Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Phở nhớ

TTXuân - Vâng, nhớ tô phở với những lát thịt mỏng, với nước dùng đậm đà bốc khói. Nỗi nhớ cồn cào sau những ngày lang thang nơi xứ Mỹ quá ngán với những món ăn nhanh xa lạ khó quen khó nuốt.
.
Nỗi nhớ mãnh liệt đến độ vừa ra khỏi sân bay Tân Sơn Nhất, đối mặt với đường phố Sài Gòn ồn ào và bụi bặm, trên đường về nhà, tôi đã vội ghé vào quán phở. Tâm trạng này được nhiều chia sẻ đồng cảm. Ông bạn một chiều chia tay ở Paris đã dặn dò: Ờ, phải rồi, xuống máy bay là phải “chơi” ngay tô phở. Ăn giùm phần mình luôn nhé. À, mà phải là phở tàu bay!
Tôi đã chỉ thực hiện được một nửa yêu cầu đó: một tô phở, nhưng không phải là phở tàu bay.
Tại sao lại phở tàu bay? Tôi chưa có dịp hỏi lại anh. Nhưng tôi đã có một câu trả lời khác từ bà cụ 75 tuổi ở Mỹ về. Ra khỏi sân bay, đường phố về khuya cửa hàng đều đã đóng cửa, bà cụ hỏi con trai: “Tiệm phở “bà Năm” còn không anh? Còn hả, vậy thì tốt quá, sáng sớm mai cho mẹ ra đó ăn phở nhé”.
Con trai cụ, anh bạn tôi, trong một lần “cà phê đàm” về đề tài phở kể lại câu chuyện này và giải thích: “Hồi tôi bé tí, nhà nghèo đông con, cả tháng ba mẹ tôi mới dắt con ra tiệm ăn phở một lần. Đó là ngày đi chơi rất vui. Tiệm phở “bà Năm” là tiệm phở quen, ngon và ăn no. Tô phở đó đi vào kỷ niệm gia đình tôi, mẹ tôi nhớ nó là thế!”.
À, tiệm phở quen. Có lẽ nhiều người trong chúng ta khi đã ghiền món phở thì đều có vài tiệm phở quen. Quen từ chỗ ngồi đến... người bán phở, quen đến độ chỉ cần gặp mặt người bán đã biết rồi: “tái chín, nước trong”. Hôm rồi, ngồi ăn ở quán phở quen, vô tình nghe cô chủ quán nói về một ông khách quen để trả lời một ông khách quen khác: “Ổng mới về hưu rồi, còn khỏe lắm”.
Chắc ông khách này phải là “khách hàng thân thiết” lắm, cỡ vài chục năm, khi còn là một vị cán bộ đương chức. Chợt bật cười, thì mình có kém gì đâu? Tôi nhớ phải hơn hai chục năm trước, khi còn là anh sinh viên với chiếc xe đạp hay tuột sên thì đã ngồi xì xụp tô phở tái chín với nước béo vàng óng (lúc đó chưa có... kiêng “gút”, sợ mỡ trong máu) tại quán phở này.
Thời đó còn nghèo khó lắm, tô phở với tôi là một bữa tiệc thịnh soạn chỉ có thể thực hiện được với tiền “viện trợ” của thằng bạn thân từ Pháp, và tất nhiên không phải thường xuyên. Hồi đó, vài tháng, nó mới chắt mót từ tiền học bổng và làm thêm gửi về cho nhóm bạn vài hộp thuốc ho, thuốc cảm để bán lấy tiền ăn phở, uống cà phê. Một hộp thuốc ho bán tại chợ trời thuốc tây giúp tôi được bốn tô phở. Cái “tỉ giá” ấy kéo dài suốt mấy năm đại học.
Đến giờ tôi vẫn còn nhớ cái “cảm xúc” của buổi sáng có món tiền bán thuốc lận lưng, tự tin bước vào quán phở gọi một tô đặc biệt có nhiều nước béo và thêm một quả trứng gà. Nước phở béo ngậy, ngọt lịm, miếng thịt bò mềm, cọng bánh phở trắng mịn, cộng với vài miếng ớt đỏ, và tô phở như thế đã được gã sinh viên nghèo chén sạch sẽ!
Gần chục năm sau, gặp lại nhau trên đất Pháp, nhắc lại những hộp thuốc ho và tô phở, hai thằng đầu chớm bạc cười mà mắt đỏ hoe. Thì ra tô phở ngon để mà nhớ mãi đâu chỉ vì phở, mà còn vì nó mang theo biết bao kỷ niệm, hồi ức, chứa đựng bao nhiêu tình cảm. Các quán phở góc đường này cũng đã thay đổi nhiều, bà chủ năm nào già yếu rồi (giờ người bán là cô con gái, con dâu) và tôi cũng đã... già rồi, cậu sinh viên hăng hái năm nào nay đã là lão viên chức đầu bạc mệt mỏi chờ về hưu.
Có lẽ vài năm nữa, tôi cũng sẽ được nhắc đến như thế: “À, chú ấy về hưu rồi!”. Nhưng dù vậy thì tô phở ở cái quán này, với tôi, vẫn là tô phở ngon với bao kỷ niệm đẹp, để không thể nào quên, để đi đâu rồi cũng nhớ trở về... “làm” một tô “tái chín, nước trong” (giờ thì hết dám ăn nước béo)!
Tô phở như thế có thể gọi là... tô phở nhớ. Đã có quán phở quen thì hẳn sẽ có tô phở nhớ. Ba tôi, khi đã là một ông chủ đi xe hơi, vẫn tìm đến quán phở bình dân có tô phở “nhiều bánh, ít thịt và... ghi sổ”. Bởi ở đó, ông tìm lại được tô phở hồi ức của một thời nghèo khó từ đất Quảng Nam vào Sài Gòn lập nghiệp, làm phụ hồ, tiền lương chẳng bao nhiêu mà còn phải lo cho cả gia đình.
Tô phở đó tuy chỉ dám “đụng” tới vài lần hiếm hoi trong tháng, nhưng cũng đã đủ gắn kết thâm tình người bán - người mua, để ông chủ hàng phở thương tình anh phụ hồ mà nặng thêm tay bánh, thêm vài lát thịt mỏng và cho... ghi sổ. Câu chuyện về tô phở nhớ này tôi được nghe ba tôi kể lại khi ông đã tám mươi, lúc tuổi già đã làm bộ nhớ lộn xộn lắm rồi, vậy mà ông vẫn nhớ đến từng chi tiết về tô phở đó ngon thế nào, chỗ ngồi quen ở quán phở đó và những kỷ niệm buồn vui với ông chủ quán.
Tôi nghiệm ra những kỷ niệm thời khốn khó luôn làm ta nhớ lâu, nhớ hoài, và khi nhớ lại với chút bùi ngùi rưng rưng, ta luôn cảm thấy lòng mình chợt nhẹ nhàng hạnh phúc. Những tô phở nhớ hình như thường gắn với những quán phở nghèo, với một đoạn đời lam lũ. Tôi đồ rằng có lẽ những tô phở bò Kobe bạc triệu sẽ khó thể làm ta nhớ lâu nhớ mãi như thế!
Nhớ phở. Nỗi nhớ cồn cào. Nỗi nhớ da diết. Nỗi nhớ hạnh phúc. Đâu chỉ là nỗi nhớ về một món ăn ngon, hay ăn, thường ăn. Đâu chỉ là nỗi nhớ chốn quán xá thân quen, nơi thường đến, quen chân đến. Đó còn là nỗi nhớ về những kỷ niệm, là hồi ức về những gương mặt, câu chuyện đời người. Trong những lúc rong chơi đây đó xứ lạ quê người, cứ mỗi độ chiều về, tôi thường hay nhớ về bữa cơm chiều.
Với nhiều người Việt, bữa cơm chiều là bữa cơm sum họp, mọi người quây quần bên mâm cơm có thể còn đạm bạc nhưng vẫn hạnh phúc. Nhớ về bữa cơm chiều, lòng người tha hương (dù chỉ vài ngày du lịch) như tôi cũng thấy đôi chút... cô đơn.
Và cũng như thế, mỗi buổi sáng nơi xứ người đối mặt với thịt hun khói, bánh mì bơ mứt... thiệt ngán ngẩm, tôi hay nhớ về những buổi sáng với tô phở bốc khói nơi quán quen. Rồi lòng dặn lòng ngày mai, tuần sau khi về, buổi sáng đầu tiên nhất định sẽ dành cho phở.
Câu chuyện về phở, nỗi nhớ phở, có lẽ các bạn cũng có, với độ đậm nhạt, sắc màu, hình tướng cũng khác nhau. Đây chỉ là câu chuyện tản mạn, nỗi nhớ lan man của riêng tôi, khi cuối năm trời trở gió, ngồi đong đếm buồn vui. Mong là nỗi nhớ phở này sẽ gợi cho các bạn những nỗi nhớ khác, nhớ từ bún bò cho đến cơm tấm, xôi đậu phộng...
Cứ nhớ đi, mà nhớ được, để rồi rưng rưng, bùi ngùi là hạnh phúc thôi! 
AN ĐỖ
------------------------
TTXuân - Phở trên núi - tất nhiên sẽ phải ăn ở trên núi. Thường các phiên chợ hay lễ hội của đồng bào vùng cao hay được tổ chức trên một triền núi rộng lớn, xung quanh là không gian bát ngát mây trời, nắng gió mênh mang.
Quán phở trên núi ở Tráng Kìm, Hà Giang  - Ảnh:  Thủy Trần
Chợ phiên hay lễ hội không phải ngày nào cũng có, chợ một tuần một phiên, hay nhanh nhất cũng phải ba, năm ngày mới lặp lại.
Lễ hội xuống đồng, thu hoạch hay mừng xuân mới mỗi năm chỉ mở một lần, nhiều cũng chỉ hai, ba ngày liên tục. Bởi thế, không giống như dưới xuôi, muốn ăn phở giờ nào đi ra phố là có, “phở trên núi” với khách du lịch chỉ dành cho người có duyên, với người dân địa phương, ai “nhớ” phở cũng phải chờ đến chợ hay đến hội.
Chính thời gian đợi chờ ấy đã làm món phở trên núi trở nên hấp dẫn và gọi mời hơn, nâng cao giá trị thưởng thức của phở, cho dù đó chỉ là một món ăn dân dã, rẻ tiền.
Thành phần chính của phở - như mọi miền - gồm bánh phở và nước dùng. Khác nhau ở cách chế biến và nêm nếm gia vị. Trước đây, khi giao thông còn khó khăn, trắc trở thì bánh phở luôn được chủ quán miền núi tráng bằng tay. Gạo nương ngâm kỹ dùng cối đá xay thành bột mịn, bột được pha loãng rồi tráng đều trên mặt vải của nồi hấp, hấp chín bằng hơi nước.
Bánh phở gỡ ra được phơi khô tự nhiên và thái tay thủ công. Ngày nay, các chủ quán hàng đều dễ dàng mua bánh phở được tráng bằng dây chuyền tự động. Tuy vậy, có đôi chỗ đồng bào vẫn quyết không từ bỏ bánh phở tráng tay như quán phở ở Tráng Kìm (Cán Tỷ, Quản Bạ, Hà Giang).
Đi chơi chợ hay đi hội của đồng bào miền cao, thú nhất là được ngồi quây quần bên bếp lò ấm áp, ngắm nhìn nồi nước dùng béo ngậy đang sôi lục bục, được ninh từ sáng sớm với xương lợn, xương bò và hít hà hương vị của gừng, quế, hồi, thảo quả.
Đồng bào dân tộc ở Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu ăn phở với thịt gà, thịt lợn, với dưa cải mèo xắt nhỏ muối chua, với tương tàu xị nâu sánh và chút tương ớt cay xè đỏ rực. Nước dùng còn được chế thêm nước muối dưa chua có vị thanh thanh. Từ con trẻ đến người già, đàn bà hay đàn ông, thiếu nữ hay thanh niên, ai cũng có một gương mặt háo hức và hân hoan khi ngồi trong hàng phở.
Dân địa phương ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang lại có món phở chua phức tạp hơn với nguồn nguyên liệu phong phú, có thịt ba chỉ rán, thịt vịt quay, gan, tóp mỡ, hành phi trộn lẫn với các loại rau sống, lạc rang và một thành phần đặc biệt quyết định độ ngon của phở: nước xốt chua ngọt thay vì nước dùng (nước lèo).
Cái không gian quán phở trên núi mới thật trữ tình. Bàn ghế mộc mạc được lắp ghép từ những thanh gỗ thô sơ, thậm chí nhiều cạnh còn chưa được bào cho mịn. Cầu kỳ thì có một khung tre dựng tạm dùng che nắng che mưa bằng vải bạt, không thì cứ ngồi đó thôi, thênh thang giữa đất trời.
Bếp nấu ngay gần chỗ ngồi ăn, với một bàn chế biến giản dị, có dao, thớt, rau dưa hành tỏi, một hai con gà luộc và dăm súc thịt lợn, thịt bò, có thể đã luộc chín hoặc được treo bồ hóng tự rất lâu rồi. Người vùng cao rất hay, tôi nhớ có lần trong lễ hội say sán ở Sín Chéng (Simacai, Lào Cai), tôi đã nài nỉ suốt cả buổi mà người chủ quán nhất định không bán cho con gà, bà bảo để còn bán phở chứ!
Có những món ăn trong đời khiến ta nhớ mãi. Như món phở trên núi tôi từng thưởng thức trên đỉnh Pha Long (Mường Khương, Lào Cai).
THỦY TRẦN

