Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Bún riêu bình dân ngon rẻ 'bậc nhất' chợ Châu Long

Depplus.vn -
Chợ Châu Long cổ kính, từng dãy quán nhỏ xíu nằm kề nhau trong cái ồn ã vừa phải của một khu chợ cũ.
Dù vậy, nhiều góc quán cỏn con, bán những đồng quà thân thuộc vẫn đủ níu chân nhiều người ngày ngày qua chợ phải ghé qua và nán lại. Bản thân tôi không phải là người sinh sống lâu năm gần chợ Châu Long nhưng lại làm việc ngay gần đó nên với khu chợ này cũng có chút thân quen. Thời gian buổi sáng chốn công sở có phần thảnh thơi hơn người kinh doanh, tôi thường đi sớm để có thể ăn bán bún riêu nóng hổi tại quán bún bình dân mà tự bản thân tôi đánh giá là ngon và rẻ bậc nhất khu chợ này.

Quán quà sáng của cô Hiền nhỏ nhắn trong khuôn viêm chợ Châu Long 
Thân thuộc như một nếp nghĩ đã đi sâu vào tâm trí người Việt, các quán ăn bình dân thường mang chính tên của chủ quán, và quán bún tôi muốn giới thiệu với các bạn sau đây cũng không phải là ngoại lệ - quán cô Hiền. Cô Hiền chủ quán được nhiều khách quen quý mến bởi tính cách cô hòa nhã, xởi lởi, "hiền" như tên. Chủ quán niềm nở đã chiếm gần nữa cảm tình của khách, chất lượng món ăn chiếm nửa già niềm ưu ái chọn lựa còn lại.

Quầy hàng cũng nhỏ nhắn, nhưng sạch sẽ của cô chủ quán "hiền" như tên 
Thực quả, các món quà sáng nơi quán cô Hiền cũng là câu trả lời ấn tượng cho lượng khách đông đúc ghé quán mỗi buổi chợ. Dù chỉ là các món bún, bánh đa, mì với nước riêu cua, nhưng mỗi bát bún đều được cô chủ khéo léo gia giảm đủ đầy cả chất cả lượng. Khách muốn no nê kêu bán bún riêu "thập cẩm" có đủ nào riêu, nào ốc, nào chả cá giò bò giá cao nhất chỉ 30.000 đồng. Còn muốn thanh cảnh, chỉ muốn thưởng thức thuần vị con cua con ốc thì có thể kêu cô Hiền làm bát bún riêu, bún ốc "không thịt" với mức giá rẻ giật mình - 15.000 đồng hay riêu đậu giá chỉ 17.000 đồng.

Bát bún riêu đep mắt, ngon miệng
 Cái ngon nhất của bún riêu chắc chắn là nước dùng. Nước dùng của quán đủ đậm đà và hấp dẫn, vừa vặn với hầu hết khẩu vị khách hàng. Nước riêu vàng thơm, xực nức hương giấm bỗng, sóng sáng mỡ màng màu gạch cua và cà chua; chỉ nhìn thôi đã muốn nuốt nước miếng. Khi ăn, thấm dần vào cảm giác là thứ vị béo ngậy xen lẫn cái thanh đạm của thịt cua, ngọt thơm vị đồng nội xem lẫn vị chua dìu dịu của giấm bỗng. Gạch cua cũng rất chất lượng. Kinh nghiệm gần chục năm mở quán khiến cô Hiền có bí quyết vớt gạch rất khéo léo, để gạch cua vừa chắc lại xốp mềm tụ lại từng mảng lớn mà khi ăn lại tan ra rất nhanh và khẽ khàng, chuẩn vị chứ không lợn cợn như pha thêm đậu phụ.

Các nguyên liệu đều đảm bảo vệ sinh, lại mang hương vị hấp dẫn 
Thứ nước riêu và gạch cua đó, chỉ cần kết hợp đơn giản với loại bún đặt riêng có sợi mảnh và dai, thêm dăm miếng đậu phụ rán vừa tới tầm phủ qua lớp vỏ cho vàng ruộm, nhấn nhá chút hành phi và rau sống bùi bùi là đã thơm và ngon hết xảy. Xá chi còn được thăm thắt đủ chứ ngọt lành như bò tái, giò tai, chả cá...Mỗi thứ thêm vào, cô Hiền chỉ tính thêm một vài nghìn như riêu đậu chả cá giá 20.000 đồng, riêu đậu thịt bò 22.000 đồng, đủ cả đậu bò và chả cá giá 25.000 đồng và "sang chảnh" nhất, thêm cả ốc giá cũng chỉ 30.000 đồng. Trên hết, cái hương vị giản dị này càng thêm nồng đượm khi nước dùng được chính chủ quán thêm vào chút mắm tôm, thơm phức vị làng quê quyện chặt vào cái tổng thể vốn đã xoắn xít của bún riêu.
 
Cô Hiền bán cái gì cũng rẻ, bún riêu đã rẻ và ngon như vậy mà gia giảm gọi thêm, tính "phụ thu" cũng chẳng đáng là bao. Quẩy chỉ được tính giá 1.000 đồng hay cốc trà đá cũng có mức giá tương tự. Thậm chí, với khách quen, cô sẵn sàng miễn phí trà đá dù đi nhóm đông hay chỉ có một mình. Chính vì vậy nên không chỉ người sống quanh khu chợ, dân công sở như tôi mà những vị khách nước ngoài cũng rất mến quán cô, mến vị bát bún riêu và cả cô chủ hiền thảo.
Quán bán từ sáng tới khoảng 1 giờ chiều. Ngoài bún, cô Hiền cũng bán cả lẩu riêu cua và nhận đặt chả cá, giò tai, bò viên. Khách quen đều tin tưởng độ sạch và an toàn cũng như tay nghề của chủ quán nên cô Hiền bận luôn luôn.
Địa chỉ: Ngõ 50b Châu Long (32a ngõ chùa Châu Long cũ)
T.H (Depplus.vn/MASK)

Vị đắng ngày Tết


Depplus.vn -
Nếu mâm cỗ Tết miền Bắc không thể thiếu bát canh măng thì người miền Nam lại cần lắm bát canh khổ qua...

 
Người miền Nam rất coi trọng những món ăn mà tên gọi hay hình ảnh gợi lên sự sung túc, phú quý, tránh những món có cách phát âm không may măn. Ví như mâm ngũ quả phải đủ 5 thứ mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung với ngụ ý cầu sung (túc) vừa đủ xài nhưng lại không có trái chuối (vì âm chuối đọc như "chúi nhủi", ngụ ý thất bại), cam ("quýt làm cam chịu"), lê ("lê lết"). Hay nồi thịt kho hột vịt cũng phải có miếng thịt vuông cạnh quả trứng tròn cho toàn vẹn.
Vị trí món canh khổ qua trong mâm cỗ Tết cũng không vượt ngoài điều đó. Người miền Nam ưa bát canh khổ qua đơn giản vì chính tên gọi của nó, mang niềm hi vọng về mọi khó khăn sẽ qua đi, đón năm mới suôn sẻ tài lộc. Các bà các mẹ đi chợ Tết không thể bỏ qua trái khổ qua, đem về nấu bát canh dồn thịt đặt lên bàn thờ gia tiên. Và khoảnh khắc bát canh xanh mướt được trịnh trọng mang dâng kính tổ tiên cũng là thời khắc thiêng liêng đánh dấu một năm mới tốt đẹp đã tới, bao khổ đâu đều đã để lại phía sau.
Khổ qua có quanh năm, đi chợ lúc nào cũng có thể mua nhưng tới ngày cận Tết mới mang ý nghĩa đặc biệt. Các bà nội trợ tận tâm cho cái Tết đều muốn tự tay lựa từng trái căng mượt nhất, cho gia đình thêm vận may. Khổ qua ngon phải chọn trái xanh đậm, gai bóng nở, thân thuôn dài. Khổ qua mua về rửa rạch, xẻ dọc, bỏ hết ruột rồi trụng qua nước sôi, ngâm lại vào nước lạnh cho giòn, chờ tới khi chuẩn bị xong các nguyên liệu dồn mới vớt ra. Kì công như vậy mới giữ được màu xanh mướt mát của trái khổ qua sau khi hầm canh.
 
