trung Trực truy đuổi tới nơi, cải tà quy chánh gần hết. Những người này về sau đã tham gia nghĩa binh, cùng ông đánh chìm tàu Espérance trên vàm sông Nhựt Tảo.

Chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực
Ông Mười Thọ biết nhiều chuyện liên quan tới cụ Nguyễn vì được cha và bác kể lại. Cha ông Mười Thọ, ông Nguyễn Văn Chỉnh (Tám Còn), gọi Nguyễn Trung Trực là ông chú, từng làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã Bình Nhựt. Ông Mười Thọ còn có người bác ruột là nhà sư Thích Thiện Nghiêm (tục danh Nguyễn Văn Cậy), trụ trì chùa Sùng Đức, Q.11, TP.HCM. Đây là những người có uy tín lớn trong dòng họ, có lúc được giao trọng trách gìn giữ áo mão và ấn tín của Nguyễn Trung Trực sau khi cụ bị Pháp hành hình tại Rạch Giá.
Những năm 1958-1961 ông Mười Thọ từ Bình Nhựt lên Sài Gòn học, ở trọ tại chùa Sùng Đức. Ông kể: “Khoảng đầu năm 1958, một phái đoàn ký giả và những người viết sử từ Pháp sang chùa Sùng Đức gặp sư Thích Thiện Nghiêm để tìm hiểu xem bằng cách nào nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã tấn chiếm và đốt chìm tàu Espérance lừng lững án ngự trên vàm sông Nhựt Tảo. Sau buổi tiếp xúc, một người Pháp đã bật lên: “Nếu Trung Quốc có Quan Vân Trường thì Việt Nam có Nguyễn Trung Trực”. Câu nói đó luôn vang vọng bên tai ông Mười Thọ suốt hơn 50 năm qua!
Địa linh sinh nhân kiệt

Gia phả của hậu duệ Nguyễn Trung Trực tại Long An cũng như nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực đều ghi: Nội của Nguyễn Trung Trực là Nguyễn Văn Đạo, quê gốc tại xóm Lưới, xã Vĩnh Hội (nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải), huyện Phù Cát (Bình Định), khi khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra đã đưa gia quyến vào khai cơ lập nghiệp tại xóm Nghề, nay thuộc ấp 1, xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức (Long An).
Xưa, xóm Nghề thuộc vùng đất xung yếu trong vành đai bảo vệ thành Gia Định, án ngữ thủy lộ quan trọng thông thương giữa miền Đông và miền Tây, nhất là sau khi đào kênh Thủ Thừa nối liền hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Bởi thế nơi đây từng xảy ra nhiều cuộc giao tranh khốc liệt giữa quân đội Nguyễn Ánh và Tây Sơn.
Người dân ở đây vốn là hậu duệ của những lưu dân miền Trung buổi đầu vào “phá sơn lâm, đâm hà bá”, mang trong mình một truyền thống cần cù, quật khởi. Họ nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên bao la hùng vĩ, tạo nên một phong cách hào sảng trọng nghĩa khinh tài đặc trưng của Nam bộ. “Địa linh sinh nhân kiệt.
Vùng đất hào khí ven bờ sông Vàm Cỏ Đông đã hun đúc tính cách anh hùng lý tưởng của Nguyễn Trung Trực: chí hiếu với cha mẹ, sớm có lòng yêu nước và có tài năng quân sự tuyệt vời” - ông Nguyễn Văn Thiện, phó giám đốc Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa tỉnh Long An, người đã dành nhiều tâm sức tìm hiểu về cuộc đời và thân thế Nguyễn Trung Trực, đúc kết.
Về tính cách “anh hùng tự thiếu niên” của Nguyễn Trung Trực, tác giả Nguyễn Văn Khoa trong quyển Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực - NXB Trẻ TP.HCM ấn hành năm 2001 cũng cung cấp tư liệu đáng chú ý: “Năm 18 tuổi Nguyễn Trung Trực đã đệ đơn lên quan trấn thủ tỉnh Định Tường là Ngô Xuân Liêm để xin lập đạo nghĩa quân chống giặc cướp bảo vệ xóm làng nhưng đơn bị bác.
Ông đến Long Hồ để xin lần nữa, viên trấn thủ ở đây chấp thuận, ông trở về quê chiêu tập quân sĩ. Hai người đầu tiên sát cánh với ông, sau này tham gia trận đánh tàu Espérance trên vàm sông Nhựt Tảo là Nguyễn Văn Hổ và Lê Thị Kiệt. Sau đó thêm một người là quản cơ Lê Đình Vận, người gốc miền Trung, gia đình cùng di cư vào Nam với Nguyễn Trung Trực đã quy tụ được 200 chiến sĩ, phần lớn là thanh niên miền Trung và giao cho ông điều khiển”.
Lần giở lại các tư liệu lịch sử, chúng ta cũng biết Nguyễn Trung Trực đã đem đội quân này gia nhập nghĩa binh của Trương Định và được phong làm quyền sung quản binh đạo. Sau trận đại đồn Chí Hòa (tháng 2-1861) ông đã theo Trương Định rút về huyện Cửu An (Tân Trụ, Thủ Thừa, Đức Huệ ngày nay) chỉ huy nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Các tài liệu lịch sử chính thống cũng ghi nhận trước khi đánh trận Nhựt Tảo, vào ngày 10-4-1861, Nguyễn Trung Trực đã chỉ huy nghĩa quân tập kích, diệt gọn hơn 30 binh lính và sĩ quan do trung tá Bourdair chỉ huy định đổ bộ lên bờ kênh Bảo Định để chiếm thành Định Tường.
Đây là chiến công vang dội của người anh hùng làng chài.
TẤN ĐỨC
___________________
Hành trình tìm kiếm ngôi mộ người anh hùng của hậu thế sau 120 năm sự kiện cụ bị giặc Pháp sát hại