Vang danh hủ tiếu đất phương Nam

TTXuân - Đất phương Nam nắng nóng gần như quanh năm. Do đó, người Nam bộ rất ưa chuộng các món ăn có nước như canh, hủ tiếu (nước thuộc về âm, giúp cơ thể cân bằng âm dương). Trong đó, vang danh thiên hạ vẫn là món hủ tiếu (hủ tíu).
Hủ tiếu Mỹ Tho
Theo Văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ (*), hủ tiếu là món ăn của người Triều Châu và Phúc Kiến do nhóm Vương Ngạn Địch đưa đến Mỹ Tho vào nửa cuối thế kỷ 17 và nhanh chóng phổ biến ra các tỉnh miền Tây Nam bộ. Trong quá trình giao thoa văn hóa, món hủ tiếu (tiếng Tiều phát âm là củi tiếu) lần hồi không còn là món ăn đặc thù của người Hoa mà đã trở thành món ăn chung của người Việt.
Theo dòng thời gian, nhờ có bàn tay tài hoa và lịch lãm của người Việt và người Hoa đã làm cho món hủ tiếu trở thành món ăn mỹ vị và ngày càng phổ biến sâu rộng ở vùng đất phương Nam.
Hủ tiếu đất Sài Gòn: bản hòa tấu phong vị
Hủ tiếu Sài Gòn là món ăn đa phong cách, được chế biến thành nhiều kiểu cách khác nhau, từ hủ tiếu nước, hủ tiếu khô, hủ tiếu chiên giòn cho đến hủ tiếu xào, hủ tiếu nấu canh… món nào cũng có đẳng cấp. Trong đó có thể nói quán ăn “lưu động” hủ tiếu gõ là một trong những “phương tiện” làm rạng danh hủ tiếu miền Nam từ đầu đường đến cuối hẻm. 
Cũng như đặc trưng tính cách người dân Nam bộ, hủ tiếu Sài Gòn dù gốc gác từ hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho hay hủ tiếu Trung Hoa… đều có chung chất “dung hòa” cũng như nhạy bén với việc cách tân. Như cọng hủ tiếu dai Nam Vang là một biến thể thú vị từ những người Phúc Kiến trong quá trình di cư về phía Nam với nguyên liệu chính là bột gạo thay mì.
Và thay cho tô hủ tiếu Nam Vang truyền thống chỉ có thịt heo bằm và xắt miếng thì ở đất Sài Gòn nó được gia vị thêm tim, gan, bao tử, tôm và trứng cút, phần rau cũng hấp dẫn hơn với cần, tần ô, giá, hẹ. Hủ tiếu Trung Hoa của người Hoa ở Chợ Lớn thì quan trọng là nước xúp phải ngọt tự nhiên, nấu bằng xương ống, mực vừa ngọt vừa béo. Phần xương xúp gọi là “xí quách” là món khoái khẩu của dân nhậu.
Hủ tiếu Mỹ Tho ở Sài Gòn cũng vậy, lại có thêm tôm, mực, hải sản, hoặc nổi tiếng với thương hiệu hủ tiếu Cả Cần, trong đó khác biệt và độc đáo nhất vẫn là món hủ tiếu khô với thịt bằm, thịt lát, tôm luộc và xá xíu với loại nước sốt chua ngọt và tô nước dùng sườn non không đâu sánh bằng.
Mà đâu đã hết, để thỏa mãn cái chất phóng khoáng của người đồng bằng, còn rất nhiều biến tấu khác của hủ tiếu ở đất Sài Gòn. Dễ dàng tìm món hủ tiếu độc đáo khác như hủ tiếu phá lấu, hủ tiếu bò viên, bò kho, hủ tiếu cà ri, hủ tiếu sa tế, hủ tiếu cá, và gần đây thêm cả hủ tiếu dê! Song, mỗi loại hủ tiếu vẫn còn giữ được những nét đặc trưng. Rồi từ món hủ tiếu đặc trưng lại có thêm món hủ tiếu mì, hủ tiếu xào, hủ tiếu xào giòn.
Ở Sài Gòn, có thể ăn hủ tiếu ở bất kỳ hàng quán nào, thậm chí một xe hủ tiếu mì ngay vỉa hè. Nhưng với những người có tuổi hay những người Việt xa quê, nhắc tới hủ tiếu Sài Gòn thì ký ức vẫn in đậm các quán hủ tiếu Nam Vang ở đường Võ Văn Tần (quận 3), An Dương Vương, Nguyễn Trãi (quận 5-6)… Cũng như nói tới hủ tiếu Mỹ Tho là người ta nhắc ngay tới quán hủ tiếu Cả Cần ở góc đường Nguyễn Tri Phương - Hùng Vương (quận 5).
Hoặc muốn ăn hủ tiếu sa tế thì phải vô tận quận 5, hỏi cho được mấy quán ở khu vực cầu Chà Và hoặc đường Dương Đình Nghệ - Hàn Hải Nguyên (quận 11)…
Về nghệ thuật chế biến, mỗi hàng quán đều có gu riêng. Nhiều chủ quán đã biến tấu và không ngừng cải tiến món ăn, sử dụng nguyên liệu sao cho hợp với khẩu vị của du khách mọi miền. Có người nấu với cá thịt, tôm thịt, tôm cua, gà; có khi lại sử dụng tổng hợp vừa thịt vừa hải sản. Nhưng với những người sành điệu, một quán hủ tiếu muốn níu kéo thực khách “ghiền ăn”, chủ quán phải là một nghệ nhân, biết chăm chút cho nồi nước lèo.
Có thể nói nếu bánh hủ tiếu là miếng ngon khoái khẩu thì nước lèo được coi là cái hồn của tô hủ tiếu. Do đó, nồi nước lèo đi kèm với hủ tiếu phải được hầm với thịt ống, xương tủy hầm rục, thêm mực nướng, tôm chấy mỡ giúp cho nồi nước thơm ngây ngất, ngọt lịm.
Về rau cải ăn kèm, mỗi quán ăn đều có sở trường khác nhau. Có nơi dùng sà lách, cần tây, tần ô, cải cúc, có nơi lại thêm rau ghém, giá sống… cùng cái mùi vị Nam bộ không lẫn vào đâu được là mùi tỏi phi thơm lừng hoặc vắt thêm miếng chanh đủ để làm cho món ăn thăng hoa, tạo ra hương vị rất riêng.
Ăn hủ tiếu Nam Vang tại một quán hủ tiếu ở Q.3, TP.HCM - Ảnh: T.T.D.
Tiếng tăm bánh hủ tiếu Mỹ Tho
Với những người sành điệu ẩm thực ở Mỹ Tho, sở dĩ hủ tiếu xứ này nổi tiếng từ hơn nửa thế kỷ qua là nhờ bánh hủ tiếu được làm từ gạo Gò Cát tại xã Mỹ Phong. Gò Cát là vùng đất có con kênh từ Mỹ Tho chảy ngang qua, dẫn tới Chợ Gạo, sáu tháng mặn, sáu tháng ngọt nên hạt lúa mùa trồng nơi đây mang hương vị đặc trưng, hơn hẳn gạo nơi khác, giống như gạo nàng thơm Chợ Đào, chỉ có làng Mỹ Lệ mới tạo ra được hạt gạo thơm ngon tuyệt vời.
Gạo Gò Cát sau khi chế biến thành phẩm, sợi hủ tiếu dẻo, trong, ngọt, không chua. Ông Ba Thuận, gia đình đã ba đời làm nghề hủ tiếu, khẳng định: “Hủ tiếu làm bằng các loại gạo khác, chất lượng sẽ thua kém xa gạo Gò Cát. Nhưng hiện nay, do làng nghề phát triển mạnh, gạo sản xuất không đủ dùng nên bà con đã bắt đầu tìm những giống gạo có chất lượng tương tự để pha chế”.
Qua trải nghiệm ăn uống, nhiều thợ nấu trứ danh ở miền Tây đã biến thể nấu chung hủ tiếu với mì thành hủ tiếu mì, khô hoặc nước. Nếu là hủ tiếu mì khô sẽ được thêm một chén nước lèo vừa ăn vừa húp thật thú vị. Một số đầu bếp thường gia giảm gia vị tùy theo ngón nghề gia truyền.
Tô hủ tiếu Mỹ Tho luôn được chăm chút với thịt lát, gan heo, cật, tim hoặc tôm sú và vài miếng xá xíu đỏ hồng, thêm ít cải bắc thảo, tất cả hòa quyện vào nhau, chỉ nhìn thôi cũng đã phát thèm. Người ăn chỉ cần nhấm nháp những sợi hủ tiếu dai dai, giòn giòn, rồi chậm rãi húp từng muỗng nước mới cảm nhận hết các tinh tế, ngọt thanh và đậm đà ý nhị của miếng ngon miền Tây.
Bằng cách chọn lựa nguyên liệu và gia vị, cộng thêm bàn tay khéo léo của người thợ nấu, đặc biệt là nghệ thuật thưởng thức, món hủ tiếu miền Nam nói chung đã xứng đáng đi vào kho tàng văn hóa ẩm thực dân gian.
(*) Văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ - Trần Ngọc Thêm chủ biên, NXB Văn Hóa Văn Nghệ - 2013.
Ông Nguyễn Văn Thuận, người vinh dự nhận được bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích thi đua sản xuất kinh doanh hủ tiếu Mỹ Tho, cho biết làng nghề bánh, bún, hủ tiếu Mỹ Phong hiện nay hoạt động rất nhịp nhàng, tất cả cơ sở đều được trang bị hệ thống dây chuyền sản xuất nhưng chỉ đủ giao cho một số nhà hàng, quán ăn quen thuộc trong tỉnh và một vài tỉnh bạn như Long An, Bến Tre.
Đặc biệt hủ tiếu Mỹ Tho chỉ tiêu thụ trong vòng 24 giờ, để lâu mùi vị sẽ mất ngon. Do vậy, đặc sản này chỉ tiêu thụ trong bán kính gần, không thể đi xa. Nhằm quảng bá thương hiệu, năm 2008, bà con ở làng nghề mang hủ tiếu Mỹ Tho đến nấu ra mắt tại Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao tại TP Long Xuyên (An Giang), được nhiều người ca ngợi ngon hơn hủ tiếu Sa Đéc và hủ tiếu Nam Vang.

VŨ VI - HOÀI VŨ

 Hủ tiếu dê

PNO - Nếu so với thịt bò, thịt heo và thịt gà thì món ăn từ dê ít được phổ biến hơn. Và món hủ tiếu dê lại càng hiếm, ngay tại Sài Gòn, món này chỉ có thể tìm thấy cho bữa điểm tâm sáng tại một vài quán… lẩu dê.

Món hủ tíu dê trông vừa bắt mắt, vừa ngon
Có lẽ do mùi thịt dê quá nồng nên nhiều người, nhất là phụ nữ không ưa thích. Thậm chí tại rất nhiều tỉnh thành, không thể tìm một quán chuyên bán thịt dê. Còn tại các thành phố lớn như TP.HCM, các quán lẩu dê không khó tìm, nhưng quán chuyên phục vụ món hủ tíu dê thì rất hiếm.
Thông thường những quán lẩu dê chỉ phục vụ từ bữa ăn trưa đến tối, trong khi đó món hủ tíu dê được mặc định là món điểm tâm sáng nên chỉ những thực khách thích khám phá ẩm thực hay những “tín đồ” của món dê mới chịu khó lùng sục ra bữa điểm tâm hủ tiếu dê.
Khi thực khách gọi một tô hủ tiếu dê, bao giờ cũng được bưng ra…hai tô. Tô lớn đựng bánh hủ tíu lẫn trong nước soup màu nâu với những lát hành ta xanh mướt phủ bên trên. Tô nhỏ đựng những lát thịt dê bắt mắt, thơm lừng. Bên cạnh đó là chiếc đĩa nhỏ đựng sa tế với tỏi băm nhuyễn. Một hình ảnh không thể thiếu của món hủ tiếu dê là một rổ rau xanh, mà chủ yếu là tía tô.
Bánh hủ tiếu của món ăn này thực ra là phở sợi nhỏ chứ không phải là hủ tiếu vừa dai dòn như hủ tiếu Nam Vang. Những ai thường ăn món lẩu dê sẽ nhận ra sự quen thuộc từ tô hủ tiếu dê. Bởi bánh phở là món ăn kèm không thể thiếu của món lẩu dê.
Khác với hủ tiếu thông thường, nước soup của hủ tiếu dê đặc quánh như mạch nha. Theo đầu bếp chuyên nấu món này, lớp nước sền sệt ấy được tạo nên từ quá trình hầm da và xương dê nhiều giờ liền. Và càng được nấu kỹ thì mùi dê đặc trưng càng trở nên đậm đặc, nên đầu bếp đã cho nhiều hành vào tô hủ tiếu để làm giảm mùi dê. Còn muốn khử mùi lần nữa, nhiều thực khách ngắt nhỏ lá tía tô rồi cho vào chiếc tô nhỏ chứa thịt dê. Đây là cách giảm mùi dê cấp độ hai, đồng thời làm ấm tỳ vị, giúp dễ tiêu hóa.
Lá tía tô vừa giảm mùi thịt dê, vừa giúp dễ tiêu hóa
Với những ai từng “thử” món hủ tiếu dê, thì vị cay của sa tế, mùi thơm của hành, tía tô hòa quyện với mùi thịt dê bùi và thơm tạo thành hương vị rất riêng, khó quên.
Bài và ảnh: Huy Nguyễn