Nhân khổ qua có nhiều loại, có người thích dồn cá thát lát, người dồn tôm nhưng phổ biến hơn cả vẫn là dồn cùng thịt xay nhuyễn hoặc giò sống. Canh khổ qua dồn thịt cũng là món ăn gần gũi với kí ức tuổi thơ thiếu thốn của nhiều người. Chỉ cần chút nạc dăm băm nhuyễn, trộn cùng giò sống, nêm nếm trút bột ngọt, muối cùng chút gia giảm từ nấm mèo, hành lá, bún tàu (miến) băm nhuyễn là đã sẵn sàng để dồn khổ qua. Nấm mèo, bún tàu dẻo dai, giòn bùi, hành lá thơm tho chỉ cần điểm qua đôi chút mà thêm thắt hương vị nồng nàn cho bát canh nặng vị đắng ngày đầu năm.

 
Trẻ nhỏ thấy mẹ nhồi thịt vào khổ qua sẽ cảm thấy thích thú vô cùng. Bàn tay khéo léo của bà nội trợ thoăn thoắt phết nhân cho dẻo, lần lượt dồn vào ruột trái khổ qua đã trụng qua nước lạnh sao cho vừa khít mà không làm nứt vỏ. Cuối cùng trái khổ qua được buộc chắc lại bằng hành lá, chỉ cần nấu cùng chút nước và gia vị là đã đủ đậm đà. Nhưng ngày Tết, ai ai cũng muốn sung túc, bà nội trợ kì công ninh xương lấy nước dùng để bát canh thêm ngọt ngào, hấp dẫn.
 
Canh khổ qua không những có giá trị về văn hóa mà còn rất mát, bổ. Trong vô vàn các món ăn quá đủ đầy ngày Tết, vị ngăn ngẳn đắng của bát canh khổ qua giúp trung hòa khẩu vị hiệu quả. Nhấp một ngụm canh mà thấy lòng thanh thản, như trút bỏ được gánh nặng lòng năm cũ, như thấy “khổ” thực sự “qua” đi, sẵn sàng đón một năm tài lộc phơi phới.T.H (Depplus.vn/MASK)

Đặc sản nào xứ Thanh được săn lùng nhiều nhất dịp Tết?

Depplus.vn -
Xin thưa, đó là nem nướng! Miếng nem to và nặng tới vài lạng, gấp 5-6 lần cái nem thông thường, nướng tới cháy xém lớp lá chuối hột là tỏa hương thơm lừng, chấm tương ớt cứ gọi là ngon hết xảy.
Chao ôi nhắc tới thôi đã thèm tới xoa xuyết hết cả mồm miệng, đã nghe mùi thính và thịt lên men thơm lừng lẩn quất đâu đây. Nghĩ cũng lạ lùng, người xứ Thanh đã có món nem chua lẫy lừng, lại còn tạo ra được thứ nem nướng đầy cảm xúc như thế, quả thật không vừa!
 
 
Nơi làm nem nướng nổi tiếng nhất tỉnh Thanh là làng quê miền trung du Thọ Xuân.Những ngày cận Tết, từng chùm nem lại tất bật hối hả theo chân người nhà quê lên thành thị. Người người, nhà nhà nô nức đặt nem để dành ăn Tết, đắt hàng hơn hết thảy các thứ đặc sản nào khác. 
 
Khác với loại nem nướng mang nhiều vị ngọt như nem lụi, nem nướng Ninh Hòa hay nem nướng Cái Răng, nem nướng Thọ Xuân – Thanh Hóa là loại lên men chua, vừa gần gũi với món nem chua vốn đã ghi dấu ấn riêng biệt của người xứ Thanh lại cũng khá tương đồng với món thịt chua Phú Thọ hay chịn xồm Nghệ An ở nguyên liệu thính gạo tạo mùi hương độc đáo.
 
 
 
Để làm nem nướng, người Thọ Xuân chọn lấy các phần ngon nhất của thịt lợn quê cùng các nguyên liệu thân thuộc khác như lá ổi, lá đinh lăng, tổi, ớt, hạt tiêu và không thể thiếu thính gạo. Thính gạo là thứ quyết định nem có ngon hay không nên trong các gia đình làm nem gia truyền, con cháu có thể thuần thục quy trình gói nem nhưng việc rang thính nhất định phải cần tới người có kinh nghiệm lâu năm để tạo ra loại thính gạo chín vàng đều, không cháy cũng không non. Nem được cuốn chặt trong lá chuối rừng hoặc chuối hột để lên men cho thật ngấu rồi nướng vùi trong than hồng. Nguyên liệu tuy rất đơn giản lại tạo nên hương vị không hề giản đơn. 
 
 
 
Điểm khác biệt cơ bản giữa nêm chua thông thường và nem nướng là thịt làm nem chua phải xay, trong khi thịt làm nem nướng được thái bằng tay như làm nem thính nên sau khi nướng, một quả nem có thể dễ dàng chia sẻ cùng mọi người để tăng sự “khoái trá” khi thưởng thức một món ăn ngon. Làm nem không quá cầu kì nhưng khá tốn thời gian. Thịt thái dọc thứ; bì lợn làm sạch lông, luộc chín, thái chỉ; tỏi thái lát mỏng, đinh lăng hay lá ổi rửa thật sạch, để ráo nước. Thịt, bì, tỏi, tiêu, ớt, gia vị, nem thính trộn lại với nhau cho ngấm thật đều rồi nén chặt thành từng nắm nem tròn to bằng nắm tay bọc trong lá đinh lăng, dùng thật nhiều lá chuối bọc tới kín chắc và dùng lạt buộc kĩ lại. 
 
 
 
Sau thời gian lên men chừng 3-4 ngày, nem có thể ăn ngay nhưng ngon nhất vẫn là nướng lên, (nên mới có tên gọi là nem nướng??). Cách nướng nem ngon nhất là để nguyên lá chuối rồi vùi quả nem trong than bếp để hương lá chuối cháy quyện lấy vị nem, lớp bì chảy ra, cháy xèo xèo kèm theo tiếng nổ tí tách cùng mùi hương béo ngậy, thơm nức tỏa ra thơm ngào ngạt. Nước thịt chua chảy ra tới đâu là cháy ngay tới đó, thấm hết đủ vị thơm tho vào lại quả nem. Khi ăn, chỉ cần bóc bỏ lớp lá chuối là đã nghe mùi thịt, mùi thính ấm nồng xực nức. Lớp vỏ nem cháy sém, bên trong lại vẫn còn chút hồng hào. Nhón đũa lấy một miếng nem, cuốn trong lá sung, chấm cùng chút tương ớt là thấy đủ vị chua, cay, ngọt bùi, ăn hoài không ngán.
 
 
 
Tiếng lành đồn xa, nay người người nhà nhà đều mua, hay học hỏi công thức để gói nem nướng theo phong cách xứ Thanh để dành ăn Tết. Ngày Tết cỗ thịt ê hề, bữa nào không nướng một vài chiếc nem Thọ Xuân là thấy thiếu thốn, thấy ngấy ngậy khó ăn. Các bà nội trợ thành thị không có sẵn than củi nên còn nghĩ ra nhiều phương thức chế biến nem rất lạ, nào nướng vỉ trên bếp ga, nào áp chảo…miễn sao vẫn ra được thứ nem nướng nóng hổi, lớp vỏ cháy xém thơm lựng. Trong tiết se lạnh đầu xuân, cùng bạn bè nhấm chút rượu vang, thưởng thức món đặc sẳn xứ Thanh sao mà hài hòa, hợp vị lạ lùng.
 