Người anh hùng làng chài

TT - Việc tìm ra hài cốt cụ Nguyễn và đưa về lập mộ ở đình Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá, Kiên Giang) đã đưa đến một phát hiện mới: tại hai xã Tân Tiến và Tân Đức, huyện Đầm Dơi (Cà Mau) có hàng trăm hậu duệ cụ Nguyễn Trung Trực đang sinh sống. Song thân cụ Nguyễn và các em của cụ cũng được an táng ở đây.


Ông Lê Văn Thành, 82 tuổi, cháu đời thứ tư của cụ Nguyễn, ở xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, thắp nhang trên bàn thờ ông cố cả của mình - Ảnh: Tấn Đức


Ước nguyện dòng họ

Các tài liệu lịch sử ghi nhận Nguyễn Trung Trực chỉ có một con trai với bà Lê Kim Định (bà quan lớn tướng).
Khi vừa sinh con, bà quan lớn tướng lâm bệnh, qua đời (mộ hiện nay còn ở xã Cửa Cạn, Phú Quốc). Đêm đêm, Nguyễn Trung Trực một mình ôm con chưa đầy tháng vượt vòng vây của giặc, vào làng xin cho con bú thép.
Pháp truy bắt gắt gao, cách ly Nguyễn Trung Trực khỏi dân làng. Đường cùng, ông ôm con đặt vào một bọng cây, với hi vọng có người phát hiện cứu đứa bé, rồi quay lại chiến đấu cho tới lúc bị thương, sa vào tay giặc (có tài liệu nói ông tự mình ra đối mặt với giặc để cứu dân làng khỏi chết oan).
“Hồi tôi mới biết đọc, biết viết đã nghe má căn dặn mấy anh tôi: Ông cả Trực của tụi con vì đánh Tây mà bị chặt đầu ở Rạch Giá, dòng họ phải bỏ xứ Tân An vô Tà Niên (Rạch Giá) rồi về Đầm Dơi. Sau này nước nhà độc lập, con cháu phải ráng tìm cho ra xương cốt cụ cố cả mang về đây sum họp với ông bà. Dặn vậy, nhưng ở tuổi ngoài 80, má lại là người đầu tiên biết tin tỉnh Kiên Giang tìm ra di hài và lập mộ cụ tại đình Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá” - ông Trần Trung Thiện (Chín Thiện, 62 tuổi), con thứ 9 của bà Nguyễn Thị Sử ở ấp Tân Long A, xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi (Cà Mau), nhớ lại.