Những quán ngon ở xứ sở bún bò

TTXuân - Ở Huế, hai quán bún bò số 17 và 19 Lý Thường Kiệt là nơi ghé đến của khách du lịch, mở cửa từ sáng đến tối. Còn người Huế thì có cách lựa chọn khác, ở rất nhiều quán bún khắp nơi trong thành phố.
Bún bò mệ Kéo ở Gia Hội - Ảnh: Thái Lộc
Ở đây, hầu như bún bò đều chỉ bán trong buổi sáng, như thể ăn sáng thì đương nhiên là ăn bún bò vậy. Đầu buổi sáng, bún bò mở ra khắp các nẻo đường từ nội thành ra ngoại ô. Bún bò tiệm, bún bò quán, bún bò gánh, bún bò nhà hàng, bún bò vỉa hè, bún bò trên ghe ngày lụt… Có cảm giác như đi đường nào cũng gặp bún bò. Nơi nhiều bún bò là góc phố Trương Định - Phạm Hồng Thái, bún bà Sen, bún bà Thúy, bún bà Lợi, bún bà Hoa…
Loanh quanh khu vực nam sông Hương đã gặp vô số quán đông khách: bún Phượng (đường Nguyễn Khuyến), bún Thủy, bún bà Tuyết, bún bà Mỹ (đường Nguyễn Công Trứ), bún Cẩm (đường Trần Cao Vân), bún trong hẻm 29 đường Hùng Vương. Phía Vỹ Dạ có bún bà Lan dưới gốc cây gòn và bà Đỗ cạnh cây bàng cổ thụ (đường Nguyễn Sinh Cung).
Khách cần ăn bún xương bò thì đến ngã tư Nguyễn Lương Bằng - Tố Hữu. Nếu ăn bún nạc bò và gân bò thì sang đường Lê Duẩn, cạnh cửa Chánh Tây hay quán bà Hiền ở đường Bà Triệu… Có hai gánh bún vỉa hè lúc nào cũng đông khách, một ở ngã ba Hùng Vương - Trương Định và một nằm trên vỉa hè Trương Định phía sau khách sạn Morin. Đến sau 7g, chị chủ thường lắc tay “hết rồi!”.
Ở bờ phía bắc sông Hương có khá nhiều quán bún ngon trên đường Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn hay Phan Đăng Lưu… Ở phố cổ Gia Hội có gánh bún mệ Kéo trên vỉa hè đường Bạch Đằng (gần cầu Gia Hội). Đặc sản của mệ Kéo là bún thịt ba chỉ ăn kèm rau sống có thân cây chuối xắt mỏng, giá bán từ lâu không đổi, mỗi tô 15.000 đồng.
Người Huế ít ăn bún vào buổi chiều, nhưng vẫn có những quán bún đông khách từ 15g30 như bún ông Vọng ở đường Nguyễn Du. Vài năm trở lại đây, quán bún Huế về đêm nở rộ, không chỉ dành cho khách du lịch mà còn cho nhu cầu ăn đêm của người địa phương. Nhiều nhất là dọc đường Hà Nội: bún Mỹ Tâm, bà Gái, bà Hoa 1, 2; rồi thì bà Tuyết trên đường Trần Hưng Đạo, bà Bé đường Nguyễn Sinh Cung, bà Đóa ở đường Mai Thúc Loan…
Làm sao kể hết quán bún bò ở xứ sở bún bò. Kinh nghiệm người sành ăn là nên chọn những gánh bún vỉa hè có đông người địa phương đến ăn. Điều lưu ý đối với khách phương xa là nhớ nhắc người bán về độ cay và lượng nước béo (váng mỡ) sao cho vừa với khẩu vị.
THÁI LỘC
-----------------------
TTXuân - Năm 2001 sang Bỉ công tác, tôi được một gia đình “Huế kiều” mời đến nhà ăn tối. Gia chủ nghĩ tôi xa nhà chắc thèm món Huế nên đãi tôi món bún bò giò heo.
Bún mệ Gái đường Chi Lăng, Huế - Ảnh: Đức Trí
Khi món ăn được dọn ra, tôi hơi ngạc nhiên vì trên tô bún chỉ có vài ngọn rau răm và dăm bảy lát hành tây xắt mỏng, kèm theo chén nước mắm, chanh và tương ớt, không có đĩa rau và giá sống quen thuộc.
Như đoán được thắc mắc của tôi, gia chủ giải thích: “Bún bò chính hiệu Huế xưa là như rứa, chỉ có giò heo và bò bắp, không có bò nhúng và chả cua, có rau răm, hành tây làm gia vị và mấy lát bắp chuối xắt mỏng ăn kèm, không có xà lách và giá sống. Mấy thứ đó là do người đời sau thêm vô”. Tôi tin lời chủ nhân nồi bún bò hôm ấy bởi bà là dân Huế chính gốc và rất rành nữ công gia chánh.
Về Huế, tôi đem chuyện tô bún bò xưa khác với nay như thế nào ra hỏi chị Rơi, người bán bún suốt 40 năm nay trên đất cố đô. Chị nói: “Bà bạn Việt kiều của cậu nói đúng rồi đó. Tô bún bò xưa và nay không giống nhau, cả nguyên liệu, gia vị nêm nếm và rau sống ăn kèm”. Kể từ lúc đó, tôi mới để tâm tìm hiểu về món ăn thân thuộc mà đã có lúc tưởng chừng như mình đã rất “am hiểu”.
Chị Rơi giải thích: “Tô bún bò bán ở Huế thời nay có rất nhiều thứ, nhưng trước đây thường chỉ có thịt heo và bò. Gọi đầy đủ phải là bún bò - giò heo, nhưng người ta hay gọi là bún bò cho gọn. Bò được ưu tiên trong tên gọi vì hai lẽ: nước bún hầm từ xương bò và thịt bò luôn được coi là ngon hơn, quý hơn thịt heo”.
Tô bún Huế ngày trước thường có một khoanh giò heo, thường là “giò búp” với lớp da mỏng mềm bao quanh các thớ thịt săn chắc, hoặc miếng thịt heo ba chỉ. Trên cùng là những lát thịt bò bắp xắt mỏng màu nâu có những đường gân màu vàng như hoa văn điểm tô trên nền gấm.
Sau này, ngoài thịt bò và giò heo, trong tô bún bò Huế còn có thêm thịt bò nhúng (tái), chả heo, chả cua, gân bò... Sợi bún thì nhiều nơi ở Huế làm, nhưng bún ngon có tiếng phải là bún làng Vân Cù cách Huế chừng 10km. Rau sống ăn kèm với bún ngày trước chỉ có bắp chuối xắt mỏng, một ít rau thơm, hành ngò…, nhưng nay thì chủ yếu là xà lách và giá sống.
Bún bò chính hiệu ở Huế cay và ít ngọt. Ngoài cái cay bởi tinh dầu sả và ớt màu trong nồi nước bún, còn cay do tương ớt và ớt trái xắt lát dầm trong chén nước mắm ăn kèm. Đó là chưa kể bà hàng bún còn quen tay rắc thêm tiêu bột lên tô bún còn bốc khói trước khi bưng ra cho thực khách.
Huế có nhiều gánh bún dạo. Từ tờ mờ sáng cho đến xế chiều, nơi nào ở Huế cũng dễ dàng bắt gặp những gánh bún dạo của các mẹ, các chị từ ngoại thành đổ vào. Mỗi gánh bún ngoài những dụng cụ phổ biến như bao gánh hàng rong khác như tô, đũa, muỗng, bếp lò… cần phải có một cái nồi nấu bún. Đó là chiếc nồi có dung tích khoảng 10 lít, dáng tựa cái niêu đất nhưng được làm bằng nhôm.