T.H (Depplus.vn/MASK)

Về xóm Trám dự lễ "Đụ Đị"


Depplus.vn -
 Gần nửa đêm, một cán bộ xã căn dặn chúng tôi: “Sau lễ mật là lễ 'tháo khoán'. Lúc này, các đôi trai gái được “tự do” mọi chuyện. Bởi vậy, trong 15 phút ấy, nếu có ai… “nghịch” hay làm gì cậu, cũng không được từ chối. Đó là '15 phút đứng trên mọi khuôn phép' ”.
"Lễ giáo gì kì quặc vậy?"  - Tôi còn ngơ ngác chưa hiểu sao, nhưng tò mò thì vô cùng lớn, nghe bà con đồn thổi chuyện về Đêm Đụ Đị với những nghi thức phồn thực được lưu giữ kĩ càng đã lâu, ai ngờ lại được đứng đây giữa miếu Trò để đón chờ Hội "Linh tinh tình phộc" đình đám trong tiết xuân mơn mởn thế này.

 
Sân miếu rộn rã ca múa cổ truyền, chật ních người xem 
Người ta vẫn truyền tai nhau rằng: Cách Đền Hùng khoảng 5km về phía Đông Nam và nằm bên bờ tả ngạn sông Thao, xưa kia Tứ Xã là vùng đồng trũng ngập nước, thỉnh thoảng nổi lên những đồi gò là chỗ ở của người Việt cổ, lúa chỉ làm một vụ, quanh năm sinh sống bằng nghề vó bè. Xưa, bên ngòi nước trong khu rừng trám có một ngôi miếu cổ linh thiêng. Cứ hai hoặc bốn năm một lần - các năm chẵn, vào đầu Xuân, dân làng ở đây lại mở lễ hội diễn nhiều tích trò, nên gọi là miếu Trò, và vì nằm trong khu rừng trám nên còn có tên khác là miếu Trò Trám. Xóm ở đó cũng được gọi tên xóm Trám, hay phường Trám.
 
Ai ơi chớ tưởng tôi già, tôi còn gánh được dăm ba cái... lờ! (trò Trám)
Thực ra Trò Trám chỉ là một phần, nhưng là phần hấp dẫn và vui nhất của Lễ hội Tứ Xã kéo dài trong 3 ngày (10 đến 12 tháng Giêng). Diễn ra vào nửa đêm ngày 11 và kéo dài tới rạng sáng ngày 12, Trò Trám diễn ra tại miếu Trò (miếu Đụ Đị - cái tên cũng đến là 'gợi cảm') gồm: Lễ mật, hay lễ phồn thực cầu cho nhân dân được bình an, hạnh phúc, cầu mong giống nòi sinh sôi nảy nở; Lễ rước lúa thần - lễ cầu mùa, cầu no ấm, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt; và Trò Trám: Trò trình nghề tứ dân chi nghiệp với bốn nghề chính trong dân gian là sĩ, nông, công, thương.
 
Sau các nghi lễ để 'thần linh chứng giám, cụ chủ lễ - một cao niên uy tín trong làng -  thận trọng đem
hộp son chứa 'linh vật' được cất giấu trên bàn thờ xuống
Đôi vợ chồng được làng cử làm lễ mật đang sửa soạn áo quần cho nghi lễ 
Trò Trám kéo về Tứ Xã du khách thập phương chính bởi cái nghi lễ "tế nhị", mô tả cảnh giao hợp hết sức phồn thực, khác hẳn tư duy phổ thông của người Việt. Đúng 12 giờ đêm, đèn đuốc tắt phụt, mọi người nín thở, vị trưởng lão cẩn trọng mở chiếc hòm thiêng, mở các lớp khăn điều lấy ra bộ dùi gỗ tả thực hình dương vật sơn son (Nõ) với chiếc mảng gỗ đỏ tạo hình âm vật (Nường), kính cẩn trao Nõ cho người nam ở trần chít khăn và Nường cho người nữ yếm thắm. Khẩu lệnh  “Linh tinh tình… Phộc” lặp lại 3 lần, sau mỗi lần, trong bóng tối, người nam dùng Nõ đâm “phộc” vào Nường. Nếu cả ba lần Nõ đâm trúng Nường thì năm đó thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu… Mỗi lần Nõ đâm trúng Nường, chiêng trống nổi lên, dân làng đứng quanh miếu reo hò vui vẻ.
 
Cận cảnh sinh thực Nõ, Nường 
"phộc!"  - tiếng va vào nhau của cặp sinh khí được mọi người hò reo tán thưởng
"Tình phộc" xưa diễn ra trong bóng tối của Lễ Mật, nay dưới ánh sáng flash của rừng ống kính báo chí và những kẻ tò mò, như chúng tôi chẳng hạn, âu cũng khó mà tránh. Sau màn “Linh tinh tình… Phộc” này, đến màn “Tháo khoán”, trai gái và dân làng đổ ra khu vườn đằng sau miếu thờ thoải mái ghẹo nhau, “tự do yêu đương”, thỏa sức làm “chuyện trai gái” nếu muốn. Theo lệ làng, sau đêm “Tháo khoán”, những đôi trai gái nghèo chỉ cần đem cơi trầu trình với các cụ là có thể về ở với nhau làm vợ chồng. Nếu 9 tháng 10 ngày sau sinh con, đứa trẻ sinh ra từ đêm "tháo khoán" ấy được coi là “trời ban”, không những không bị chê cười mà được xem như điềm may và được cả làng cùng nhau nuôi dưỡng.
 
Sau nghi lễ, 'linh vật' lại được cất giữ trong hòm son, còn dân làng thì "tháo khoán" 
Đương nhiên đó là cái chuyện ngày xưa, nó khác với bây giờ bởi những vấn đề sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cần được kiểm soát hơn cho phù hợp tiến trình phát triển của kinh tế xã hội. Trai gái trong cuộc sống cũng đã có nhiều điều kiện gặp gỡ, tình tự hơn. Vì vậy tục “tháo khoán” gần như không còn nhu cầu kéo dài, chỉ là hò reo vui vẻ, nam nữ trả chiếu ngoài sân miếu ăn lộc thờ và nói chuyện với nhau. Tuy nhiên tín ngưỡng phồn thực, thờ 2 sinh thực cơ quan sinh sản, hoạt động tính giao vẫn được tôn vinh và trở thành linh thiêng, chứa đựng ý niệm tốt đẹp, nguyện vọng tha thiết cầu mong sự phồn vinh phát triển mùa màng, muôn loài và con người của cư dân nông nghiệp. Thế mới biết, hóa ra ông cha ta vẫn có cái nhìn với những lẽ tự nhiên hết sức chân tình và tân tiến lắm chứ.
Giêng hai đã chuẩn bị sang mùa trổ nụ đơm bông, gần xa nô nức trẩy hội, người ta lại háo hức đón chờ cái lễ Đụ Đị như một cách tụng ca tình yêu, lứa đôi, âm dương hòa thuận sinh sôi trong hơi Xuân tràn đầy trời đất.
C.M.T.G (Depplus.vn/MASK)
Ảnh: Internet

Về Chu-ru xem gái...bắt chồng!

Depplus.vn -
Nằm ở Vĩ độ thấp hơn nhưng Tây Nguyên tháng Giêng vẫn hanh hao gió lạnh, những cơn mưa phùn bất chợt rắc đều suốt chiều dài con ngõ nhỏ khiến những rặng dã quỳ muộn màng khắp nơi bừng thức một màu vàng rực như níu kéo, mời gọi. Với bà con trên cao nguyên đất đỏ, ngày xuân - ngày những "con ong làm mật" gõ cửa cũng đồng nghĩa với niềm vui nhân đôi ùa tới từng ngõ xóm, buôn làng. Lâng lâng bên những ché rượu cần, khắp nơi rộn ràng mùa cưới - mùa bắt chồng.
 Srí và câu chuyện về ước hiệu của tình yêu

Trong tục lệ của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, tín vật mang tính linh thiêng nhất của vợ chồng là cặp nhẫn cưới. Người Churu gọi “srí”(nhẫn mái) có nghĩa là chiếc nhẫn dành cho nữ giới và sră là chiếc nhẫn dành cho nam giới (nhẫn trống). Đối với gái trai Churu sinh sống trong các plêi dọc triền thung lũng phì nhiêu bên dòng Đa Nhim, chiếc nhẫn bạc họ được sở hữu không chỉ là đồ trang sức, là của hồi môn quý giá mà còn là một tín vật thiêng liêng trong hôn ước của ngày đôi lứa nên duyên cầm sắt.