Thật ra từ trước năm 1945 bà Ba Sử (sinh năm 1908, mất năm 2004) đã biết ở Rạch Giá, cạnh dinh tỉnh trưởng có đền thờ cụ Nguyễn lớn lắm, nhưng hồi ấy còn chiến tranh, việc đi lại rất gian nan, từ Đầm Dơi đi tàu qua tới Rạch Giá có khi mất mấy ngày. Sau giải phóng miền Nam bà cũng đã nhiều lần dẫn con cháu sang cúng viếng cụ Nguyễn.
Bẵng đi một thời gian, tới khoảng đầu năm 1987, trong một lần sang cúng cụ, bà Ba Sử ngỡ ngàng khi nhìn thấy ở góc trái sân đình có ngôi mộ rất uy nghi (mộ lập xong ngày 15-11-1986). Đọc dòng chữ trên bia, biết sự tình, bà sụp xuống khóc nức nở. Thấy sự lạ, khách hành hương bái viếng đình thần cụ Nguyễn kéo tới xem rất đông.
Vụ việc được cấp báo lên ban bảo vệ di tích đình thần và ngành văn hóa tỉnh Kiên Giang. Đích thân bà Nguyễn Thị Mỹ Thu, giám đốc Bảo tàng tỉnh Kiên Giang, đã đưa đoàn công tác về gặp gỡ cháu chắt cụ Nguyễn Trung Trực ở hai xã Tân Tiến, Tân Đức, huyện Đầm Dơi, sưu tầm các tài liệu, hiện vật liên quan tới họ hàng cụ Nguyễn.
Tại cuộc hội thảo khoa học “Thân thế và sự nghiệp anh hùng Nguyễn Trung Trực” do tỉnh Kiên Giang tổ chức (tháng 8-1988) nhân 120 năm ngày mất của cụ, thông tin được công bố khiến những người sùng kính cụ Nguyễn trong cả nước không khỏi bất ngờ.
Cuộc di cư đặc biệt
Tại Cà Mau, chúng tôi tìm đến nhà ông Trần Văn Chính (Năm Nống, 92 tuổi) ở ấp Tân Đức, xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi. Ông là hậu duệ đời thứ ba và là nhân chứng duy nhất từng sống gần gũi hai người em ruột của Nguyễn Trung Trực là bà Nguyễn Thị Đào (bà ngoại ông) và ông Nguyễn Văn Thơ (ông út) trong thời gian khá dài.
Khi bà ngoại và ông út qua đời, ông Năm Nống đã 14, 15 tuổi nên vẫn còn nhớ nhiều chuyện ngoại và ông út kể về ông cả Nguyễn Trung Trực.
Trong căn nhà cổ kính bên con rạch Tân Đức, ông Năm Nống đưa chúng tôi trở lại thời khai hoang lập làng: “Bà ngoại tôi thuật lại sau khi ông cả Nguyễn Trung Trực bị Tây hại ở Rạch Giá, để tránh sự truy sát của giặc, ông Nguyễn Văn Phụng (cha Nguyễn Trung Trực) cùng với các ông cai Thoại, cai Kiển và nghĩa quân còn sống sót ở bãi luyện quân Tà Niên (Rạch Giá) hội ý, “Bảy ghe sáu gánh họ” đồng nhổ sào kéo buồm chạy ra biển tìm nơi lánh giặc. Họ Nguyễn đông nhất, đi trên hai ghe, còn lại năm kiến họ: Lâm, Lê, Trần, Trương, Trịnh mỗi họ đi một ghe, mỗi ghe đâu chừng 15, 20 người, nhắm hướng đồng hoang, rừng rậm mà chèo vô...”.