Theo lời những bà hàng bún kỳ cựu ở cố đô, nồi nấu bún ngày trước được làm bằng đất nung, đáy tròn, cổ eo, miệng loe. Nồi này sâu lòng nhưng nhỏ miệng nên giữ nhiệt rất tốt. Đáy nồi tròn để khi bán gần hết người ta nghiêng nồi cho dễ, khỏi chông chênh trên bếp và đặc biệt là rất dễ múc nước bún, cho dù đó là tô cuối cùng. Đầu thập niên 1960, ở Huế xuất hiện loại nồi tròn làm bằng nhôm, hình dáng tương tự chiếc nồi đất ngày trước.
Nhôm dày nhưng nhẹ và bền, nên loại nồi này nhanh chóng trở thành  nồi nấu bún chuyên dụng và mẹ con bà hàng bún “truyền thừa” từ đời này sang đời khác. Nhiều cái nồi dùng lâu đã thủng nhưng vẫn được gò vá để dùng tiếp, chứ không ai muốn dùng loại nồi khác. Khách sành ăn bún còn cho rằng tô bún được múc từ một loại nồi khác sẽ không ngon, nên họ luôn cố tìm gánh bún nấu trong chiếc nồi xưa để ăn.
Cảm giác được ngồi gần bếp lửa hồng trong một sáng mùa đông, mắt dõi theo bàn tay thoăn thoắt của cô hàng bún đang đảo chiếc vá liên hồi để tìm cho được miếng thịt vừa ý khách hàng, trong chiếc nồi tưởng chừng là nhỏ nhưng múc hoài vẫn không hết mới thật là thú vị ! 
Tô bún bò theo chân lưu dân xứ Huế vượt Hải Vân vào xứ Quảng cũng có sự biến đổi cho “hợp người, hợp cảnh”: nước bún nêm rất ít ruốc và cho thêm bột điều để tạo màu như cách nấu mì Quảng. Bên cạnh đĩa rau sống ăn kèm như kiểu ăn bún bò của người Huế, còn có thêm chén hành tím chẻ nhỏ dầm với dấm để phục vụ người Quảng.
Người Quảng có món chả bò là đặc sản, nên trong tô bún bò Huế ở xứ Quảng đôi lúc có những viên chả bò cho hợp khẩu vị người Quảng. Nếu người Huế dùng thịt heo nạc quết nhuyễn, viên thành từng viên chả, thả vào nồi bún đang sôi thì người Quảng lại dùng chả đòn, khi ăn thì xắt lát sắp lên mặt tô bún rồi chan nước bún vào.
Tô bún bò Huế ở xứ Quảng nhiều thịt hơn tô bún bò cố đô. Đã thế, người Quảng ăn bún lại kèm theo một ổ mì nóng giòn.
TRẦN ĐỨC ANH SƠN
____________________
Hai trường phái: quý tộc và bình dân
Ba tôi là một người Huế rất sành ăn. Cũng nhờ thế mà mẹ tôi, rồi truyền đến đời chúng tôi những kỹ năng bếp núc tạm gọi là ổn, qua sự thừa nhận của bạn bè tứ xứ. Trong vô vàn món ăn xứ Huế như bánh lá chả tôm, bánh bèo, bánh ít ram, dấm nuốt... thì bún bò thoạt nhìn qua là một món dễ nấu.
Bún bò Huế - Ảnh: Đức Trí
Có hai vị cơ bản mà nếu thiếu thì chẳng ra tô bún bò giò heo đúng kiểu Huế, đó là sả và ruốc. Nhưng cái khó là làm sao để cân bằng được, đừng để ruốc hay sả quá nặng mùi. Còn lại nước xương hầm sao cho ngọt và trong, thịt bò xắt sao cho đừng quá dày hay quá mỏng, miếng giò heo đừng quá cứng hay quá mềm... là kỹ thuật mà bất cứ người nội trợ khéo tay nào cũng có thể làm được.
Tuy dễ thế, nhưng ba tôi hiếm khi nào chịu đi ăn bún bò ở tiệm, dù Sài Gòn không hiếm những quán được gọi là ngon. Ví dụ, bún bò Hạnh trên đường Bành Văn Trân là một ví dụ. Quán này thuyết phục được khá nhiều dân Huế khi nước dùng trong, mùi vị nhẹ nhàng, không quá nồng của vị ruốc hay hăng của sả.
Rồi quán Ngự Bình gần chân cầu Công Lý cũng là một điểm đáng đến, đặc biệt nơi đây còn giữ được cả phong cách rất Huế, đó là bát đĩa nhỏ xíu, phục vụ chỉn chu dù nhiều người bảo “chảnh” - một cái “chảnh” khá dễ thương. Rồi bún bò Thành Nội trên đường Trần Cao Vân cũng là một điểm thưởng thức không đến nỗi phải tiếc công tiếc của. Hay bún bò Ngô Đức Kế, Nam Giao gần chợ Bến Thành... đều là những nơi ăn được.
Đặc biệt, vài năm trước, trên đường Nguyễn Thành Ý có một quán vỉa hè không tên nhưng rất ấn tượng theo cung cách bình dân. Tiếc là gần đây ông chủ đã giải tán chẳng hiểu vì lý do gì...
Thế nhưng ba tôi chẳng muốn đến bất cứ quán nào, cũng không hẳn vì những nơi này kém. Mà đơn giản ở nhà mẹ tôi có thể chiều ý thích của ông bất cứ phong cách nào. Vâng, bún bò giò heo Huế có hai phong cách rõ rệt.
Với “các Mệ” - cách gọi về những người Huế thuộc hoàng tộc, tô bún bò giò heo đúng nghĩa phải là nước trong, khoanh giò nhỏ, những lát thịt bò, heo phải xắt mỏng và không ăn kèm với các loại rau như xà lách, bắp chuối bào, rau muống chẻ. Đặc biệt, tô bún quý tộc là phải nhỏ, thanh cảnh.
Ngược lại, tô bún bò bình dân dành cho người lao động bình thường thì thêm miếng huyết heo, gân giòn sừng sực, tô to để ăn độn với các loại rau, đặc biệt trên mặt tô bún phải có một lớp màng ớt đỏ au. Vâng, chính cái màng ớt đỏ au này tạo nên sự khác biệt. Đa số các quán người ta sử dụng màu đỏ cà ri, đẹp mà không cay, hoặc ớt sa tế có cay nhưng chẳng đẹp.
Trong khi đó, nồi bún bò giò heo theo gu bình dân mà ba tôi thích phải cần đến loại ớt bột của làng Thế Chí Đông (Huế). Ớt của nơi này vừa đẹp với một màu đỏ au nhưng cay đến xé lưỡi. Cái thứ ớt bột này chỉ cần một muỗng canh, tao với hành và dầu thì tạo ra một thứ màng đỏ màu tươi tắn trên mặt tô bún, và ăn vào thì mồ hôi mồ kê tuôn ròng ròng vì rất cay.
Mấy năm gần đây ba tôi đã khuất núi, mỗi lần nấu nồi bún bò cả nhà thưởng thức ai cũng rưng rưng. Không phải vì cay mà là nhớ ba...
GIÁNG HƯƠNG