 
 Đồ nghề làm nhẫn

Đến thời điểm này ở Lâm Đồng chỉ còn duy nhất một nghệ nhân làm được “nhẫn bắt chồng”, đó là Ya Tuất ở Đơn Dương. Hơn 20 năm nay, anh vẫn miệt mài làm ra hàng triệu chiếc nhẫn. Làm nhẫn tuy không đòi hỏi kỹ thuật cao nhưng phải là người thực sự có năng khiếu. Sinh thời cha anh đã miệt mài làm nhưng không thành công, chỉ có Ya Tuất may mắn học làm được từ sự chỉ dạy của cậu là Ya Grang. Anh cho hay: “Người Kinh thường rộn ràng với lễ tình yêu, còn đồng bào mình, đặc biệt là những cô gái khi đã đến tuổi trưởng thành luôn khao khát đến mùa bắt chồng để được đeo Srí vào tay người mình hết lòng yêu và nhớ… Nhiều cô gái mang chiếc nhẫn về ôm chặt vào ngực thổn thức cả ngày trời trước khi đi đeo cho người mình yêu." Có lẽ vì vậy anh dốc lòng với nghề dù là truyền nhân cuối cùng.

 
Nghệ nhân Ya Tuất  đang đúc nhẫn

Để cho ra đời một cặp nhẫn hoàn hảo phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ: Lấy sáp ong nấu chảy, trộn phân trâu rồi dùng que gỗ tròn bằng ngón tay nhúng vào, chờ khô rút que gỗ ra, sáp ong và phân trâu khô quánh thành những ống và được cắt thành khuyên nhỏ làm khuôn đúc. Bạc sau khi đun nóng sẽ đổ vào khuôn, trước sức nóng của bạc mới nấu, sáp ong và phân trâu bết chặt tạo thành một lớp men bên ngoài nhẫn. Trong quá trình đánh bóng và chạm trổ nghệ nhân dùng nước bồ kết hoặc nước lá cây Kơ -nia đun sôi để rửa và gửi gắm ước vọng về một mùa xuân vĩnh hằng.


Kèm với sự cầu kì của việc làm nhẫn là những nguyên tắc "kì lạ" mà Ya Tuất tự tuân thủ, được xem như bí quyết riêng. Ví dụ như dung dịch phân trâu sử dụng để tạo khuôn nhẫn phải là của trâu đực ba tuổi trộn với đất (đất đó lấy từ một nơi bí mật trong rừng chỉ anh biết) để cho ra một hỗn hợp không bị cháy ở nhiệt độ nóng chảy của bạc. Củi đốt là một loại cây rừng có tên kasiu, nếu đốt bằng các loại khác thì nhẫn bị nứt, gãy. Đêm trước khi bắt tay vào đúc nhẫn, người thợ phải tắm rửa sạch sẽ bằng nước một loại lá thơm hái trong rừng, đồng thời phải cách ly, không được gần gũi vợ. Tuy người đàn bà đóng vai trò mang nhẫn đi hỏi cưới và đeo nhẫn cho người đàn ông nhưng lại không được tham gia làm nhẫn vì người ta cho rằng sức mạnh gắn kết từ người đàn ông uy lực, tiềm ẩn và phóng túng hơn. Bốn giờ sáng bắt đầu nấu bạc, đúc nhẫn và tới tám giờ thì phải hoàn thành công đoạn cuối cùng, đây là "khung giờ thiêng" để lứa đôi tương hợp.

Xem ra, với tín vật mà mình tôn thờ, người Churu có cách thể hiện sự nghiêm cẩn hiếm có và thật đáng ca ngợi.

Xốn xang đêm hội bắt chồng

Đám cưới được coi là một trong những nghi lễ đời người quan trọng nhất của người Churu. Theo chế độ mẫu hệ, con cái trong dân tộc này mang họ mẹ và hôn nhân là do phái nữ chủ động trước. Khi đến tuổi trưởng thành, các cô gái thường chọn cho mình một “ý trung nhân”, tự đi đặt nhẫn bắt chồng.

 
Nghi lễ trong đám cưới 

Hôn nhân được bắt đầu bằng việc cô gái và gia đình mình chọn một đêm tốt lành sang nhà trai “chạm ngõ”. Thường thì cô không xuất hiện ngay mà tạm lánh vào nhà người quen gần nhà chàng trai nhất. Sau khi nhà gái trình bày nguyện vọng muốn kết duyên của cô gái đối với chàng trai, nếu anh ta đồng ý thì cô có mặt để tiến hành nghi lễ đeo nhẫn. Trường hợp anh ta không thích có thể tháo trả lại nhưng 7 ngày sau, cô gái chọn một đêm đẹp trời khác đến đeo nhẫn cho chàng trai. Cứ thế lặp đi, lặp lại cho tới khi nào người con trai thương và chấp nhận thì đám cưới diễn ra.

 
Đôi vợ chồng son 
 
Trước khi cưới một ngày, buôn làng tổ chức đêm hội gọi là “Đêm bắt chồng”. Trong đêm hội này, họ thề hẹn bằng cách đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào mình, như: “Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước,...”. Hôm cưới, đôi vợ chồng trẻ rút nhẫn đeo lại cho nhau. Kết thúc hôn lễ, họ về ra mắt nhà trai, có thể lưu lại ở đó vài bữa, rồi người con trai khăn gói sang ở hẳn bên gia đình vợ. Hết 7 ngày, cô gái tháo nhẫn đưa mẹ chồng cất giữ và ngược lại nhẫn chàng trai do mẹ vợ cất giữ.

Dân làng múa chiêng chúc mừng đôi vợ chồng trẻ 
 
Lễ cưới của đôi trai gái Churu là dịp vui của cả cộng đồng. Hôn nhân thủy chung một vợ, một chồng được người Churu đặc biệt coi trọng. Ly hôn xem như tội trọng khi srí, sra đã lồng ngón tay nhau...Nếu cuộc sống vợ chồng sau đó xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp, ai đề nghị ly hôn trước thì người đó phải nộp một con trâu cho người kia (thường là trâu đực). Đồng thời sau lễ bắt chồng, ai đi ngoại tình sẽ phải đền ba con trâu đực to và số trâu sẽ tăng lên nếu ngoại tình nhiều lần. Đây cũng được xem như luật tục riêng làm tăng tính gắn kết và chung thủy trong cuộc sống.

C.M.T.G (Depplus.vn/MASK)

Ảnh sưu tầm 

Tập tục kỳ lạ trên đảo Phú Quý

Chàng rể ban ngày làm việc bên gia đình mình, tối về ngủ với cô dâu. Nếu hai bên gia đình có công việc thì sang... “mượn” cô dâu, hoặc chú rể về nhà giúp vài hôm...
Huyện đảo Phú Quý, Bình Thuận có lẽ là huyện duy nhất trên đất nước ta không có đám cưới. Cụ Hai Dương (xã Đông Hải) cho biết: Hơn 80 tuổi mà tui chưa ăn đám cưới ai trên đảo bao giờ… Có lẽ tập tục này bắt nguồn từ thuở xa xưa khi những cư dân đầu tiên phát hiện ra đảo và định cư tại đây.

Đảo Phú Qúy rộng 16,4 km2, gồm 10 hòn đảo lớn nhỏ, nằm cách TP Phan Thiết 56 hải lý về phía Đông. Nhìn từ phía Bắc, đảo có hình thù như một con cá thu nổi lên giữa biển nên từ xa xưa có tên là cù lao Thu.
Hình ảnh Tập tục kỳ lạ trên đảo Phú Quý số 1
 
Huyện đảo có ba xã Ngũ Phụng, Tam Thanh và Đông Hải bao quanh còn có nhiều hòn nổi lớn, nhiều bãi biển, gành đá, vịnh hoang sơ rất đẹp. Phú Qúy là đảo tiền tiêu trên biển Đông của Bình Thuận và là trạm trung gian cận Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Tổ quốc thân yêu.