Theo lời kể của ông Năm Nống, gia tộc Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân cũng là những người đầu tiên khai phá vùng đất Tân Tiến, Tân Đức (Cà Mau).
Ngày ấy, “bảy ghe sáu gánh họ” sau khi rời Tà Niên thì cứ đi mãi từ ngày này qua ngày nọ mà chưa thấy nơi nào ưng bụng. Khi tới cửa Bồ Đề (Đầm Dơi) thấy con rạch nhỏ, hai bên cây cối rậm rạp, chưa có dấu chân người đã tấp vô. Đoàn người dựng dãy nhà ở chung, đùm bọc nhau qua ngày bằng nghề ăn ong (lấy mật ong), đặt nò, đắp bọng bắt cá tôm mang ra chợ Cà Mau bán cho thương buôn người Hải Nam, Triều Châu (Trung Quốc), rồi mua gạo, muối, quần áo, nồi niêu về dùng.
Đến năm 1872, mấy ông kỳ lão ra Cà Mau đổi hàng, thấy Tây lố nhố, sợ bị phát hiện tông tích, vội quay về nhổ sào, phá bụp dừa nước tiếp tục lần vô rừng sâu. Tới doi đình bây giờ thì không đi đặng nữa mới vác đồ lên bờ, vẹt rừng tìm chỗ khô ráo cất nhà sàn cao chót vót để ngừa cọp, cá sấu tấn công. Thấy có nhiều hóc sậy, máng chim lớn dữ dội nên hè nhau gọi là Đầm Chim cho dễ nhớ.
Khi xóm có nhà đông đúc, mọi người góp sức cất một ngôi đình, đặt tên là đình Tân An để vọng nhớ cố hương Tân An phủ. Năm 1946 Tây vô lấy đình làm bót, bị hậu duệ cụ Nguyễn đánh bật ra, bà con sợ chúng quay lại bèn phá luôn ngôi đình.
Tính đến nay, qua gần 150 năm sinh cư lập nghiệp trên vùng đất mới, hậu duệ cụ Nguyễn Trung Trực đã phát triển đến đời thứ 9, thứ 10, với hàng ngàn người sinh sống, tập trung tại hai xã Tân Tiến, Tân Đức thuộc huyện Đầm Dơi (Cà Mau). Trong số đó cả trăm người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, người nghỉ hưu, người vẫn đang công tác trong các ban ngành từ cấp huyện đến cấp tỉnh.
Dù đi đâu, làm gì, đến ngày giỗ ông Nguyễn Văn Phụng 20-11 âm lịch hằng năm, mọi người lại tựu về để tưởng nhớ tổ tông.
TẤN ĐỨC
_______________________
Anh hùng Nguyễn Trung Trực đã hóa thần trong lòng dân tộc. Bao truyền thuyết về ông vẫn không ngừng được kể. Hằng năm từ ngày 26 đến 28-8 (âm lịch) hàng trăm người khắp nơi lại về Rạch Giá để tưởng nhớ ông.