Bún bò giò heo: Món ngon này có tự bao giờ ?

31/01/2014 11:09 (GMT + 7)
TTXuân - Nổi tiếng hơn cả trong các món ăn bình dân ở Huế vẫn là món bún bò, hay gọi một cách đầy đủ là “bún bò giò heo”. Hương vị của món bún này là một trong những nét đặc trưng của Huế. Cay nồng ớt, thơm hương sả, và quan trọng nhất là vị ngọt của ruốc Huế không tìm được ở đâu khác. Bắt buộc phải là ruốc Huế.

Gánh bún hàng rong xưa ở Huế - Ảnh tư liệu

Phổ biến và nổi tiếng như thế, vậy mà ít ai, ngay cả người Huế, biết rõ món ăn này xuất hiện từ bao giờ. Và cái tên gọi bún bò Huế được cho là truyền thống này cũng phải nên được xem xét lại. Bởi vì thịt bò không phải là loại thực phẩm truyền thống của người Việt.
Yến tiệc trong cung thời Nguyễn, điển hình là trong thực đơn đãi sứ của triều đình, không thấy hiện diện các món thịt bò. Các món cỗ cổ truyền trong Trung ngoài Bắc xưa cũng không có món nào dùng thịt bò. Mãi cho đến khi người phương Tây xâm nhập ngày càng đông thì các món thịt bò của họ mới dần dần được người Việt ưa chuộng. Điều này khiến người ta suy nghĩ lại về thời điểm các món bún, phở bò xuất hiện ở Việt Nam.
Và nên chăng món bún bò giò heo Huế nếu đã có lịch sử lâu dài thì lúc khởi thủy phải là món bún giò heo, và yếu tố bò chỉ được thêm vào về sau này mà thôi? Nhưng dù danh xưng có là gì đi nữa thì đây là một trong những món ngon đặc sắc của Huế.
Tiếc rằng giờ đây khó có thể tìm ra được một tô bún còn mang đúng vị chuẩn xác. Một số chủ quán giải thích rằng phải biến đổi như thế cho hợp khẩu vị khách phương xa. Điều này được thể hiện rõ tại các quán bún nổi tiếng dành cho du khách ở Huế. Trong khi đó, nhiều người Huế lại nói là giờ đây muốn có được tô bún Huế đúng cách thì phải vào Sài Gòn, nơi hương vị bún bò giò heo vẫn còn đậm đà.
Truyền nhân của bún Mụ Rớt nổi tiếng ở Gia Hội xưa bây giờ đang mở quán bún bò Huế ở Orange County thuộc bang California, Hoa Kỳ. Tiệm vẫn nấu đúng lối truyền thống với mùi vị cay nồng của sả, ớt, ruốc Huế, và rất được khách Việt, Mỹ ưa chuộng.
Trước tiên người ta hòa ruốc xác (ruốc cái) vào nước cho đủ vị mặn. Đun sôi khoảng một hai giờ để lấy chất ngọt từ xác ruốc và để ruốc đỡ nặng mùi. Chờ cho xác ruốc lắng rồi chắt lấy nước trong. Xương bò, heo chần nước sôi cho sạch, bỏ vào nấu với nước ruốc. Không đậy vung để có nước trong. Nếu muốn nước dùng trong nữa thì xương phải để nguyên không chặt khúc. Nấu như thế này cần rất nhiều thì giờ để có thể lấy được hết chất ngọt của xương. Ngoài ra, còn có thể thả vào nồi vài củ cải để nước thêm trong, nếu cần. Một vài khúc mía đã róc vỏ được bỏ vào nồi nước dùng vừa để hút mùi hôi của xương, vừa để thêm vị ngọt.
Thịt bò bắp bỏ vào nấu cho đến khi mềm, vớt ra để nguội rồi thái lát. Người Huế gọi loại thịt này là thịt bò “nồi”, để cho khác với loại thịt bò nhúng tái vốn không phải của bún bò Huế, mới xuất hiện sau này. Riêng giò heo vì còn da và mỡ, nên sẽ nấu riêng cho đến khi chất đục, tanh của mỡ và da ra hết mới cho vào nồi.
Ớt rim và đồ màu nên cho vào nước từ sớm, nhưng nếu nấu ở nhà thì một bó sả bằng nắm tay con nít được bỏ vào nồi khoảng nửa giờ trước khi ăn, để sả vẫn còn hương nhưng đã hết vị hắc. Rau răm, hành lá, hành tây và bắp chuối thái mỏng là phụ gia chính của bún bò Huế hồi trước. Về sau này, người ta còn cho thêm huyết luộc, gân bò, chả cua vào bún, và những phụ gia này dần dần trở nên phổ biến.
Thuở trước, bún bò giò heo Huế thường được ăn vào buổi sáng sớm. Khách sành điệu hay chuộng các quán bình dân chỉ bán riêng món này, bán hết nồi nước dùng là thôi. Ngon nhất vẫn là từ các gánh bún rong rải rác khắp nơi, bán đến tám giờ sáng đã ngưng.
Bây giờ vì nhu cầu của hoạt động du lịch nên có thêm nhiều quán bún bò Huế bán suốt ngày đêm. Cũng tốt thôi, vì điều này giúp làm cho hương vị đặc trưng của Huế thêm cơ hội để trở nên quen thuộc hơn với khách phương xa. Chỉ mong người bán luôn giữ được hương vị đậm đà, cay nồng của Huế trong món ăn đặc sắc này. Và đó cũng là giữ bản sắc của chính mình vậy.
TRỊNH BÁCH
----------------------------
TTXuân - Bún bò Huế thật sự có mặt tại Hà Nội sau khi nước nhà thống nhất năm 1975, và đến nay món ngon này đã mở ra khá nhiều ở thủ đô. Có thể tìm trên các phố: Quang Trung, Nguyễn Thượng Hiền, Mai Hắc Đế, Trần Quí Cáp, Ngã Tư Sở, Khâm Thiên, Lạc Long Quân…
Quán bún bò Huế đầu tiên ở Hà Nội với cái tên rất Huế “O Xuân” (tức là cô Xuân), ở số 3A Quang Trung, mở từ hơn 20 năm trước, đến nay đã thành địa chỉ quen thuộc của thực khách Hà thành.
Quán O Xuân - quán bún bò Huế đầu tiên ở Hà Nội - Ảnh: Minh Tự
Tôi vào quán O Xuân gọi “một tô đầy đủ”, tức tô có đủ thịt bò, giò heo, chả viên, miếng huyết… Nhìn tô bún là biết ngay đầu bếp đang muốn nấu cho đúng món bún bò giò heo thuở ban sơ ở quê nhà của nó. Giò heo khoanh tròn, thịt bò bắp luộc chín xắt lát dày vừa phải. Rau sống là giá, rau quế và bắp chuối xắt mỏng.
Thịt bò bắp và tuyệt nhiên không có thịt bò tái, cùng với những sợi bắp chuối xắt mỏng, đó là dấu tích của tô bún bò Huế thuở xưa, thậm chí trông nó gần với tô bún bò Huế xưa hơn cả tô bún tại Huế bây giờ. Nhưng khi nếm thử nước dùng thì mới thấy đúng là bún bò xa quê.