Tương truyền ngày xưa có một chiếc ghe ngư dân từ đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đánh cá trên biển, không may gặp luồng cá chuồn bơi ngược. Thế là hàng vạn, hàng triệu con cá lao lên sàn làm chìm ghe. Những ngư dân trôi dạt vào bờ rồi từ đó định cư các vùng Đông Hải, Tam Thanh.

Riêng xã Ngũ Phụng có truyền thuyết liên quan đến công chúa Chế Bàn Tranh của Chiêm Thành bị đày ra đây, ngày nay còn nhiều di tích tại Ngũ Phụng.
 
Hình ảnh Tập tục kỳ lạ trên đảo Phú Quý số 2
 
Thú vị tục nói ngược
 
Những năm trước đây, khi ghe thuyền ra đảo mỗi tuần một chuyến, đảo gần như biệt lập với đất liền. Dân trong Phan Thiết, Phan Rí gọi người ngoài đảo là dân Hòn. Tiếng nói, âm điệu rất khó nghe. Chưa nói đến vốn từ vựng sử dụng rất nhiều phương ngữ và từ cổ.

Ví dụ như: ông Trời thì đọc là “ông Blời”, ông Trăng đọc là “ông Klăng”. Các âm “a” biến thành “e” như người dân miệt Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên. Nhiều từ địa phương nghe lần đầu không những không hiểu gì mà con giật thót người như: Mời thầy cô giáo đến nhà ăn giỗ. Học sinh trên đảo sẽ nói : Nhà em có kỵ, ba mẹ em mời cô (thầy) đến “ăn chực”. Hoặc như: cô giáo có khuôn mặt rất hiền lành, phúc hậu…Học sinh trên đảo sẽ mô tả như sau: “Em rất thương cô giáo vì cô có khuôn mặt rất…dữ” (dữ = hiền lành).
 
Hình ảnh Tập tục kỳ lạ trên đảo Phú Quý số 3
 
Có thể do cuộc sống biệt lập, thường xuyên đối mặt với thiên tai, khắc nghiệt và cực khổ mưu sinh trên biển nên các tập tục truyền thống không được chú trọng và không lưu truyền. Các thế hệ cư dân từ thế kỷ 19 đến nay, đã làm đơn giản hóa các nghi lễ truyền thống và làm mai một dần một số tín ngưỡng, tập tục của người Việt.
 
Đám cưới có cũng như không
 
Tục cưới hỏi trên đảo Phú Quý rất đơn giản gần như không ai để ý đến. Trước đây trên đảo không có đường nhựa, không có xe ô tô, gắn máy nên khái niệm “lên xe hoa” càng không thể có. Ngư dân chỉ biết thuyền ghe, thúng và bạn ghe - những người làm thuê.
 
Buổi chiều, tất cả đàn ông, trẻ con trên 10 tuổi đều ra biển đánh bắt cá, câu mực. Trên bờ chỉ còn lại đàn bà, người già và trẻ nhỏ. Khái niệm về ngày tốt, ngày xấu cũng không có. Biển không bị động, đánh bắt nhiều cá mực, an toàn thì đó là ngày tốt.

Những chàng trai ngư dân khỏe mạnh khi đến tuổi trưởng thành, sẽ được các cô gái quan tâm đến với những thành tích như: lặn sâu, lâu nhất, đánh cá giỏi, câu mực nhiều, hoặc giả bị bão tố vẫn sống trên biển nhiều ngày…thành tích nổi trội này là tâm điểm để các cô gái biển quan tâm hơn là con ông chủ ghe, hay một gia đình giàu có sẵn.
 
Vì một lẽ, nghề biển là nghề bạc, của cải trời đất và biển cả hào phóng ban tặng rất nhiều, vô số kể. Nhưng chỉ một cơn thịnh nộ, giận dữ cuồng phong, biển sẽ lấy lại của con người tất cả, kể cả sinh mạng. Câu nói “ dân ba đời ghe” hàm ý về sự khắc nghiệt, luật nhân quả của biển khơi, của trời đất là vậy.
 
Hình ảnh Tập tục kỳ lạ trên đảo Phú Quý số 4
 
Nếu để ý, nhớ nhung một cô gái, không cần mai mối dạm ngõ như các nơi, chàng trai trình bày với cha mẹ, người thân hoặc với chủ ghe nếu không còn người thân. Nhân dịp nhà bên cô gái có tiệc tùng, đám giỗ nhà trai sang “đánh tiếng” . Tục lệ ở trên đảo gọi là “nói chừng”.
 
Nghĩa là đề cập việc con cái muốn thành vợ chồng. Việc này không cần bất cứ lễ vật hay nghi lễ gì cả. Cộng đồng cư dân trên đảo không đông, không bị chi phối bởi tác động từ bên ngoài nên các gia đình đều rất biết nhau, quen nhau như trong đại gia đình. Con ai, nhà ai, ghe ai tất cả đều rành rẽ.

Nếu nhà cô gái đồng ý, thì chính thức ngay sau đó, chàng trai đã có thể đến nhà gái để ngủ. Không cần nghi lễ động phòng hay tuần trăng mật, những cặp uyên ương trên xây tổ rất tự nhiên, rất đơn giản như biển và thuyền ghe không thể thiếu nhau. Cô gái cũng chính thức trở thành vợ anh chàng kia mà không cần tốn kém, thách cưới gì cả. Rất ít có đám từ chối lời “nói chừng” của nhà trai. Vì các điều kiện cần và đủ đã hội tụ, nên việc “nói chừng” là cái cớ để xác lập hôn nhân.

Thông thường nhà có con gái bao giờ cũng dành buồng riêng. Nếu gia đình khá giả có thể cho luôn căn nhà riêng cho hai bạn trẻ xây tổ ấm. Chàng rể ban ngày làm việc bên gia đình mình, tối về ngủ với cô dâu. Nếu hai bên gia đình có công việc, hoặc giỗ kỵ, dựng nhà mới…thì sang “mượn” cô dâu, hoặc chú rễ về nhà giúp vài hôm tùy theo công việc.

Thời gian “ngủ bên nhà vợ” nếu xảy ra những mâu thuẫn, hay phát hiện sự rạn nứt, bất ổn nào đó trong hạnh phúc, tình yêu chàng trai có thể “chia tay” mà không cần phải hòa giải hoặc ly hôn. Cũng không hiếm những trường hợp sau thời gian chung sống rất ngắn ngủi, các cô vợ “sa thải” chồng vì những lý do không thể chung sống lâu dài. Bao giờ thì cô dâu về sống bên nhà chồng?
 
Câu trả lời: bao giờ cũng được nhưng có điều kiện. Nhà chồng cảm thấy cần có con dâu chung sống, phải được con dâu đồng thuận thì chọn dịp nhà bên gái có giỗ kỵ, tiệc vui sang trình bày và xin đưa con dâu về sống.
 
Hình ảnh Tập tục kỳ lạ trên đảo Phú Quý số 5
Bãi biển hoang sơ
 
Đa phần người dân trên đảo không chọn cách này vì sống bên chồng hay bên nhà gái thì vẫn “ngày việc ai người ấy làm” chỉ có tối về ngủ chung. Nếu ra riêng thì miễn bàn.

Ngày trước, chỉ khi nào cô dâu sinh ra con trai, gia đình bên chồng mới tổ chức bữa tiệc ăn mừng, sang nhà gái xin đón con dâu về sống bên nhà chồng. Nếu cô dâu chỉ sinh con gái thì bên nhà trai ít khi đón về. Quan niệm của dân biển: sinh càng nhiều con trai càng tốt. Con trai chính là lao động trên biển và cũng là người mang lại của cải, tài sản bảo đảm cuộc sống.