Khi thuốc trị tăng huyết áp gây ho

TT - Thuốc nói chung ngoài dùng để chữa bệnh và phòng bệnh đều có thể gây tác dụng phụ. Riêng người bệnh tăng huyết áp cần đi khám bệnh để bác sĩ chẩn đoán và giúp lựa chọn thuốc thích hợp (hiện có đến bảy nhóm thuốc được dùng).


Một số thuốc trị tăng huyết áp có thể gây ho khan  - Ảnh: N.C.T.


Nếu người bệnh được bác sĩ chỉ định cho dùng một trong ba nhóm thuốc sau có thể bị tác dụng phụ là ho khan.
Vì sao ho?
Thuốc thứ nhất thuộc nhóm ức chế men chuyển, gồm: captopril, enalapril, benazepril, lisinopril...). Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên men chuyển angiotensin (angiotensin converting enzyme, viết tắt ACE). Chính ACE xúc tác mà chất sinh học có trong cơ thể là angiotensin I biến thành angiotensin II, gây co thắt mạch làm tăng huyết áp. Nếu ACE bị thuốc ức chế sẽ không sinh ra angiotensin II và có hiện tượng giãn mạch, làm hạ huyết áp.
Thuốc ức chế men chuyển gây ho khan vì ACE không chỉ xúc tác biến angiotensin I thành angiotensin II, mà còn có vai trò trong sự phân hủy chất sinh học khác có tên bradykinin, nếu thuốc ức chế ACE, bradykinin không được phân hủy ở mức cần thiết sẽ thừa gây kích thích ho ở đường hô hấp. Thuốc ức chế men chuyển có thể gây ho khan và kéo dài ở 5-35% bệnh nhân dùng thuốc này. Đây là thuốc trị tăng huyết áp gây ho đáng kể, không tùy thuộc liều lượng (tức uống liều thấp vẫn bị) và thường làm người bệnh bỏ thuốc.
Thuốc thứ hai có thể gây ho khan thuộc nhóm thuốc chẹn bêta, gồm: propranolol, pindolol, nadolol, timolol, metoprolol, atenolol... Cơ chế của thuốc là ức chế thụ thể bêta giao cảm ở tim mạch, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Đa số thuốc chẹn bêta không chỉ ức chế thụ thể bêta-1 chọn lọc tác động trên tim mạch mà còn ức chế thụ thể bêta-2 gây co thắt phế quản. Cho nên nhiều thuốc chẹn bêta ngoài hạ huyết áp có thể gây phản xạ ho (do co thắt phế quản, lưu ý người bị hen suyễn cũng vì thế không được dùng thuốc chẹn bêta). Tỉ lệ bị ho do dùng thuốc chẹn bêta ít hơn so với thuốc ức chế men chuyển.
Nhóm thuốc thứ ba có thể gây ho khan là thuốc chẹn kênh calci (còn gọi thuốc đối kháng calci), gồm: nifedipin, nicardipin, amlodipin, felidipin, isradipin, verapamil, diltiazem... Cơ chế của thuốc là chặn dòng ion calci không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu gây giãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. Cơ chế gây ho của nhóm thuốc này chưa được biết rõ ràng.
Tỉ lệ bị ho do dùng thuốc chẹn calci rất thấp, khoảng 1-6%. Đặc biệt, đây là thuốc thường phối hợp với thuốc ức chế men chuyển trị tăng huyết áp nên phản xạ ho gây ra bởi thuốc phối hợp chứ không phải do thuốc chẹn kênh calci. Tuy nhiên, tác dụng phụ gây ho của thuốc chẹn calci cũng cần ghi nhận để thông tin cho bệnh nhân hầu tránh việc bỏ thuốc.
Xử trí thế nào?
- Ho có thể do thuốc nhưng cũng có thể do nguyên nhân khác. Vì vậy, thử tìm nguyên nhân vì sao bị ho (có thể bị cảm lạnh hay nguyên nhân nào khác...), trường hợp ho nhiều có thể dùng thuốc trị ho thông thường trong vài ngày, nếu sau vài ngày không đỡ ho nên đến bác sĩ khám chữa bệnh tăng huyết áp trước đây kể rõ triệu chứng ho. Không nên tự ý bỏ thuốc trị tăng huyết áp đang dùng (người bị tăng huyết áp rất cần dùng thuốc đều đặn để kiểm soát, nếu ngưng dùng thuốc, huyết áp tăng vọt rất nguy hiểm).
- Nếu bác sĩ xác định ho do thuốc sẽ cho thay thuốc ức chế men chuyển đang dùng gây ho bằng thuốc mới gọi là thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (như losartan, valsartan, irbesaetan, candesartan...). Hoặc người bệnh bị ho bởi thuốc chẹn bêta, bác sĩ sẽ thay thế thuốc, dùng thuốc chọn lọc chẹn bêta-1 (như atenolol, metoprolol, pisoprolol...) và cho dùng liều thấp nhất có hiệu quả. Đối với thuốc chẹn kênh calci gây ho, có khi bác sĩ thay thế bằng thuốc nhóm khác thích hợp. Ngoài việc thay thế thuốc, bác sĩ còn thực hiện các biện pháp làm giảm các yếu tố tiềm tàng kích thích phản xạ ho ở đường hô hấp.
PGS.TS NGUYỄN HỮU ĐỨC
(ĐH Y dược TP.HCM)