Vị cũng ngọt nhưng không là ngọt của ruốc, có ruốc đấy nhưng ít thôi. Và rõ nhất là mùi sả, chỉ thoang thoảng chứ không ngào ngạt sả như bún bò ở Huế. Vị ruốc và mùi sả là hai thứ mùi vị nặng, khó nêm, là phụ gia nhưng lại là thành phần quan trọng để nhận biết tô bún bò Huế.
Người Huế đã quen và thậm chí đã thấm vào máu cái thứ nước dùng đậm đà ruốc và sả. Nhưng người Hà Nội thì chắc hẳn là khác. Nên tô bún bò Huế đến Hà thành cũng phải thay đổi theo khẩu vị thực khách là phải thôi. Trong khi người Hà Nội ăn bún bò Huế lại thích thêm vài lát ớt tươi ngâm giấm, thì người Huế lại chỉ thích vị chua của chanh và ớt thì phải giằm nước mắm.
MINH TỰ
------------------------
TTXuân - Chuyến máy bay Eva chở tôi về Việt Nam ngẫu nhiên trùng hợp vào ngày có tin đồn lao xao là “ngày tận thế” 21-12-2012. Chuyện trao đổi cửa miệng của hầu hết hành khách trên máy bay đều xoay quanh đề tài này. Ngồi bên phải tôi là một người Đài Loan và bên trái là một người Mỹ.
Nhà hàng Cố Đô ở Sacramento, Mỹ và món bún bò giò heo đậm đà rất Huế - Ảnh: T.K.Đ.
Có hai câu hỏi giả định được đặt ra: Một là, trước giờ tận thế bạn nhớ ai nhất? Hai là, bữa ăn cuối cùng bạn ước được ăn món gì? Không hẹn mà gặp, khuôn mặt yêu thương nhất để tưởng đến trong giờ phút có thể là cuối cùng đối với cả ba người thuộc ba dân tộc và ba nền văn hóa khác nhau nhưng có cùng tâm cảm là mẹ!
Riêng về miếng ăn thì thói quen truyền thống chiếm thế ưu tiên. Bà khách Đài Loan thì muốn được ăn vịt Bắc Kinh, ông khách Hoa Kỳ lúng túng vì không chọn ra được món gì là quốc hồn quốc túy độc đáo của xứ hợp chủng muộn màng này cả. Đến lượt mình nêu ý kiến, tôi chọn món ăn “ân huệ” không một chút lưỡng lự: bún bò Huế!
Hình như người Huế nào - trừ các bậc xuất gia chay tịnh - cũng có duyên nợ mặn mà với bún bò Huế, như người Pháp với thịt bò bít tết, người Mỹ với bánh hamburger, người Anh với thịt bò nướng và bánh pudding Yorkshire, người Ý với bánh pizza, người Nhật với sushi…
50 năm trước, chưa có một quán bún nào ở Huế có thương hiệu riêng. Những tên gọi truyền khẩu như: bún mụ Rớt, bún o Rơi, bún chị Bờ… là do khách hàng gọi tên người chủ quán theo lối bình dân quen biết. Năm 1959, tôi thi đậu “càng cua” (concour) vào Trường Hàm Nghi - Quốc Tử Giám xưa - và bắt đầu lên Huế học.
Thời đó, quán bún nổi tiếng nhất là quán mụ Rớt ở Gia Hội và gánh bún ngon được đồn đãi rộng rãi là gánh bún o Mượn ở cống Phát Lác, mụ Sen ở Thành Nội. Ở Huế gần hai năm, lần đầu được lãnh học bổng tôi mới có cơ hội can đảm rủ bạn vào quán bún bò mụ Rớt ăn một “tô bún bò vốn chỉ nghe mà chưa thấy”…
Nửa đời, tôi đã mang hình ảnh và hương vị tô bún bò Huế đó mà đi. Tuy chưa được đi và trải nghiệm nhiều như ước muốn, nhưng tôi cũng đã đi qua nhiều thành phố lớn từ Á sang Âu, nơi có những tiệm ăn Việt Nam và món bún bò Huế. Từ đó tôi thấm thía với cảm nhận rằng ngon hay dở bình thường là một cảm xúc thể chất và vật lý. Nhưng cái ngon sâu đậm đối với một món ăn quê hương truyền thống như bún bò Huế, phở Bắc, mì Quảng, hủ tiếu miền Nam… là một sự kết hợp hòa điệu giữa miếng ngon truyền thống, mùi vị tâm lý nguồn cội và hương vị hoài niệm.
Ra nước ngoài, bún bò Huế chuyển mình từ “sang” qua “trọng”. Nghĩa là không chỉ là phẩm mà còn lượng. Hầu hết các nhà hàng ăn Việt Nam ở nước ngoài đều có món bún bò Huế và chia làm ba mức độ: nhỏ, trung và lớn. Một tô nhỏ xứ ngoài cũng bằng ba tô tiêu chuẩn ở quê nhà. Tô lớn thì “mênh mông” như một cái thau nhỏ. Tôi có dịp quan sát và để ý rằng khách ăn bún ở Paris và London thường gọi tô bún ở mức trung, còn khách ở Mỹ thì thường gọi tô lớn. Bởi lẽ sức vóc của người Mỹ lớn thì bún bò Huế phải “tô đại” với thịt thà rôm rả mới thích hợp hơn.
Bún bò Huế đã rời Huế ra đi để đối mặt với nhân gian như những đứa con xa xứ. Trong mối tương tác đa phương, đa hệ, đa chiều toàn cầu đó, hình tướng và phương tiện có thể tùy nghi mà đổi thay, thêm bớt, nhưng bản chất khó mà đổi thay. Tô bún bò Huế mang sẵn trong chính nó hương nồng của sả, vị ngọt của thịt heo thịt bò, mùi thơm của gia vị… không thể nhầm lẫn với trùng trùng những món ăn muôn màu muôn vẻ của thế giới. Bún bò Huế xa quê nhưng sẽ chẳng bao giờ có thể phủ nhận chính nó để trở thành mì, thành phở hay một món ăn nào khác.
Cũng có khi xa mà lại rất gần. Suốt ba tháng về ở làng Liễu Hạ (Hương Trà) quê tôi trong dịp Tết Quý Tỵ, tôi vẫn thường lên Huế, rủ những “bậc sành ăn” tìm một nơi bán bún bò Huế không tên trên đường Nguyễn Du được bà con cho là “bún bò hậu duệ mụ Rớt”. Hương vị tô bún chỉ ở mức trung bình, nhưng hình thức thì rau thịt chen chúc. Tôi không tìm thấy dáng vẻ thanh nhã của tô bún bò mụ Rớt và chỗ ngồi thanh lịch của quán hơn 50 năm trước.
Tuần đầu bay về lại Mỹ, tôi ghé tới quán Cố Đô ở Sacramento và quán bún An Nam ở San José, bang California để “kiểm nghiệm phản ứng ngũ uẩn” của mình về hương vị của những tô bún bò Huế ở xứ người, để so với “đồng môn” trên đường Nguyễn Du. Tôi bắt gặp hương vị bún bò xa xứ có vẻ đậm đà rất Huế còn hơn cả Huế trên quê hương. Nhưng dòng sông xưa không còn đó. Hình thức rau thịt của cả hai bên đều quá phong phú nên bún bò Huế xưa không trở lại nguồn.
Tôi tự an ủi nói với bóng ông Héraclite (triết gia Hi Lạp) đâu đó trong chính mình: “Bún bò Huế cũng không tránh khỏi quy luật biến dịch. Chẳng ai ăn được hai lần trên cùng một tô!”.
TRẦN KIÊM ĐOÀN (California, Mỹ)