Ảnh hưởng của quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (nam trọng, nữ khinh) đã bám sâu gốc rễ vào các thế hệ tuy không bộc lộ rõ nét, nhưng ngấm ngầm tư tưởng phong kiến trong việc chọn dâu và cháu nội nối dõi tông đường. Chính sự hà khắc của quan niệm này mà nhiều lứa đôi dang dở, để lại cho hậu thế những ngùi ngẫm khôn cùng như chuyện tình yêu của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu với sự ra đời bản Dạ cổ hoài lang.

Ông Dương Minh, 70 tuổi, ở xã Ngũ Phụng, có 10 người con (7 trai, 3 gái) tỏ ra lạ lẫm: “Dòng họ tôi ở đây mấy đời rồi, nhưng tôi chưa dự qua đám cưới nào cả. 10 đứa con có vợ, có chồng hết rồi, nhưng chẳng có đứa nào tổ chức đám cưới”.
 
Hình ảnh Tập tục kỳ lạ trên đảo Phú Quý số 6
 
Người dân trên đảo lạ lẫm và không hiểu nổi: Đám tiệc cưới tại sao có khách dự. Họ quan niệm đó là chuyện của hai bên gia đình thôi. Vì vậy mà nhiều đời nay dân trên đảo không quan tâm đến hộ khẩu, chứng minh nhân dân, giấy đăng ký kết hôn.

Anh Nguyễn Văn Nhị - Một anh bạn cán bộ Công an Bình Thuận cho biết: năm 2010, đơn vị anh tập trung nhiều tháng trời ở đảo Phú Qúy để làm giấy CMND, hộ khẩu cho dân, hướng dẫn pháp luật… nhiều câu chuyện cười ra nước mắt mà chúng tôi sẽ kể vào dịp khác. Lấy chồng sớm, đẻ nhiều, thất học mù chữ, ít hiểu biết pháp luật là vấn nạn ngày nay vẫn còn khá phổ biến trên đảo.


Từ năm 2000 trở lại đây, do việc tăng cường cán bộ, giáo viên từ đất liền ra đảo nên trên đảo xuất hiện vài tiệm thuê đồ cưới và chụp ảnh. Nhưng đám cưới của “công dân nhập cư” cũng chỉ là hình thức để chụp ảnh, quay phim…lưu niệm. Tiệc cưới cũng chỉ là bánh kẹo, nước trà, nước ngọt như thời bao cấp. Vì nếu tổ chức rình rang, có mời dân trên đảo cũng không ai dự vì xa lạ. Nhờ vậy mà phong trào “tiết kiệm” tiệc tùng cưới hỏi trên đảo Phú Qúy không cần phát động cũng trở thành điển hình, gương mẫu.

Trên đất Việt, vẫn còn hòn đảo ngọc Phú Qúy là nơi không tổ chức đám cưới bao giờ, nhưng các cặp vợ chồng trẻ ở đây đều sống rất hạnh phúc, cho đến khi răng long, đầu bạc.
Nguồn : carviet.com

Kỳ lạ tục lá cây giữ cửa khiến kẻ lạ mặt không dám xâm phạm

Một chiếc lá rừng bất kỳ, sau khi được cúng và làm phép sẽ được người H'rê đặt trước cửa, thay chủ nhân "giữ nhà", hoặc thông báo với mọi người rằng gia đình đang có việc trọng đại, "kẻ lạ mặt" không được xâm phạm vào.
Với quan niệm, chiếc lá là đại diện cho thần rừng, là hiện thân của sức mạnh, nên từ bao đời nay, đồng bào H'rê vẫn duy trì tục lệ này để... giữ yên gia đình, xóm làng.
Thấy lá như thấy chủ nhà!
Chúng tôi đến thôn Mô Lang (xã Ba Tô, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi) khi trời đã ngả bóng chiều. Đang vào mùa gặt nên người dân hầu hết vẫn còn ở ngoài đồng. Con đường dẫn vào thôn vắng ngắt. Thỉnh thoảng chỉ thấy bóng vài đứa con nít chạy loanh quanh trước các căn nhà sàn. Anh Phạm Văn Ách (Trưởng Công an xã Ba Tô) bảo tôi đứng chờ bên ngoài, rồi anh bước lên nhà sàn, cất tiếng xin phép chủ nhà. Anh giải thích: "Nhà này có cắm lá trước nhà, nhưng trước khi đến đây mình đã gọi điện thoại xin phép rồi nên có thể vào được".
Tiếp chúng tôi là già Phạm Văn Xỉa (66 tuổi, trú thôn Mô Lang, xã Ba Tô). Già nhiệt tình giải thích: "Từ xưa đến nay, người H'rê mình luôn quan niệm chiếc lá là đại diện của thần rừng, của giàng nên có sức mạnh vô cùng to lớn và có thể bảo vệ được cho dân mình khỏi những người xấu và tránh được con ma. Vì vậy, hễ chủ nhà đi vắng là họ sẽ lấy một lá cây hái ở rừng về cắm trước cửa để giữ nhà". Theo đó, bất kỳ người lạ nào đi ngang thấy chiếc lá cũng sẽ như thấy chủ đang có ở nhà mà không được xâm phạm vào, kể cả là họ hàng thân thích. Gia đình khi đi vắng cũng không cần khóa cửa, mà chẳng ai dám bén mảng.
Hình ảnh Kỳ lạ tục lá cây giữ cửa khiến kẻ lạ mặt không dám xâm phạm số 1
Già làng Phạm Văn Xỉa giải thích về tục rước “thần lá” giữ nhà của đồng bào H'rê.
Sau khi nghe già Xỉa giải thích, chúng tôi hiểu lý do tại sao mặc dù nhiều gia đình ở đây đi gặt lúa ngoài đồng nhưng nhà của họ vẫn mở cửa. Nói về nghi thức "rước" thần lá về giúp gia đình giữ cửa, già Xỉa cho hay, trước ngày đi vắng, chủ nhà sẽ phải tìm cho được hai quả trứng gà ung để làm phép. Đồng bào H'rê quan niệm rằng, trứng gà ung là thứ không mang lại sự sống nên là "khắc tinh" của ma quỷ và đồng thời sẽ giữ chân được "thần lá" ở lâu với gia đình. Đúng 12h đêm, thầy cúng sẽ đặt trứng lên mâm và xin "thỉnh" thần lá về. Sáng hôm sau, gia chủ phải dậy thật sớm, lên ngọn núi gần nhà nhất để hái một cành lá bất kỳ. Tuy nhiên, đó phải là cành lá không bị héo úa hay sâu bệnh.
Sau đó, chủ nhà sẽ để cành lá ở trên hai quả trứng ung rồi khấn một lần nữa. Xong xuôi, họ sẽ đem "thần lá" ra cắm ở trước cổng và cứ vậy đi làm mà không cần đóng hay khóa cửa. Già Phạm Văn Xỉa còn tiết lộ thêm, việc đặt nhiều chiếc lá trước nhà còn mang ý nghĩa thông báo cho dân làng biết gia đình đang có việc quan trọng như đau ốm, sinh đẻ hay ma chay... Nói rồi già Xỉa chỉ tay về phía cổng nhà mình, già cho biết: "Như trường hợp để lá giữ nhà như thế này là biết không được vào. Nhưng khi cán bộ Ách, Trưởng công an xã điện thoại xuống xin phép và mình đồng ý cho vào thì sẽ không bị quở phạt".
Hình ảnh Kỳ lạ tục lá cây giữ cửa khiến kẻ lạ mặt không dám xâm phạm số 2
Cán bộ Phạm Văn Ênh sau khi xin phép chủ nhà mới được phép vào nhà.
Rồi già Xỉa lại chỉ tay về phía ngôi nhà sàn ngay đối diện: "Còn với trường hợp này, gia chủ cắm lá quanh nhà là để thông báo với dân làng trong nhà có người đang ốm, nên dù có xin phép thì cũng không được chủ nhà cho vào. Vì thế nếu cố ý xâm phạm vào khu vực đó thì kẻ đó sẽ bị gia chủ phạt nặng. Và khi trở về nhà, có kẻ còn lên cơn điên loạn hoặc đau ốm mà không rõ lý do".
"Thần lá" giữ bình yên cho bản làng
Trong cuộc sống hằng ngày, chiếc lá rừng không chỉ dùng để "giữ nhà" mà những đồng bào H'rê nơi đây còn xem nó như vật giữ bình yên cho bản làng khỏi những "thế lực xấu" như ma quỷ và người lạ. Sau khi "thần lá" đi khỏi (tức cành lá bị héo), chủ nhà không được vứt lá lung tung mà phải đem vào nhà để lại trên giàn bếp cho đến khi lá... tự biến mất. Chính vì thế, đến nhà sàn của đồng bào H'rê, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy từng chùm lá cây khô treo trong gian bếp gia đình. Hỏi ra mới biết, người H'rê còn tin rằng, nhà nào có lá trên giàn bếp sẽ được thần linh phù hộ mang mùa màng no đủ, con cái khỏe mạnh và có cuộc sống bình yên.
Hơn thế, vào mỗi dịp có liên hoan, cúng bái hay họp làng, đồng bào H'rê cũng "rước" thần lá về "dự"... chung vui và cũng là để canh giữ giúp làng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, trưởng làng hoặc già làng sẽ là người đứng ra cúng và chọn những thanh niên trai tráng khỏe mạnh để lên rừng "hái lá". Già làng vẫn sẽ "rước" thần lá bằng hai quả trứng gà ung và lẩm nhẩm trong miệng những bài cúng làm phép cho từng người dân trong làng. Đến sáng sớm hôm sau, khi lễ "rước thần lá" hoàn tất, tốp thanh niên được chọn sẽ lên rừng chặt những cây tre to nhất đem về làng. Sau đó, tre được chôn quanh làng tương tự một "hàng rào" chắc chắn. Đến lúc này thì "việc làng" mới bắt đầu được diễn ra.
Từ lúc "thần lá" được dựng lên, người lạ không được lui tới làng nếu chưa được sự đồng ý của trưởng bản hoặc già làng. Người làng cũng không được phép ra khỏi hàng rào tre. Nếu phát hiện có kẻ cố tình xâm phạm thì kẻ đó sẽ "mang tội" với cả làng và buộc phải góp rượu, thịt để "xóa phép" và tránh được sự quở phạt của "thần lá". Ông Phạm Văn Eo (trú thôn Mô Lang) cho biết: "Nhờ có tục lệ này mà bao năm nay, cuộc sống bà con trong làng đều diễn ra tốt đẹp mà không hề xảy ra mâu thuẫn, gây gổ đánh nhau giữa trai làng mình và trai làng bên. Theo đó, an ninh trật tự cũng được đảm bảo. Còn nếu có trường hợp "kẻ lạ mặt" xâm phạm vào làng thì đều được giải quyết ổn thỏa, vui vẻ".
Trò chuyện với bà Nóc (50 tuổi, trú thôn Mô Lang), bà cho biết: "Khi "ngài" lá được rước về, mọi người trong làng mới yên tâm ăn uống rượu thịt. Rất ít khi có trường hợp kẻ lạ xâm nhập khi làng có việc bởi ai cũng sợ thần linh quở phạt. Tuy nhiên, nếu có thì người đó phải góp một con heo, một ché rượu cần để chung vui với làng mình, mời thầy cúng và cũng là để dân làng "xóa tội". Từ đó, người lạ mặt sẽ trở thành thân thiết với dân làng và được phép ở lại chung vui với cả làng".
Khi được hỏi về tục lệ này, nhiều người dân nơi đây, thậm chí là bậc cao niên như già Xỉa cũng không rõ thần lá có nguồn gốc từ bao giờ. Họ cũng không lý giải được tại sao lại dùng lá cây để giữ nhà chứ không phải là những vật dụng khác. Tuy nhiên, từ bao đời nay, đồng bào H'rê sinh sống ở miền sơn cước này không ai dám xâm phạm vào ngôi nhà, ngôi làng có đặt lá cây. Đối với họ, lá rừng luôn là thứ mang lại sức mạnh và bảo vệ cuộc sống của họ trong mọi hoàn cảnh.
Tập tục đã dần bị mai một
"Hiện nay, tập tục nhờ chiếc lá để giữ nhà, làng bản của đồng bào H'rê đã bị mai một đi nhiều. Chỉ một số thôn, bản vùng sâu vùng xa là còn lưu giữ được. Đây là phong tục truyền thống của đồng bào H'rê có từ rất lâu đời, trong đó nêu cao được tầm quan trọng của cây rừng và giúp tình hình an ninh trật tự của bản làng được yên bình, vì vậy cần được trân trọng và gìn giữ theo hướng tích cực", ông Phạm Văn Ênh, cán bộ phòng Văn hóa - Xã hội xã Ba Tô cho biết.