Món chè kho ngày Tết

Miếng chè kho thơm ngọt với chén trà sen chan chát như thể người bạn đồng hành không thể thiếu trong mỗi dịp xuân mới.
Chè kho chẳng phải là món ăn cao sang nhưng không phải thời gian nào cũng dễ bắt gặp. Món quà giản dị này chỉ xuất hiện trong mỗi gia đình vào dịp năm hết Tết đến.
Ngày trước, thời kinh tế khó khăn, đường kính đắt và chưa có nhiều nên món chè kho nhà nào cũng thường được nấu bằng mật. Thế nên đĩa nào đĩa nấy đều nhuộm một màu nâu vàng giản dị. Sau này khi cuộc sống trở nên khá giả hơn, đường kính trắng đã có thể dễ dàng tìm mua, món chè kho cũng vì thế mà thay đổi một chút hương vị.
Anh-2-7043-1390536602.jpg
Chè kho có màu vàng tươi khi nấu cùng đường kính trắng. Ảnh: nhahang
Chè kho chỉ gồm đậu xanh và mật (hay đường) nhưng để có được một đĩa chè thơm ngon thì khâu chuẩn bị và nấu nướng không hề đơn giản. Đậu xanh phải chọn loại hạt mẩy, lòng vàng. Sau khi mua về phải nhặt hết hạn sâu, hạt lép hay hạt nhọn đít, là những hạt dù nấu kỹ tới đâu cũng không thể chín. Những hạt đậu thơm ngon nhất sẽ được ngâm trong nước khoảng 12 tiếng sau đó đãi sạch vỏ rồi đem ra phơi thật khô. Chính vì việc chuẩn bị khá lâu nên thường các bà, các mẹ chuẩn bị làm từ trước Tết để có thể đón những cơn nắng hiếm hoi của mùa xuân. Đậu xanh sau khi phơi khô sẽ được xay thành bột mịn rồi mới gói kín, cất lên nóc tủ trong nhà.
Sát ngày Tết, người ta lấy thứ bột mịn đổ từ từ vào nồi nước đã đun cùng mật. Công đoạn khó nhất của nồi chè kho là phải đảo đều để không bị khê. Không những thế nếu không cẩn thận thì bột đậu xanh có thể bị vón cục. Món chè kho vì thế cũng khó mà ngon được.
Khi nồi chè trên bếp vừa chín thì cho thêm chút nước hoa bưởi để món chè kho được dậy mùi rồi mới múc ra từng đĩa nhỏ. Những hạt vừng trắng sẽ được rắc lên trên để đĩa chè thêm phần đẹp mắt.
Anh-3-6585-1390536603.jpg
Một chén trà với một miếng chè kho, thế là đủ vị Tết. Ảnh: flickr
Ngày Tết, đãi khách đến chơi bằng món chè kho thơm ngọt được sắt thành hình rẻ quạt, uống cùng chén chè sen thơi lừng thì còn gì tuyệt bằng.
Đỗ Huyền
 .

Tục dán giấy đỏ đón Tết của người Cao Lan

Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ, từ cối xay, cối giã gạo, cái cày, bừa cho đến bàn thờ tổ tiên.
Dân tộc Cao Lan, có tên gọi khác là Sán Chay, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận… sinh sống nhiều nhất tại Thái Nguyên với số dân hơn 60.000 người, cư trú chủ yếu ở 37 xã thuộc 3 huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên. Tết Nguyên đán của người Cao Lan, Thái Nguyên thường bắt đầu từ 25 tháng Chạp đến hết rằm tháng Giêng. Trong những ngày này, mỗi tối trước khi đi ngủ, gia chủ đều thắp một nén hương thơm lên bàn thờ để mời tổ tiên về ăn tết, đón xuân cùng con cháu.
Ngày 30 Tết là ngày mang ý nghĩa quan trọng và đặc biệt trong tín ngưỡng của người Cao Lan. Vào ngày này, người Cao Lan dậy vào lúc sáng sớm để lau dọn nhà cửa sạch sẽ, sau đó tiến hành “Chí dịt”, tục dán giấy đỏ trong nhà.
dan-giay-do-JPG-3616-1388454850.jpg
Từ nhà ra đến chuồng gà ngày 30 Tết đều được khoác áo đỏ đón giao thừa. Ảnh: Dulichbonphuong.
Buổi sáng ngày cuối cùng của năm cũ, khắp mọi nơi trong nhà đều được “niêm phong” giấy đỏ. Từ cối xay, cối giã gạo, cuốc, xẻng, con dao, cái cày, cái bừa, cây cối quanh nhà, chuồng trại cho đến bàn thờ tổ tiên, tường, cổng nhà, các cửa ra vào… đều được dán giấy đỏ để các vật này được "nghỉ Tết". Toàn bộ ngôi nhà bỗng trở nên rực rỡ, tràn đầy sinh khí đón năm mới.
Theo quan niệm của người Cao Lan, giấy đỏ là một vật thể hiện điềm may mắn, tượng trưng cho một năm mới tốt lành, nhiều tài lộc sức khỏe, niềm vui trong cuộc sống, mùa màng bội thu, giúp gia chủ xua đuổi tà ma, cây trồng không bị chim, thú, sâu bọ phá hoại.
Chiều 30 Tết, các thành viên trong gia đình tất bật chuẩn bị cho mâm cơm cúng tổ tiên và bữa cơm đoàn tụ ngày tất niên. Tuỳ theo từng dòng họ mà mâm cơm dâng lên tổ tiên ngày 30 Tết cũng có những khác biệt lớn. Những con vật linh, được xem là thuỷ tổ của dòng họ nào thì dòng họ ấy không ăn thịt mà chỉ thờ cúng. Ví dụ họ La kiêng cá quả, họ Lục, họ Lý, họ Trần kiêng thịt chó, họ Dương kiêng gà…
Người Cao Lan thường tự làm các loại bánh để ăn tết như bánh vắt vai, bánh chưng, bánh chim gâu, bánh mật, bánh gai, bánh rán, chè lam... Bánh chưng của người Cao Lan có hai loại là bánh chưng bố tròn to và bánh trưng mẹ tròn dài. Ngoài ra, người Cao Lan còn tự làm bún ăn tết. Do được làm hoàn toàn thủ công nên bún của người Cao Lan rất thơm ngon, mềm và dai.
mua-TQ-JPG-2643-1388454850.jpg
Tập múa điệu chim gâu đón Tết. Ảnh: tuyenquang.gov.vn.
Trong lễ hội đầu năm mới của người Cao Lan, bên cạnh các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, ném còn, trồng cây chuối, vặt rau cải, múa điệu chim gâu, xúc tép, khai xuân, biểu diễn trống sành... thì không thể thiếu làn điệu Sình ca, lối hát đối đáp giữa thanh niên nam nữ, được sáng tác theo thể thơ tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán.
Theo truyền thuyết của người Cao Lan, tác giả của bài Sình ca là nàng Lưu Ba, cô gái đẹp đã đặt lời cho các điệu hát và nàng đã hát suốt 13 ngày đêm không ăn không ngủ rồi chết. Tiếng hát ấy chứng tỏ sức sống tiềm tàng và tình yêu trong sáng, bình dị của người Cao Lan. Ngày xuân, nam thanh nữ tú hát Sình giao duyên với nhau để tìm bạn đời, các cụ ông cụ bà say sưa hát những điệu Sình cổ để thể hiện niềm vui sống.
Le-Quang-Hoa-JPG-8651-1388454850.jpg
Sinh hoạt văn hóa cộng đồng ngày Tết của người Cao Lan. Ảnh: Lê Quang Hòa.
Những nghi lễ dân gian đặc sắc của người Cao Lan với nhiều nét đẹp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và những giá trị tinh thần to lớn đã góp thêm những bông hoa đẹp vào rừng hoa đa sắc màu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên khắp dải đất hình chữ S.
Lê Thương

Những lễ tục của người Chăm trong năm mới

Theo phong tục Chăm, sau lễ hội cộng đồng là lễ tục cho các gia đình và cuối cùng là cho các thành viên trong gia đình.
Mỗi lễ hội, lễ tục trong năm mới luôn thực hiện theo đúng tuần tự nhất định nhằm xua tan cái xấu, đón những điều tốt lành đến trong năm mới.
Lễ hội Rija Nagar
1-9103-1390547670.jpg
Ông Ka-ing đang thực hiện nghi thức cúng lễ trong lễ hội Rija Nagar.
Rija Nagar là lễ hội được tổ chức hàng năm vào tháng giêng Chăm lịch, được xem là Tết trong năm mới của người Chăm. Lễ được tổ chức trong 2 ngày dành cho cả cộng đồng Chăm không phân biệt Chăm Ahier hay Awal.
Ngày đầu của buổi lễ, mọi người trong làng cùng phụ giúp làm nhà lễ gọi là kajang để thực hiện nghi thức cúng,. Ông Ka-ing được xem là trung tâm của buổi lễ với những điệu múa nhập đồng, tay cầm roi, mía, quạt múa điệu dâng cúng các vị thần trong tín ngưỡng người Chăm.
Ngày thứ hai của buổi lễ sẽ dâng những lễ vật như dê luộc, rượu, trầu, mâm hoa quả và quả lựu tượng tưng cho Cei Dalim - vị thần mang những điều tốt lành cho người dân. Kết thúc buổi lễ là tiễn đưa hình nhân thay thế cho dân làng xuống dòng sông nhằm mang đi những tai ương, xấu xa, hoạn nạn của năm cũ và mang đến những điều tốt lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, no ấm trong năm mới.
Lễ dâng xôi, chè
Một bãi đất trống lớn nhất ở đầu làng được người dân sử dụng cho lễ dâng xôi, chè. Trong ngày này, mọi gia đình trong làng đều phải chuẩn bị một mâm lễ vật là chè ngọt, xôi và hoa quả để dâng cúng cho vị thần cai quản địa phương nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa và bình an cho xóm làng.
Vào ngày lễ, mọi người trong làng nô nức, người lớn thì tất bật chuẩn bị cho gia đình một mâm xôi chè thịnh soạn, lũ trẻ thì háo hức được thụ hưởng những chén chè ngon ngọt sau buổi lễ. Một bầu không khí sôi động náo nhiệt ở một vùng quê Chăm yên bình và an lành.
2-1961-1390547670.jpg
Xôi, chè được dâng cúng ở bãi đất trống trong làng.
Tục cúng đất đầu năm
Cúng đất là một lễ tục quan trọng trong năm mới của người Chăm, để cầu mong cho tổ tiên và thần thổ địa phù hộ cho gia chủ một năm mới có được những phúc lành, làm ăn phát đạt, mùa màng bội thu.
Mâm lễ là hai con gà, một đực và một mái. Gà luộc chín và để đầy đủ các bộ phận, nước luộc gà được dùng làm canh cho lễ cúng, cùng với trứng vịt, trầu, cau, trà, rượu và chén lửa.
Sau lễ cúng, mọi người thân trong gia đình cùng hàng xóm láng giềng quây quần ăn bữa cơm và nhâm nhi vài chén rượu trò chuyện.
Lễ cúng gà đầu năm
Người Chăm sử dụng lịch pháp 12 con giáp như những dân tộc láng giềng khác ở Đông Nam Á như Tikuh (Chuột), Kabauw (Trâu), Rimaong (Hổ), Tapai (Thỏ), Inâ Girai (Rồng), Ula Anail (Rắn), Asaih (Ngựa), Pabaiy (Dê), Kra (Khỉ), Mânuk (Gà), Asau (Chó), Pabuei (Lợn). Mỗi người sinh ra đều ứng với năm con giáp theo lịch Chăm để định vị tuổi tác. Người Chăm cũng quan trọng tuổi theo con giáp như các dân tộc anh em khác, dựa vào con giáp để thực hiện các nghi lễ theo tín ngưỡng dân tộc cho phù hợp như đám cưới, dựng nhà mới, làm ăn buôn bán…
Vào đầu năm mới, người Chăm dựa vào những quan niệm xung khắc theo con giáp để thực hiện nghi thức cúng gà nhằm xua tan mọi thứ xấu xa, giải trừ nghiệp chướng và cầu mong mọi điều tốt đẹp đến với người đó. Lễ vật là một con gà ứng với một thành viên trong gia đình do chức sắc Po Acar làm chủ lễ cùng với trầu cau và chén lửa.
3-1626-1390547670.jpg
Chức sắc đang thực hiện nghi thức cúng Ba ahar mah.
Với gia đình có 6 người trong đó có 3 người không hợp tuổi thì lễ vật cúng là 3 con gà ứng với 3 thành viên. Cúng gà đầu năm là một nghi thức quan trọng trong những ngày lễ đầu năm của người Chăm.
Bài và ảnh: Putra Jatrai

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Tết thưởng thức bánh gấc để nhận may mắn, tài lộc

(Báo Ảnh/Vietnam+)
Những chiếc bánh gấc đỏ mọng như đem lại nhiều điều may mắn vào ngày đầu năm mới. (Nguồn: Báo Ảnh/Vietnam+)

Ngày xưa, mỗi dịp Tết đến Xuân về, ngoài mấy thứ quà bánh truyền thống như bánh chưng, mứt gừng, mứt bí, hạt dưa đỏ... người Hà Nội còn có món bánh gấc, hay còn gọi bánh cà chua, vì có hình giống quả cà chua.

Bánh gấc đỏ là món tráng miệng, thường dùng với ấm trà thơm.

Ngày Tết, sau khi dùng cỗ Tết, mọi người thường quây quần bên nhau để thưởng thức món bánh gấc đỏ để lấy cái hên đầu năm, bởi theo quan niệm của người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung, màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn, tài lộc, nhất là vào dịp đầu năm mới.

Vì vậy, ngày Tết, người Việt thường rất thích làm các món ăn hoặc bày những đồ trang trí có màu đỏ.
Lại nói về món bánh gấc đỏ. Đây là loại bánh được làm một cách khá cầu kỳ, nếu không nói là khó, nên thường chỉ có những nghệ nhân hoặc người khéo tay thạo chuyện bếp núc mới làm được.

Và đó cũng là một trong những lý do khiến cho món bánh nổi tiếng này ít được làm một cách phổ biến, nên từ đó mai một dần.
Ngày nay, số người Hà Nội biết làm món bánh gấc còn lại không nhiều. Mới đây có nghệ nhân ẩm thực trẻ Nguyễn Phương Hải, một người Hà Nội có tấm lòng yêu phong cách ẩm thực truyền thống của quê hương, đã dày công tìm kiếm phục hồi được khá nhiều món ăn cổ của người Hà Nội đã bị mai một, trong đó có món bánh gấc đỏ.

Nghệ nhân trẻ Nguyễn Phương Hải hướng dẫn kỹ thuật làm bánh gấc theo phương pháp cổ truyền. (Báo Ảnh/Vietnam+)

Nguyên liệu và cách chế biến món bánh nổi tiếng này về cơ bản có thể hình dung một cách sơ lược như sau: Nguyên liệu làm bánh gấc đương nhiên phải là gấc chín, đi kèm với đó là bột nếp cái hoa vàng, đỗ xanh đãi sạch vỏ đồ chín tán nhuyễn, cùi dừa nạo sợi, mỡ phần, mứt bí, lá mảnh cộng, hoa bưởi, vani, đường kính trắng...

Sau khi đã có đủ các thứ nguyên liệu, người ta sẽ tiến hành sơ chế qua nhiều bước để làm vỏ bánh và nhân bánh. Bước quan trọng nhất là nặn bánh thế nào cho thật giống quả cà chua, rồi cuối cùng là cho vào chõ hấp chín.

Bánh gấc hấp chín có màu đỏ mọng như quả cà chua chín, trông rất đẹp mắt. Những chiếc bánh gấc đỏ bày trên nền lá chuối xanh non mỡ màng trông càng bắt mắt lạ.

Bánh gấc vừa đẹp mắt, vừa giàu vitamin A, lại được xem là món ăn đem lại nhiều may mắn tài lộc nên rất được các gia đình truyền thống Hà Nội ưa dùng vào ngày Tết.

Ngày Tết, trên bàn thờ gia tiên, ngoài mấy món lễ vật thường thấy như chai rượu, hộp mứt, mâm ngũ quả, đĩa trầu cau, cành đào Tết... nếu có thêm đĩa bánh gấc đỏ xem ra không khí đón Xuân cũng tăng thêm phần ấm cúng và trang trọng./.

Hướng dẫn văn cúng mùng 3 Tết ra mắt hành binh .


.CÚNG :
-  1 bình bông, 1 đĩa 5 thứ trái cây , 2 cây đèn cầy, 3 cây nhang , 3 chun rượu , 3 chun trà .
-  1 dĩa mứt, 1 miếng bánh tét (bánh chưng), 1 dĩa nhỏ muối , gạo.
-  1 con gà trống luộc.
LỜI KHẤN:
- Tịnh pháp giới chân ngôn: ÔM LAM, ÔM SĨ LÂM ( 3 LẦN )
- Án Thổ Địa chân ngôn : NAM MÔ TAM MÃN ĐA MỘT ĐÀ NẨM, ÁN ĐỘ RÔ ĐỘ RÔ , ĐỊA VĨ TA BÀ HA ( 3 LẦN ) .
Hôm nay là ngày mùng 3 tháng giêng năm…, con tên …tuổi …hộ khẩu thường trú …phường…quận…Con cùng gia đình ra mắt chư Thần chu niên, Nhựt Nguyệt chư Thần , Tổ Thầy, Tổ Nghiệp nghề của con là …
Cúi xin chư vị độ trì tân niên PHƯỚC LỘC, gia sự bình an, nghiệp nghề thăng tiến , mọi sự hanh thông …
Nam mô Phổ cúng dường Bồ tát , ma ha tát.
- Lạy 3 lạy .


.