Theo Nguyễn Hưng/Đời sống và Pháp luật

Độc đáo món Pate của người Trà Vinh

(Baodautu.vn) Tỉnh Trà Vinh, một tỉnh miền sông nước Tây Nam Bộ, không chỉ nổi tiếng với cá và lúa, mà nơi đây có nhiều món đặc sản. Một trong những món đặc sản độc đáo là Patê.

Món Pate Trà Vinh khác hẳn Pate thông thường
Món Patê xuất xứ từ Pháp. Thông thường khi nhắc đến món này, người ta thường nghĩ  ngay đến một loại thực phẩm có dạng nhuyễn, thường là gan xay thêm ruột bánh mỳ nấu lên. Nhưng món Patê của người Trà Vinh khác hẳn, chẳng có chút liên quan nào từ màu sắc, mùi vị và kiểu thưởng thức với loại patê vừa kể trên.
Người Trà Vinh chế biến món Patê bằng cách đem thịt nạc heo cắt nhỏ, da heo nhổ lông cho thật sạch rồi luộc chín, xắt thật nhuyễn, chia theo tỉ lệ thịt và da, sau đó nêm gia vị như: đường, muối, bột ngọt, hành, tỏi, tiêu hột… tạo thành một hỗn hợp theo bí quyết riêng. Đem hỗn hợp này dồn vào bong bóng heo đã được làm sạch, hoặc gói vào trong lá chuối xiêm, lá sen, rồi đem hấp cách thủy.
Cách làm đơn giản, nguyên liệu dễ tìm nhưng món ăn này đã trở nên thơm ngon nổi tiếng chính là nằm trong bí quyết tẩm ướp gia vị, tỉ lệ phân chia giữa thịt và da, là sự chăm chỉ và khéo tay của người phụ nữ miệt vườn Trà Vinh, nhất là công đoạn sơ chế da heo.
Pate Trà Vinh được tạo hình cách điệu rất đẹp mắt
Patê Trà Vinh có 2 loại, 1 loại có hình dáng  tròn tự nhiên của hình dáng bong bóng heo, loại còn lại hình ống dạng như đòn bánh tét. Về cơ bản thì hương vị và hình thức của món Patê kiểu Trà Vinh hơi giống loại thịt nguội dăm bông của người phương Tây nhưng thành phần nguyên liệu của Patê Trà Vinh có phong phú hơn và cách nêm nếm tẩm ướp cũng đậm đà hơn theo khẩu vị người Việt.
Thưởng thức món patê Trà Vinh bằng cách cắt lát ăn với bánh mì, hoặc cơm, hoặc để ăn chơi, hoặc để nhâm nhi đưa cay cùng bạn bè cũng đều ngon và tiện lợi. Nếu để đông lạnh có thể giữ lâu trong một tháng mà không thay đổi chất lượng và mùi vị.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Chuyện ít biết về nơi có nhiều đình, chùa nhất Việt Nam

Từ cửa biển Cần Giờ, xuôi theo sông Nhà Bè một đoạn dòng sông này chia làm hai nhánh, khiến người ta chợt nhớ câu ca dao của thời cha ông đi mở cõi: “Nhà Bè nước chảy chia hai/Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”.
Từ cái ngã ba sông ấy, ai muốn về Đồng Nai thì rẽ phải, ai về Gia Định thì rẽ trái. Đồng Nai khi ấy là vùng đất mới của xứ Đàng Trong, trong tiến trình mở cõi, Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt đại bản doanh hành chính - “kinh đô” của xứ Đàng Trong. Trong suốt gần một thế kỷ sau đó, Cù Lao Phố trở thành thương cảng sầm uất nhất Phương Nam và cũng là nơi mà ngày nay được xem là có nhiều đình, chùa nhất Việt Nam?

Từ thác Trị An chảy ra Biển Đông, dòng chảy sông Đồng Nai tạo ra nhiều cù lao lớn nhỏ. Trong đó ở địa phận TP. Biên Hòa, dòng chảy bỗng chia làm hai nhánh ôm trọn một dải đất nằm giữa sông có hình dáng chiếc chuông chùa treo nghiên chính là Cù Lao Phố. Từ nhiều thế kỷ trước, địa danh này còn được biết đến với nhiều tên gọi: Nông Nại Đại Phố, Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu.

Chuyen it biet ve noi co nhieu dinh chua nhat Viet Nam
Cầu Ghềnh bắc qua sông Đồng Nai, nối liền với Cù Lao phố
Theo Địa chí Đồng Nai, Cù Lao Phố là bãi bồi phù sa nằm giữa dòng sông Đồng Nai hiền hòa, thơ mộng. Nơi đây có con đường sắt xuyên Việt và Quốc lộ 1 băng qua mỏm phía Tây Cù Lao bởi 2 chiếc cầu Rạch Cát và cầu Ghềnh xây dựng năm 1903, nối đôi bờ sông Đồng Nai giúp cho người dân Cù Lao “giao lưu” với thế giới bên ngoài. Từ nhiều năm qua, nơi đây cũng đã được qui hoạch thành khu du lịch sinh thái của tỉnh.

Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, năm 1679, Tổng binh Trần Thượng Xuyên, một tướng trung thành với triều Minh, không chấp nhận sống dưới triều Thanh đã làm một cuộc đào thoát từ Quảng Đông, dẫn theo đoàn tùy tùng 3.000 người cùng với 50 chiếc thuyền xin chúa Nguyễn cho tị nạn. Được chúa Nguyễn Phúc Tần đồng ý và cho họ vào làm ăn sinh sống ở Bàn Lân, xứ sở này lúc bấy giờ thuộc đất Đồng Nai.

Sau khi vào đến nơi, nhóm người Trần Thượng Xuyên tiến hành thành lập xã Thanh Hà, kéo dài từ Bàn Lân đến Bến Gỗ, trong đó Cù Lao Phố được xem là trung tâm. Cùng với những lưu dân người Việt đã định cư trước đó ra sức khẩn hoang, lập chợ, xây dựng phố xá, thương cảng. Không lâu sau, Cù Lao Phố trở thành thương cảng sầm uất nhất của Phương Nam trong suốt gần một thế kỷ (1679 – 1776). Sự danh tiếng của thương cảng Nông Nại Đại Phố thu hút các thương thuyền của những nhà buôn lớn trên thế giới từ Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai… vào ra tấp nập.

Tản mạn về những ngôi chùa mang nhiều cái tên 1 

Cảnh mua bán nhộn nhịp cũng được tác giả Trịnh Hoài Đức mô tả: Các thuyền ngoại quốc tới nơi này bỏ neo, mướn nhà ở, rồi kê khai các số hàng trong chuyến ấy cho các hiệu buôn trên đất liền biết. Các hiệu buôn này định giá hàng, tốt lẫn xấu, rồi bao mua tất cả, không để một món hàng nào ứ đọng. Đến ngày trở buồm về, gọi là “hồi đường”, chủ thuyền cần mua món hàng gì, cũng phải làm sẵn hóa đơn đặt hàng trước nhờ mua dùm. Như thế khách, chủ điều được tiện lợi và sổ sách phân minh. Khách chỉ việc đàn hát vui chơi, đã có nước ngọt đầy đủ, lại khỏi lo ván thuyền bị hà ăn, khi về lại chở đầy hàng rất thuận lợi…

Nhưng tiếc thay, cuộc giao tranh được cho là khốc liệt của nhà Tây Sơn với Nguyễn Ánh vào năm 1776, đã biến nơi này thành xứ sở hoang tàn, đổ nát. Các thương gia phần lớn là Hoa Kiều rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn sinh sống và lập ra những cơ sở thương mại khác. Kể từ đây, thương cảng Nông Nại Đại Phố mất dần vai trò trung tâm thương mại của xứ Đàng Trong, thay vào đó là vùng Chợ Lớn và Mỹ Tho.

Chuyen it biet ve noi co nhieu dinh chua nhat Viet Nam
Chùa Ông hay còn gọi là Thất phủ cổ miếu ở Cù Lao phố, một ngôi chùa Hoa sớm nhất ở Nam Bộ
Theo BQL Di tích Đồng Nai, năm 1836, địa bạ xứ Nam Kỳ được lập, lúc bấy Cù Lao Phố có 13 thôn, ước độ 2.000 dân. Đến năm 1867, thống đốc Nam kỳ chia Biên Hòa thành 5 hạt tham biện, Cù Lao Phố thuộc tổng Phước Vinh Thượng, huyện Phước Chánh, hạt tham biện Biên Hòa.

Đầu năm 1879, Pháp tiến hành tổ chức lại các làng xã. Cù Lao Phố từ 13 thôn gom lại thành 3 làng: Nhứt Hòa, Nhị Hòa và Tam Hòa. Đến khoảng 1928, ba làng trên được hợp nhất thành một làng là Hiệp Hòa, thuộc Tổng Phước Vinh Thượng, nhưng là quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa.

Sau năm 1975, Cù Lao Phố thuộc xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Cù Lao Phố có diện tích 6, 6 km2, dân số vào khoảng 12.400 người. Với diện tích và dân số hiện thời chỉ tương đương với một xã/phường trung bình của tỉnh Đồng Nai. Song, nơi đây có có mật độ đình, chùa đậm đặc và được cho là xã có số lượng đình, chùa nhiều nhất Việt Nam: 11 ngôi đình, 6 ngôi chùa, 3 tịnh xá, 3 ngôi miếu và một thánh thất cao đài. Trong đó có 3 di tích được công nhận là di tích cấp Quốc gia.

Lý giải về sự khác biệt này, các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, trong công cuộc mở cõi Phương Nam, với tài kinh lược của Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh ông đã nhìn thấy vùng đất Cù Lao Phố trù phú nên cùng với dân binh khai hoang, lập ấp từ rất sớm. Do vậy, hầu hết các đình, chùa ở đây có từ thời khai hoang mở cõi, tức vào thời kỳ đầu khi mới thành lập thôn, làng.

Từ nhiều năm qua, Cù Lao phố là một trong những điểm đến thu hút du khách trên tuyến du lịch sông Đồng Nai. Điều khiến du khách đến đây ngạc nhiên không phải là những câu chuyện huyền tích về những ngôi chùa cổ trên đất Cù Lao. Cái chính là thái độ ứng xử và lựa chọn của người dân đối với di tích.

Tại đình Bình Quan, ngoài thờ thần Thành hoàng, người ta còn thờ cúng liệt sĩ, những người tham gia chiến đấu bảo vệ cho vùng đất cù lao trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đó mới chính là sự cảm nhận các giá trị thật sự về tính cách lịch sử đặc thù, về văn hóa, phong cách sinh hoạt hồn nhiên và về nét sinh thái đang tràn ngập ở nơi đây.


 VietBao.vn (Theo Nhịp Sống Thời Đại >>>)
------------
Xem thêm: Chuyện ít biết về nơi có nhiều đình, chùa nhất Việt Nam, http://vietbao.vn/Du-lich/Chuyen-it-biet-ve-noi-co-nhieu-dinh-chua-nhat-Viet-Nam/2147533595/255/
Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn